George II của Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
George II
Georg II. August
George II by Thomas Hudson.jpg
Chân dung vua Vua George II, họa phẩm của Thomas Hudson, 1744.
Vua nước Vương quốc Anh, Vua xứ Ireland, Tuyển hầu tước xứ Brunswick-Lüneburg, Công tước xứ BremenVương công xứ Verden
Tại vị 11 tháng 6 năm 172725 tháng 10 năm 1760
Tiền nhiệm George I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm George III Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Hoàng hậu
Hậu duệ
Tên đầy đủ George Augustus
Tiếng Đức: Georg August
Hoàng tộc Nhà Hanover
Hoàng gia ca God Save the King
Thân phụ George I của Anh Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Sophia Dorothea xứ Celle
Sinh 10 tháng 11, 1683(1683-11-10)
Cung điện Herrenhause, Hanover
Mất 25 tháng 10, 1760 (76 tuổi)
Cung điện Kesington, Luân Đôn
An táng 11 tháng 11 năm 1760Westminster Abbey, Luân Đôn

George II của Vương quốc Liên hiệp Anh (George Augustus, tiếng Đức: Georg II. August, 30 tháng 10 hoặc 9 tháng 11 năm 1683 - 25 tháng 10 năm 1760) là nhà vua của Liên hiệp AnhIcreland, Công tước xứ Brunswick-Lüneburg (Hanover), và Hoàng thân - Tuyển hầu của Thánh chế La Mã từ ngày 11 tháng 6 năm 1727 đến khi ông qua đời.

George là vị vua cuối cùng cho đến thời điểm hiện nay của nước Anh sinh ra bên ngoài đảo Anh. Nơi ông trải qua những năm tháng đầu đời là miền bắc nước Đức. Năm 1701, bà ngoại của ông là Sophia của Hanover, đã trở thành người đứng thứ hai trong danh sách thừa kế sau vụ việc 50 người Công giáo có quan hệ huyết thống với hoàng tộc gần hơn bà bị loại khỏi danh sách vì lí do tôn giáo. Sau cái chết của Sophia và Anne của Anh, năm 1714, cha ông George I, Tuyển hầu tước Hanover, thừa kế ngai vàng Anh. Trong những năm đầu tiên của triều đại của cha mình, George có mâu thuẫn với nhà vua và qua lại với các các chính trị gia đảng đối lập, cho đến khi họ tái gia nhập đảng cầm quyền vào năm 1720.

Lên ngôi vua từ năm 1727, George không có nhiều ảnh hưởng quyết định đối với chính sách đối nội của Anh, vì ông là một vị vua lập hiến, và quyền lực thực sự nằm trong tay Nghị viện Anh. Nhưng với tư cách Tuyển hầu, ông cũng dành 12 mùa hạ ở Hanover và nắm quyền cai trị trực tiếp đối với vùng lãnh thổ này. Mâu thuẫn giữa ông và con trai trưởng, Hoàng tử Frederick của Wales cực kì gay gắt khi Frederick đứng về phía phe đối lập trong quốc hội, tương tự như quan hệ giữa ông và vua cha khi trước. George II tham dự trận Dettingen năm 1743 và ông là vị vua Anh cuối cùng thân chinh trong một trận chiến. Năm 1745, những người ủng hộ vương triều Stuart, đứng đầu là kẻ đòi ngôi theo đạo Công giáo, James Francis Edward Stuart và con trai ông là là Charles Edward Stuart đã thất bại trong âm mưu truất phế George II, đấy cũng là cuộc nổi dậy cuối cùng của phái Jacobite. Frederick bất ngờ qua đời năm 1751, chín năm trước cái chết của nhà vua, và người kế vị ông là con trai trưởng của Frederick, George III.

Trong khoảng hai thế kỷ sau cái chết của George II, các sử gia có xu hướng nhìn nhận ông với thái độ khinh thị, chỉ trích việc ông có nhiều tình nhân, hay nổi cáu và thô lỗ. Về sau, hầu hết các học giả đã đánh giá lại di sản của ông và kết luận rằng ông đã có ảnh hưởng quan trọng trong chính sách ngoại giao và quân sự.

Cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sophia Dorothea và hai người con của bà
George khi còn là một cậu bé bên cạnh người mẹ, Sophia Dorothea của Celle, và em gái, Sophia Dorothea củaf Hanover

George chào đời ở Công quốc Hanover thuộc nước Đức. Ông là con trai của George Louis, Công tước xứ Brunswick-Lüneburg (sau này là Vua George I của Anh), và Sophia Dorothea của Celle. Cả bố và mẹ của George đã từng ngoại tình, và vào năm 1694, hai người chính thức li hôn với lý do mà Sophia đã bỏ rơi chồng mình[1]. Bà đã bị giam lỏng trong Ahlden House và không được gặp hai đứa con của bà. Cũng kể từ đó, George và em gái Sophia Dorothea của Hanover không bao giờ có thể gặp lại mẹ mình nữa[2].

George chỉ nói được tiếng Pháp cho đến khi lên bốn tuổi,ông mới được dạy tiếng Đức bởi một trong số các gia sư là Johann Hilmar Holstein[3]. Ngoài tiếng Pháp và tiếng Đức, ông cũng theo học tiếng AnhÝ, và phả hệ học, lịch sử và quân sự. Ông được chú ý bởi thái độ học tập siêng năng[4].

Người cô họ của ông là Nữ hoàng Anne đã bước lên ngai vàng của ba nước Anh, ScotlandIreland năm 1702. Bà không có bất kì một người con sống sót để kế vị (dù đã mang thai 17 lần). Theo Đạo luật Kế vị năm 1701 được Nghị viện Anh ban hành, người Kháng Cách nào có quan hệ huyết thống gần gũi nhất với Anne sẽ kế vị, và đó là bà của George, Sophia. Do đó, sau bà nội và cha, George đứng thứ ba trong danh sách kế vị ngai vàng ở cả ba nước. Ông đã được nhập tịch Anh năm 1705 bởi luật nhập tịch Sophia, và vào năm 1706 ông đã được ban tặng danh hiệu Cấp tước GarterCông tước xứ Cambridge, Bá tước xứ Milford Haven, Tử tước Northallerton và Baron Tewkesbury, như một thành viên trong quý tộc của nước Anh[5]. AnhScotland đã sáp nhập với nhau vào năm 1707 để thành lập Vương quốc Anh, và cùng nhau công nhận sự kế vị của gia tộc Hanover[6].

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Caroline của Ansbach, họa phẩm của Godfrey Kneller, năm 1706

Phụ vương của George không muốn con trai mình có một cuộc hôn nhân sắp đặt như trường hợp của ông ngày xưa, do đó quyết định sẽ để cho George có cơ hội gặp mặt người được dự định thành hôn cùng ông trước khi bất kì quyết định hôn nhân nào được đưa ra[7]. Các cuộc thỏa thuận về hôn nhân từ năm 1702 dưới sự xếp đặt của Nữ công tước Hedvig Sophia của Thụy Điển, người giữ địa vị nhiếp chính tại Holstein-Gottorp không thu được kết quả gì đáng kể[8]. Tháng 6 năm 1705, với tên giả Monsieur de Busch, George tới thăm xứ Ansbach và cư trú suốt mùa hè tại Triesdorf để tìm hiểu về Caroline của Ansbach, người tháp tùng cho người dì của ông là Hoàng hậu Sophia Charlotte của nước Phổ. Edmund Poley báo cáo lại rằng George có ấn tượng về Caroline như sau: cô ấy là một người rất tốt, và ông sẽ không nghĩ đến bất kì một ai khác[9]. Một thỏa thuận hôn nhân được đặt ra vào cuối tháng 7[10]. Ngày 22 tháng 8 (hoặc 2 tháng 9) năm 1705, Caroline chính thức đến Hanover cho buổi lễ thành hôn, được tổ chức vào buổi tối cùng ngày tại nhà nguyện ở Herrenhausen[7].

George hi vọng được ra chiến trường trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, cụ thể là trong một trận chiến với người Pháp Flanders, song phụ vương của ông từ chối lời đề nghị này, ít nhất là cho đến khi ông có một đứa con trai làm người thừa kế[11]. Đầu năm 1707, hi vọng của George đã thành hiện thực Caroline hạ sinh một cậu bé, Frederick[12]. Vào tháng 7, Caroline mắc bệnh đậu mùa rất nặng, và George cũng bị lây nhiễm khi chăm sóc vợ mình quá tận tình mà không có biện pháp phòng bệnh[13]. Tuy nhiên sau đó cả hai đều khỏi bệnh. Vào năm 1708, George tham gia trận chiến Oudenarde, tham gia vào đội kị binh tiên phong của Hanover, trong khi con ngựa của ông và một đại tá ngay bên cạnh ông đã bị giết, nhưng George vẫn bình yên vô sự[14]. Từ năm 1709 đến 1713, George và Caroline có với nhau tất cả ba người con, tất cả đều là con gái: Anne, Amelia và Caroline[15].

Năm 1714, sức khỏe của Nữ hoàng Anne trở nên nguy kịch, và đảng Whig đang nắm ưu thế trên vũ đài chính trị, ủng hộ sự kế vị của gia tộc Hanover, nên họ tìm cách đưa gia đình George sang nước Anh để bảo đảm không có điều gì bất trắc sau khi nữ hoàng băng hà. Lúc đó George đang là Công tước xứ Cambridge, có ý kiến cho rằng ông được Nghị viện triệu tập đến Thượng nghị viện. Cả Anne và cha của George từ chối ủng hộ kế hoạch, mặc dù George, Caroline và Sophia đều ủng hộ[16]. Cuối cùng ông không đi. Cùng năm đó, lần lượt Sophia và Anne qua đời, cha của George trở thành vua của nước Anh[17].

Thân vương xứ Wales[sửa | sửa mã nguồn]

Mâu thuẫn với phụ vương[sửa | sửa mã nguồn]

London năm 1710
Chân dung vẽ bởi Kneller, 1716.

George Augustus cùng với nhà vua khởi hành đến nước Anh từ The Hague vào ngày 16/27 tháng 9 năm 1714 và đến Greenwich hai ngày sau đó[18]. Hôm sau nữa, họ chính thức đặt chân vào thành London với một lễ rước long trọng[19]. George được phong tặng tước hiệu Hoàng tử xứ Wales, tương đương với địa vị kế thừa ngai vàng. Caroline cũng sang Anh đoàn tụ với chồng vào tháng 10 cùng năm, cùng với các con gái của họ, trong khi con trai trưởng Frederick vẫn ở lại Hanover và được trông nom bởi những người giám hộ. Thành London khác rất xa so với những gì George tưởng tượng, nó rộng lớn gấp 50 lần so với thành Hanover, và đám đông đến đón ông lên tới một triệu rưỡi người[20]. George tranh thủ được sự ủng hộ của quần chúng bởi tài ăn nói và khả năng nói tiếng Anh khá thành thạo, và ông tuyên bố rằng ông không có một giọt máu nào mà không thuộc về nước Anh[21].

Tháng 7 năm 1716, Nhà vua trở về thăm Hanover trong thời gian 6 tháng, George được trao quyền lực cai trị nhưng rất hạn chế, với chức danh "Guardian and Lieutenant of the Realm", có quyền quyết định thay cho phụ vương[22]. Ông đã thực hiện một nghi thức nghênh giá, đi qua Chichester, Havant, PortsmouthGuildford, đều thuộc miền nam nước Anh[23]. Công chúng được phép gặp mặt và quan sát một bữa ăn trưa của Hoàng tử tại Hampton Court Palace[24]. Có một âm mưu ám sát nhằm vào Hoàng tử trong sự kiện này, và một người đã bị bắn chết trước khi kẻ ám sát bị bắt giữ, nhưng điều này càng làm gia tăng sự nổi tiếng của Hoàng tử trước quần chúng[25].

Nhà vua rất không tin tưởng con trai mình, và cảm thấy bất an khi Hoàng tử xứ Wales nhận được quá nhiều sự ủng hộ, đó là bắt đầu cho một loạt những mâu thuẫn về sau trong quan hệ cha - con[26]. Năm 1717, Caroline hạ sinh người con trai thứ hai, Hoàng tử George William là sự kiện đánh dấu đỉnh điểm trong xung đột này. Nhà vua bổ nhiệm Lord Chamberlain, công tước xứ Newcastle, là một trong số những người chủ trì buổi lễ rửa tội cho hoàng tử bé bỏng. Nhà vua tỏ ra rất tức giận khi George, vốn không ưa Newcastle, đã nói ra những lời lẽ chỉ trích ông ta trong nghi thức rửa tội đó. Công tước hiểu lầm đó là sự thách thức của Hoàng tử cho một cuộc đánh nhau tay đôi. Do đó, George và Caroline bị quản thúc tại tư gia, sau đó còn bị trục xuất khỏi cung điện St James[27]. Hoàng tử và công nương tuy bị trục xuất nhưng con cái của họ lại phải giao cho nhà vua chăm sóc[28].

Hoàng tử và công nương rất nhớ con cái của họ nhưng lại không có cơ hội gặp mặt. Có một lần họ lén lút trở về cung để thăm các con mà không có sự chấp thuận của đức vua, trong dịp đó Caroline đã ngất đi và George "khóc như một đứa trẻ"[29]. Nhà vua có phần mủi lòng và sau đó cho phép vợ chồng George mỗi tuần được vào thăm các con một lần và tiếp nữa thì dỡ bỏ lệnh cấm đối với Caroline[30]. Tháng 2 năm 1718, Hoàng tử George Wiliam qua đời, và George được ở bên cạnh con trai trong giờ phút đó[31].

Lãnh đạo phe đối lập[sửa | sửa mã nguồn]

Bị đuổi ra khỏi cung điện và ngày càng xa lánh đối với phụ vương, trong những năm tiếp theo Hoàng tử xứ Wales thường có ý kiến trái chiều đối với những chính sách của vua cha[32], trong đó có cả các chính sách nhằm tăng quyền tự do tôn giáo ở Anh và mở rộng lãnh thổ của Hanover thông qua các tranh chấp với Thụy Điển[33]. Ngôi nhà mới của ông tại London, Leicester House, đã trở thành một nơi gặp gỡ thường xuyên của các thành viên chính phủ phản đối chính sách của nhà vua, bao gồm cả Sir Robert WalpoleTử tước Townshend, người đã rời Nghị viện trong năm 1717[34].

Nhà vua lại về thăm Hanover từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1719. Thay vì bổ nhiệm George giữ quyền quyết định thay mình ở Anh, nhà vua lại thành lập ra một Hội đồng nhiếp chính[35]. Năm 1720, Walpole đề nghị hòa giải giữa nhà vua và hoàng tử vì lợi ích và sự ổn định của hoàng gia, hai người tuy làm lành với nhau nhưng quan hệ không thể nào khôi phục lại như ngày xưa nữa[36]. Walpole và Townshend được triệu tập trở lại chính phủ[37]. Hoàng tử nhanh chóng cảm thấy thât vọng vì các điều khoản của việc hòa giải, trong khi ba cô con gái của ông bị nhà vua giữ lại không được phép trở về với cha mẹ và ông vẫn bị tước quyền nhiếp chính khi nhà vua vắng mặt[38]. Ông cho rằng Walpole đã lừa dối ông nhằm mục đích trở lại với quyền lực. Những năm tiếp theo, cuộc sống của George và Caroline khá lặng lẽ, họ không tham gia nhiều vào các hoạt động chính trị. Về gia đình, ông cùng vợ có thêm ba người con nữa: William, Mary và Louisa, tất cả đều đã lớn lên ở Leicester House và Richmond Lodge, nơi cư trú của George vào mùa hè[39].

Năm 1721, cuộc khủng hoảng kinh tế có tên South Sea Bubble diễn ra. Walpole với những chính sách đúng đắn đã đưa nước Anh thoát khỏi khủng hoàng và ông ta vươn lên vị trí đỉnh cao trong chính phủ[40]. Đảng Whig của ông ta nắm thế thượng phong trong Nghị viện, vì nhà vua lo sợ Đảng Tory vốn có tư tưởng chống đối lại Đạo luật Kế vị năm 1701[41]. Quyền lực của đăng Whig lớn tới mức trong vòng 50 năm tiếp theo, Đảng Tory không thể nào giành lại qưyền lãnh đạo chính phủ[42].

Năm 1727, George I qua đời trong một chuyến về thăm Hanover, và Hoàng tử xứ Wales lên kế vị, danh hiệu là George II.

Cai trị thời kì đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung bởi Charles Jervas, c. 1727

George I qua đời vào ngày 11/22 tháng 6 năm 1727 trong một lần trở về quê hương Hanover, và George II kế vị ngôi vua và Tuyển hầu tước ở tuổi 43. Vị tân vương quyết định không đi tới Đức để dự đám tang của cha mình, vì nguyên nhân này mà ông được dân Anh kính mến vì sự họ cho rằng ông yêu nước Anh[43]. Ông tìm cách ngăn cản những dự định của phụ vương lúc còn sống như phân chia sự cai trị tại Hanover giữa những người cháu trai tương lai của George II thay vì đặt cả hai vương quốc (Anh và Hanover) dưới một liên minh cá nhân một vị vua duy nhất. Cả hai bộ trưởng Anh và Hanover đều cho rằng dự định này chí bất hợp pháp, vì George I không có quyền hợp pháp để xác định sự kế thừa cá nhân[44]. Các nhà phê bình cho rằng ông giấu ý chí này để tránh làm ảnh hưởng đến danh dự của cha mình.

Lễ gia miện của George II được tiến hành vào ngày 11/22 tháng 10 năm 1727 tại Tu viện Westminster[45]. Nhà soạn nhạc George Frideric Handel được cử viết 4 bài hát cho buổi lễ đăng quang, bao gồm bài Zadok the Priest[46].

Nhiều người cho rằng nhà vua sẽ loại bỏ Walpole, người đã lợi dụng ông để nắm lại quyền lực dưới thời vua cũ, và thay vào vị trí đó bởi Sir Spencer Compton[47]. Nhà vua hỏi ý kiến của Compton, thay vì Walpole cho bài phát biểu đầu tiên của ông trước quần chúng trên cương vị quốc vương, nhưng Compton lại đem việc này hỏi ý của Walpole. Caroline khuyên George giữ lại Walpole, người vẫn được lòng hoàng gia bằng việc đảm bảo tiền trợ cấp từ Nghị viện cho nhà vua hằng năm là £ 800.000[48]. Walpole nắm quyền lực đáng kể tại Quốc hội trong khi George đành phải giữ lại ông ta do lo sợ những bất ổn trong chính phủ khi loại bỏ Thủ tướng[49]. Compton được phong làm Lord Wilmington vào năm sau, 1728[50].

Chân dung bởi Enoch Seeman, c. 1730

Walpole nắm quyền quyết định đến chính sách đối nội. Và sau sự từ chức của người anh trai trong pháp luật của ông, Townshend năm 1730 thì ông kiểm soát luôn những chính sách đối ngoại của triều đình George II[51]. Các nhà sử học thường tin rằng George đã đóng vai trò như một lãnh tụ tinh thần, và thường nghe theo những lời khuyên của Walpole và các bộ trưởng cao cấp ai khi ban hành các quyết định lớn[52]. Mặc dù nhà vua rất nóng lòng cho một cuộc chiến tranh ở châu Âu, song các Bộ trưởng dưới quyền ông tỏ ra thận trọng hơn[53]. Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha chấm dứt và George thất bại trong việc ép Walpole tham gia Chiến tranh Kế vị Ba Lan trên lãnh thổ Đức[54]. Tháng 4 năm 1733, Walpole bãi bỏ một loại thuế không được quần chúng tán đồng; điều này đã gây nên một làn sóng phản đối ngay đảng trong nội bộ đảng Whig. George đã đứng về phía Walpole khi quyết định trục xuất một số đối thủ chính trị chống đối ông ta khỏi chính quyền[55].

Vấn đề gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Mối quan hệ giữa nhà vua với người thừa kế hợp pháp, Hoàng tử Frederick của Wales khá tồi tệ, trở nên tồi tệ trong những năm 1730. Frederick đã bị bỏ lại tại Đức khi cha mẹ ông đến nước Anh, và họ đã không gặp nhau trong suốt 14 năm ròng. Năm 1728, Hoàng tử được đưa đến nước Anh và nhanh chóng trở thành con bài trong tay phe đối lập trong chính phủ[56]. Khi ông về thăm Hanover trong những năm 1729, 17321735, thì Hoàng hậu Caroline là người đứng đầu Hội đồng nhiếp chính chứ không phải hoàng tử Wales[57]. Cũng trong lúc đó, sự căng thẳng trong mối quan hệ của ông và em rể Frederick William I của Phổ dẫn đến những căng thẳng tại vùng biên giới Phổ - Hanover. Cuối cùng mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm với việc cả hai vua huy động quân đội ở khu vực biên giới để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh. Các cuộc thỏa thuận hôn nhân giữa hoàng tử xứ Wales và con gái vua Frederick William, Công chúa Wilhelmine kéo dài trong nhiều năm nhưng không bên nào chịu nhượng bộ yêu cầu của người kia, và dự định này không trở thành hiện thực. Thay vào đó, Hoàng tử xứ Wales thành hôn với Công chúa Augusta của Saxe-Gotha vào tháng 4 năm 1736[58].

Tháng 5 năm 1736, nhà vua trở về Hanover, một hành động gây bất bình đối với người dân Anh. Một văn bản chế giễu được lén đặt trước cửa cung điện St James chỉ trích sự vắng mặt của George. Nội dung là: "Mất hoặc thất lạc khỏi nơi này", "một người đã bỏ lại vợ và sáu người con trong giáo xứ[59]. Khi ông khởi hành về Anh vào tháng 12, hành trình gặp trắc trở bởi thời tiết khắc nghiệt, tàu của ông bị gặp phải một trận bão lớn. Có tin đồn lan đến London rằng nhà vua đã bị chết đuổi trên biển. Nhưng cuối cùng vào tháng 1 năm 1737, ông đã có thể đặt chân lên đất Anh[60]. Ngay sau đó ông ngã bệnh, sốt rất cao và nằm liệt trên giường. Hoàng tử xứ Wales loan báo với những người xung quanh rằng nhà vua sắp băng hà, và George đã tham dự một số sự kiện xã hội đã bác bỏ tin đồn trên[61].

Khi Hoàng tử xứ Wales đề nghị lên quốc hội việc tăng phụ cấp cho mình, thì một cuộc tranh cãi nổ ra giữa cha và con. Nhà vua vốn có tính bủn xỉn[62], đề nghị một giải pháp mà Frederick từ chối. Quốc hội đã bỏ phiếu chống lại dự luật, nhưng George miễn cưỡng tăng trợ cấp của con trai mình theo lời khuyên của Walpole[63]. Mâu thuẫn giữa Hoàng tử với cha mẹ của mình càng tăng lên khi công nương xứ Wales hạ sinh một người con gái vào tháng 7 năm 1737. Khi đó vợ ông mặc dù đang đau đẻ nhưng vẫn được đưa lên xe đi ra ngoài vào ban đêm[64]. George trục xuất con trai và gia đình của hoàng tử ra khỏi triều đình, giống như hình phạt cha của ông thi hành đối với ông khi xưa nhưng với ngoại lệ mà ông cho phép Frederick được quyền nuôi con[65].

Ngay sau đó, hoàng hậu Caroline đã qua đời vào ngày 20 tháng 11 năm 1737. Nhà vua đau buồn sâu sắc trước cái chết của vợ, điều khiến nhiều người ngạc nhiên trước "một sự dịu dàng mà thế giới nghĩ rằng ông trước kia hoàn toàn không có khả năng"[66]. Trên giường bệnh của cô, Caroline thổn thức yêu cầu chồng mình nên tái hôn, nhưng ông trả lời, "Không, nhưng trẫm sẽ tìm nhân tình")[67]. Thực chất nhà vua có nhiều tình nhân, nhưng ông đều giấu việc đó trước mặt hoàng hậu[68]. Henrietta Howard, về sau là Nữ Bá tước xứ Suffolk , đã chuyển đến Hanover với chồng trong triều đại của Nữ hoàng Anne[69], và về sau trở thành người hầu phòng cho hoàng hậu. Bá trở thành tình nhân của nhà vua trước khi George I lên ngôi đến tận tháng 10 năm 1734. Ngoài ra còn có Amalie von Wallmoden, về sau là Nữ bá tước xứ Yarmouth, sinh ra một người con trai là Johann Ludwig von Wallmoden, nhiều người đồn đoán anh ta là con trai của nhà vua; nhưng Johann Ludwig chào đời lúc Amalie đã lấy chồng, và George đã không thừa nhận anh ta là con của mình[70].

Chiến tranh và nội loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh bảy năm[sửa | sửa mã nguồn]

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu, huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu Caroline mang thai 10 lần, trong đó có 8 đứa trẻ sống sót khi chào đời, và 7 người sống tới tuổi trưởng thành[71]

Tên Sinh Mất Ghi chú
Frederick, Hoàng tử xứ Wales 0Lỗi: thời gian không hợp lệ1 tháng 2 năm 1707 0Lỗi: thời gian không hợp lệ31 tháng 3 năm 1751 kết hôn năm 1736, với Công chúa Augusta của Saxe-Gotha; có con, bao gồm vua George III của Anh
Anne, Công chúa Hoàng gia 0Lỗi: thời gian không hợp lệ2 tháng 11 năm 1709 0Lỗi: thời gian không hợp lệ12 tháng 1 năm 1759 kết hôn năm 1734, với William IV, Vương công xứ Orange; có con. Là nữ nhiếp chính của Hà Lan từ 1751 - 1759
Công chúa Amelia 0Lỗi: thời gian không hợp lệ10 tháng 6 năm 1711 0Lỗi: thời gian không hợp lệ31 tháng 10 năm 1786 không bao giờ kết hôn, không có con
Công chúa Caroline 0Lỗi: thời gian không hợp lệ10 tháng 6 năm 1713 0Lỗi: thời gian không hợp lệ28 tháng 12 năm 1757 không bao giờ kết hôn, không có con
Con trai chết yểu 0Lỗi: thời gian không hợp lệ20 tháng 11 năm 1716 0Lỗi: thời gian không hợp lệ20 tháng 11 năm 1716
Hoàng tử George William 0Lỗi: thời gian không hợp lệ13 tháng 11 năm 1717 0Lỗi: thời gian không hợp lệ17 tháng 2 năm 1718 chết khi mới 3 tháng tuổi
Sẩy thai 0Lỗi: thời gian không hợp lệ1718 0Lỗi: thời gian không hợp lệ1718
Hoàng tử William, Công tước xứ Cumberland 0Lỗi: thời gian không hợp lệ26 tháng 4 năm 1721 0Lỗi: thời gian không hợp lệ31 tháng 10 năm 1765 Không bao giờ kết hôn, không có con
Công chúa Mary 0Lỗi: thời gian không hợp lệ5 tháng 3 năm 1723 0Lỗi: thời gian không hợp lệ14 tháng 1 năm 1772 kết hôn năm 1740, với Frederick II, Lãnh chúa xứ Hesse-Kassel; có con
Công chúa Louisa 0Lỗi: thời gian không hợp lệ18 tháng 12 năm 1724 0Lỗi: thời gian không hợp lệ19 tháng 12 năm 1751 kết hôn 1743, Frederick V, Vua Đan Mạch và Na Uy; có con
Ngày tháng trong bảng này theo are Lịch mới

Tổ tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Van der Kiste, p. 6.
  2. ^ Black, George II, tr. 35–36; Thompson, tr. 19; Van der Kiste, tr. 7.
  3. ^ Thompson, tr. 16.
  4. ^ Trench, p. 7; Van der Kiste, tr. 9.
  5. ^ Thompson, tr. 35–36.
  6. ^ Đạo luật liên minh với Scotland, 1706 and Đạo luật liên minh với Anh, 1707, The National Archives, truy cập ngày 20 tháng 9, 2011.
  7. ^ a ă Van der Kiste, p. 17.
  8. ^ Thompson, p. 28.
  9. ^ Van der Kiste, p. 15.
  10. ^ Thompson, p. 30; Van der Kiste, p. 16.
  11. ^ Thompson, p. 31; Van der Kiste, p. 18.
  12. ^ Van der Kiste, p. 19.
  13. ^ Van der Kiste, p. 21.
  14. ^ Thompson, p. 32; Trench, p. 18; Van der Kiste, p. 22.
  15. ^ Thompson, p. 37.
  16. ^ Van der Kiste, p. 30.
  17. ^ Thompson, p. 38.
  18. ^ Van der Kiste, p. 36.
  19. ^ Trench, p. 38; Van der Kiste, p. 37.
  20. ^ Van der Kiste, p. 37.
  21. ^ Trench, p. 55; Van der Kiste, p. 44.
  22. ^ Trench, pp. 63–65; Van der Kiste, p. 55.
  23. ^ Van der Kiste, p. 59.
  24. ^ Black, George II, p. 45; Thompson, p. 47.
  25. ^ Van der Kiste, p. 61.
  26. ^ Trench, p. 75; Van der Kiste, p. 61.
  27. ^ Trench, p. 77.
  28. ^ Black, George II, p. 46; Thompson, p. 53; Trench, p. 78.
  29. ^ Van der Kiste, p. 66.
  30. ^ Van der Kiste, pp. 66–67.
  31. ^ Trench, p. 80.
  32. ^ Trench, pp. 67, 87.
  33. ^ Thompson, pp. 48–50, 55.
  34. ^ Trench, pp. 79, 82.
  35. ^ Van der Kiste, p. 71.
  36. ^ Thompson, p. 57; Trench, pp. 88–90; Van der Kiste, pp. 72–74.
  37. ^ Black, George II, p. 52; Thompson, p. 58; Trench, p. 89.
  38. ^ Trench, pp. 88–89.
  39. ^ Black, George II, p. 54; Thompson, pp. 58–59.
  40. ^ Trench, pp. 104–105.
  41. ^ Trench, pp. 106–107.
  42. ^ Thompson, p. 45; Trench, p. 107.
  43. ^ Van der Kiste, tr. 97.
  44. ^ Trench, tr. 130–131.
  45. ^ Van der Kiste, tr. 97.
  46. ^ Black, George II, tr. 77.
  47. ^ Black, George II, tr. 80; Trench, tr. 132.
  48. ^ Trench, tr. 132–133.
  49. ^ Black, George II, tr. 81–84; Black, Walpole in Power, tr. 29–31, 53, 61.
  50. ^ Van der Kiste, tr. 95.
  51. ^ Trench, tr. 149.
  52. ^ Thompson, tr. 92.
  53. ^ Black, George II, tr. 95.
  54. ^ Trench, tr. 173–174; Van der Kiste, tr. 138.
  55. ^ Black, George II, tr. 141–143; Thompson, tr. 102–103; Trench, tr. 166–167.
  56. ^ Trench, tr. 141–142; Van der Kiste, tr. 115–116.
  57. ^ Thompson, tr. 85–86; Van der Kiste, tr. 118, 126, 139.
  58. ^ Trench, tr. 179.
  59. ^ Trench, tr. 182–184; Van der Kiste, tr. 149–150.
  60. ^ Trench, tr. 185–187; Van der Kiste, tr. 152.
  61. ^ Van der Kiste, tr. 153.
  62. ^ Black, George II, tr. 136; Thompson, tr. 7, 64; Trench, tr. 150.
  63. ^ Trench, tr. 189–190; Van der Kiste, tr. 153–154.
  64. ^ Thompson, tr. 120; Trench, tr. 192; Van der Kiste, tr. 155–157.
  65. ^ Trench, tr. 196; Van der Kiste, tr. 158.
  66. ^ Hervey's Memoirs, vol. III, p. 916, quoted in Thompson, p. 124, and Van der Kiste, p. 165.
  67. ^ Thompson, tr. 124; Trench, tr. 199.
  68. ^ Thompson, tr. 92; Trench, tr. 175, 181.
  69. ^ Van der Kiste, tr. 25, 137.
  70. ^ Black, George II, tr. 157; Kilburn; Weir, tr. 284.
  71. ^ Weir, tr. 277–285.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bultmann, William A. (1966) "Early Hanoverian England (1714–1760): Some Recent Writings" in Elizabeth Chapin Furber, ed. Changing views on British history: essays on historical writing since 1939. Harvard University Press, pp. 181–205
  • Dickinson, Harry T.; introduced by A. L. Rowse (1973) Walpole and the Whig Supremacy. London: The English Universities Press. ISBN 0-340-11515-7
  • Williams, Basil; revized by C. H. Stuart (1962) The Whig Supremacy 1714–1760. Second edition. Oxford: Oxford University Press

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

George II của Anh
Nhánh thứ của Nhà Welf
Sinh: 9 tháng 11 1683 Mất: 25 tháng 10 1760
Tước hiệu
Tiền vị:
George I
and Ireland,
Tuyển hầu xứ Hanover

11/22 tháng 6 1727 – 25 tháng 10 1760
Kế vị
George III
British monarchy
Trống ngôi
Người cuối cùng giữ danh hiệu
James
Hoàng tử xứ Wales
Công tước Cornwall
Công tước Rothesay

1714–1727
Kế vị
Frederick