Thaler

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Bốn thaler và 1 double thaler (2 thaler), so với đồng 25 cent của Mỹ (ở dưới): Clockwise from top left: Công quốc Saxe-Altenburg 1616 (reverse), Công quốc Saxony 1592, Đại Công quốc Áo 1701 (obverse), Công quốc Saxony 1592 (obverse), Center: double thaler, Austria 1635 (obverse).

Thaler (/ ˈtɑːlər /; taler - cách đánh vần hiện nay) là một trong những loại xu bạc lớn được đúc và lưu hành tại các Công quốc, Thành bang, Giáo phận vương quyền và các lãnh thổ của Đế quốc La Mã Thần thánhChế độ quân chủ Habsburg trong Thời kỳ cận đại. Một xu bạc thaler có đường kính khoảng 40 mm và trọng lượng khoảng 24 gam đến 30 gam, hoặc khoảng 1 ounce. Từ "thaler" là cách gọi rút gọn của từ "Joachimsthaler" (tên gọi xu bạc thaler đầu tiên), được đúc tại thung lũng Thánh Joachims thuộc Bohemia (ngày nay là Cộng hoà Séc), từ năm 1518.

Trước khi có xu bạc thaler, tiền tệ tiêu chuẩn đầu tiên của Đế quốc La Mã Thần thánh là xu bạc Guldengroschen. Loại xu tồn tại lâu nhất của dòng thaler là xu bạc Reichsthaler (Reichstaler), chứa 1/9 Cologne mark, tương đương với 25,984 gam bạc mịn, và được phát hành với các phiên bản khác nhau từ năm 1566 đến năm 1875. Đơn vị tiền tệ thaler của Bắc Đức có giá trị nhỏ hơn đồng xu tiêu chuẩn. Vào thế kỷ XIX, hầu hết các phiên bản thaler đều ngang giá trị với thaler của Vương quốc Phổ, và sau đó là các Vereinsthaler cho đến năm 1871.

Đồng xu bạc thaler trở thành tiêu chuẩn cho các loại xu bạc được đúc ở thời hiện đại, chẳng hạn như đồng đô la bạc của Mỹ (cho đến năm 1935) và đồng 5 franc của Thuỵ Sĩ (cho đến năm 1928). Các bản sao của Thaler Maria Theresa của Chế độ quân chủ Habsburg đã được đúc bởi nhiều xưởng sản xuất tiền khác nhau cho đến những năm 1960. Ngày nay nhiều quốc gia cho đúc những phiên bản xu bạc cở lớn dùng cho lưu niệm hoặc dữ trữ gọi là "bullion coins" (Xu bạc thỏi), vì giá trị bạc của các xu này cao hơn nhiều so với mệnh giá của chúng.

Từ dollar (đô la) trong tiếng Anh dùng chỉ nhiều loại tiền tệ trên thực tế có nguồn gốc từ "thaler" trong tiếng Đức. Ngoài ra tên gọi đồng tālā của Samoa hay đồng tolar của Slovenia cũng có nguồn gốc từ thaler Đức.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Xu bạc: 1 conventionsthaler Francis I của Thành bang Augsburg - 1765[2]

Từ "taler" trong tiếng Đức là tên viết tắt của từ Joachimstaler. Các mỏ bạc tại Joachimstal bắt đầu khai thác từ năm 1516, và những xu bạc đầu tiên được đúc từ nguồn quặn bạc ở đây vào năm 1518. Cách viết ban đầu là "taler", trong tiếng Đức có nghĩa là "của thung lũng" hoặc "thuộc về thung lũng". Vào cuối thể kỷ XVI, từ này đã được đánh vần với các cách khác nhau như: taler, toler, thaler, thaller, dahler. Trong tiếng Đức thế kỷ XVIII và XIX, từ "thaler" được đổi thành "taler" trong cuộc cải cách chính tả năm 1902.

Tên thaler và taler đã sớm được sử dụng để gọi tên nhiều loại xu bạc có kích thước lớn, như: Reichstaler (1566), Silbertaler, Albertustaler (1612), Laubthaler (1726), Kronenthaler (1755), Ortsthaler, Schützentaler, Conventionsthaler (1754 ), Bankthaler, Spesciesthaler... Tại Cộng hòa Hà Lan, một đồng tiền được tạo ra với tên gọi là leeuwendaalder ("thaler sư tử", 1575). Từ năm 1750, cum từ thaler thường được nói đến để chỉ các loại xu bạc của Vương quốc Phổ, sau năm 1857 là Vereinsthaler (Từ năm 1871 thaler được thay thế bởi đồng Mark).

Đồng bạc của Anh tương đương thaler được gọi là Crown. Người Anh đã dùng từ "dahler" trong Tiếng Hạ Đức để thêm vô từ điển năm 1550 để gọi thaler và từ đó được viết là "daler", đến năm 1660 từ "daler" được viết thành "dollar" như ngày nay.[3] Thaler trong tiếng Anh được đề cập trong từ điển vào nửa đầu thế kỷ XIX để chỉ các xu bạc được xử dụng tại các lãnh thổ của các dân tộc Đức.

Bối cảnh ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ra đời và phát triển của đồng bạc thaler với kích thước lớn và tỷ lệ bạc cao được xem là một bước tiến quan trọng ở Thời kỳ cận đại. Những đồng bạc có kích thước lớn nhất thời Trung cổ được gọi là Groat (Tiếng Đức: Groschen) được phát triển từ đồng denariusrossus (đồng xu dày), chúng hiếm khi vượt qua trọng lượng 6 gam.

Vào cuối thế kỷ XV, ngay cả những đồng gorschen cũng ngày càng mất giá, do tình trạng thiếu bạc để phục vụ trong việc đúc tiền. Những đồng xu này liên tục suy giảm lượng bạc có trong xu, trong một số trường hợp, đã giảm xuống dưới 5%, làm cho các đồng xu có giá trị thấp hơn nhiều so với lúc ban đầu. Tình trạng khan hiếm nguồn bạc tại châu Âu gây ra bởi các thế lực quân sự chi trả quá nhiều cho các cuộc chiến tranh và nguồn bạc cũng rời khỏi châu Âu trong quá trình trao đổi thương mại với châu Á để nhập khẩu gia vị, đồ sứ, lụa đến từ Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia... Nguồn bạc liên tục thất thoát đi, nhưng không có nguồn bạc mới bù vô, từ đó dẫn đến một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng.

Xu hướng khan hiếm nguồn bạc được cải thiện sau khi người ta phát hiện ra các mỏ bạc mới có trữ lượng đáng kể ở châu Âu, bắt đầu vào khoảng những năm 1470. Đi tiên phong là Ý, họ bắt đầu lên kế hoạch đúc một loại xu bạc lớn với tên gọi là đồng lira vào năm 1472 với trọng lượng vượt qua 6 gam (3 + 7⁄8 dwt), một mức tăng đáng kể so với đồng gros tournois của Vương quốc Pháp - khoảng 4 gam (2 + 5⁄8 dwt). Năm 1474, một đồng lira nặng 9 gam (5 + 3⁄4 dwt) được phát hành nhưng phải đến năm 1484, Đại công tước Sigismund của Tirol mới cho phát hành đồng xu bạc thực sự mang tính cách mạng đầu tiên gọi là đồng 1/2 Guldengroschen với trọng lượng khoảng 15,5 gam (10 dwt). Đây là một đồng xu rất hiếm, gần như là một loại thử nghiệm, nhưng nó đã được lưu hành thành công đến mức không thể đáp ứng được nhu cầu.

Cuối cùng, với số lượng bạc có được từ việc khai thác ở Schwaz (ngày nay là một thành phố thuộc bang Tyrol, Cộng hoà Áo), Đại công tước Sigismund đã cho phát hành một lượng lớn đồng xu có khích thước tiêu chuẩn đầu tiên vào năm 1486 với tên gọi Guldengroschen tuy bằng bạc nhưng lại có giá trị ngang với xu vàng Goldgulden. Đồng bac này sau đó được các Công quốc và lãnh thổ khác của Đế quốc La Mã Thần thánh học hỏi và sao chép để tạo ra các đồng bạc có tiêu chuẩn tương đương phục vụ cho việc tiêu dùng trong lãnh thổ của mình cũng như thương mại.

Joachimsthaler[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 1518, những xu bạc cở lớn được thấy khắp nơi ở Trung Âu. Tại Vương quốc Bohemia, dưới thời cai trị của vua Louis II, thuộc Triều đại Jagiellon, một xu bạc cở lớn được đúc với kích thước tương tự, nhưng tỷ lệ bạc kém hơn một chút, được đặt tên là Joachimsthaler, những đồng xu này được đúc từ nguồn bạc do Bá tước Schlick khai thác tại thung lũng Thánh Joachim (thuộc Jáchymov, Cộng hoà Séc ngày nay). Trong đó từ "thal (tal)" có nghĩa là "thung lũng" trong tiếng Đức. Joachim, cha Đức Trinh Nữ Maria, được khắc hoạ trên đồng xu cùng với Sư tử Bohemia. Các xu bạc tương tự bắt đầu được đúc ở các thung lũng lân cận với trữ lượng bạc dồi dào, các xu bạc được đúc từ nguồn bạc khai thác ở thung lũng (thal) nào thì sẽ lấy tên thung lũng đó làm tên gọi. Chẳng bao lâu, những xu bạc này được biết đến rộng rãi với tên gọi "thaler" trong tiếng Đức và "tolar" trong tiếng Séc.

Từ các xu bạc tiền thân này, Đế quốc La Mã Thần thánh đã tìm cách tạo ra một đồng tiền tiêu chuẩn dành cho trao đổi thương mại giữa các khu vực của châu Âu. Joachimsthaler, Guldengroschen ban đầu nặng 1 ounce (27,2g). Đồng xu Reichstaler đế quốc (1566 - 1750) có trọng lượng là 25,984 gam bạc (chứa 400,99 grain bạc mịn), trở thành đồng tiền chính thức của cả Đế chế.

Vào thế kỷ XVII, một số xu bạc Joachimsthaler được lưu hành ở Nước Nga Sa hoàng, nơi đây chúng được gọi là yefimok (ефимок) - đây là một biến thể của từ "Joachim" trong tiếng Đức.

Cộng hoà Hà Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Thaler Hà Lan, mô tả hình ảnh một con sự tử
Xu bạc: 1 ducaton Hà Lan được đúc tại tỉnh Utrecht, 1772 - trọng lượng 32,78 gam với 94,1% là bạc[4]
3 gulden Cộng hòa Hà Lan đúc tại Tỉnh Utrecht - 1795

Xu bạc Rijksdaalder Hà Lan lần đầu tiên được phát hành bởi Cộng hòa Hà Lan vào năm 1575/1576, trong Cách mạng Hà Lan, với mặt trước là chân dung bán thân của William the Salent trong bộ giáp sắt. Rijksdaalder của Hà Lan được đúc theo tiêu chuẩn của đồng bạc reichsthaler của Saxon. Những xu bạc này được đúc độc lập tại các tỉnh: Friesland, Gelderland, Holland, Kampen, Overijssel, Utrecht, West Friesland, Zeeland, và Zwolle cho đến thế kỷ XVII. Đồng xu này được phát hành để thay cho đồng tiền kruisdaalder trước đó, với hình tượng Thánh giá Burgundy, trong khi đó xu bạc rijksdaalder thì mô tả Sư tử Belgic, vì thế nó có tên tiếng Hà Lan là leeuwendaalder ("Thaler sư tử").

Trong xu Leeuwendaalder chứa 75% bạc nguyên chất (427,16 grain bạc), và giá trị của mỗi xu tương đương với 32 stuiver (thời gia lúc mới phát hành vào năm 1576) và sau này là 42 stuiver (không tính các xu stuiver có tỷ lệ bạc thấp sau này). Nó nhẹ hơn so với những đồng tiền có mệnh giá lớn đang lưu hành, cụ thể là xu bạc Ducaton (chứa 92% bạc mịn với tỷ giá tương đương với 60 stuiver và cao hơn 3 guild) và rijksdaalder (chứa 88,5% bạc mịn với tỷ giá tương đương 50 stuivers hoặc 2½ guild). Đồng leeuwendaalder đã trở thành đồng tiền được lựa chọn cho các hoạt động ngoại thương và phổ biến ở Trung Đông và các thuộc địa của Hà Làn ở Tân Thế giớichâu Á.

Xu bạc Leeuwendaalder của Hà Lan đã được một số thành bang ở Đức và Ý lúc bấy giờ sao chép và cho đúc tương tự. Những đồng tiền này được lưu hành ở Bulgaria, RomaniaMoldova, tên tương ứng của các loại tiền này được gọi theo ngôn ngữ của các quốc gia lưu hành, lần được là: Lev Bulgaria, Leu RomâniaLeu Moldova.[5]

Vào năm 1680, việc đúc xu bạc Leeuwendaalder chấm dứt và thay vào đó là xu bạc mới dựa trên đồng gulden của Holland, giá trị của nó tương đương với 30 stuiver hoặc 1/2 của 3 gulden, chúng vẫn được gọi là Daalder trong các giao dịch thông thường.

Từ thuộc địa Tân Hà Lan (New York ngày nay), xu bạc leeuwendaalder lan rộng đến tất cả 13 thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ và sau này nó trở thành tên gọi của đồng Đô la Mỹ. [6][7]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 1 Thaler - Sigismund von Schrattenbach_Type 8, Year: 1761; Weight: 28 gam; Diameter: 41 mm - https://en.numista.com/catalogue/pieces116574.html
  2. ^ 1 conventionsthaler - Free city of Augsburg_Year: 1765; Weight: 28,06 gam; Diameter: 41 mm - https://en.numista.com/catalogue/pieces34407.html
  3. ^ Christian Ludwig, Teutsch-Englisches Lexicon (1789), c.448 gives dollar, doller as the English translation of Thaler.
  4. ^ 1 ducaton (60 stuiver - silver rider) Utrecht, Dutch Republic - https://en.numista.com/catalogue/pieces202247.html
  5. ^ “Online Etymology Dictionary”. www.etymonline.com.
  6. ^ “Production of the Leeuwendaalder”. www.coins.nd.edu.
  7. ^ “Lion Dollar – Introduction”. www.coins.nd.edu.