Kagawa Shinji

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kagawa Shinji
香川真司
Kagawa Shinji, Japanese footballer 3.jpg
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 17 tháng 3, 1989 (27 tuổi)
Nơi sinh Tarumi-ku, Kobe, Nhật Bản
Chiều cao 1,72 m (5 ft 7 12 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Borussia Dortmund
Số áo 23
CLB trẻ
2001–2005 FC Miyagi
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2006–2010 Cerezo Osaka 125 (55)
2010–2012 Borussia Dortmund 47 (21)
2012–2014 Manchester United 20 (6)
2014– Borussia Dortmund 57 (14)
Đội tuyển quốc gia
2006-2008 U-19 Nhật Bản 4 (0)
2007 U-20 Nhật Bản 2 (0)
2008 U-23 Nhật Bản 3 (0)
2008– Nhật Bản 82 (27)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 21 tháng 5, 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 6 tháng 9, 2016

Kagawa Shinji (香川真司(かがわ しんじ) (Hương Xuyên Chân Tư)? sinh ngày 17 tháng 3 năm 1989 tại Tarumi-ku, Kobe) là một cầu thủ bóng đá người Nhật Bản thi đấu ở vị trí tiền vệ. Hiện anh đang chơi cho câu lạc bộ BV Borussia Dortmund.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa đã bắt đầu chơi bóng trong thời gian học tiểu học. Anh đã gia nhập Câu lạc bộ bóng đá NK Kobe và sau đó chuyển đến Câu lạc bộ bóng đá Miyagi Barcelona ở Sendai,tỉnh Miyagi.CLB Cerezo Osaka nhanh chóng nhận thấy tài năng của anh và ký hợp đồng chuyên nghiệp với anh ở tuổi 17. Anh là cầu thủ đầu tiên tại Nhật Bản ký hợp đồng chuyên nghiệp trước khi tốt nghiệp trường trung học, ngoại trừ những cầu thủ được đưa lên từ các đội thanh niên của các câu lạc bộ J. League. Năm 2007,anh trở thành một nhân tố chủ lực của Cerezo, nhưng câu lạc bộ đã bỏ lỡ cơ hội thăng hạng lên J. League Division 1.

Borussia Dortmund[sửa | sửa mã nguồn]

2010-2011[sửa | sửa mã nguồn]

Anh chuyển đến Dortmund hồi tháng 7/2010 từ đội bóng Cerezo Osaka với phí chuyển nhượng chỉ 350.000 euro.Sở dĩ phí chuyển nhượng thấp như vậy là do trong hợp đồng với Cerezo Osaka có điều khoản cho phép anh ra đi như một cầu thủ tự do nếu được một CLB ở châu Âu mời sang thi đấu.

Ngày 23 Tháng Tám năm 2010, Kagawa có trận ra mắt đầu tiên của mình ở Bundesliga, bắt đầu cho câu lạc bộ mới Borussia Dortmund. Sau khi ghi được hai bàn thắng đầu tiên của mình cho câu lạc bộ ở vòng đấu loại tại Europa League trong trận gặp Qarabağ, anh tiếp tục ghi bàn trong trận đấu Bundesliga gặp Wolfsburg, mà Dortmund giành chiến thắng 2-0. Trong trận derby vùng Rurth gặp CLB Schalke 04, mà Dortmund thắng 3-1, Kagawa cho biết trước trận đấu rằng anh sẽ ghi hai bàn thắng, và sau đó đã làm được điều đó, điều này giúp anh dần trở thành một thần tượng mới của các fan BVB Dortmund.

Cuối mùa giải 2010-2011 anh đã cùng Borussia Dortmund giành chức vô địch Bundesliga I và được xếp vào đội hình 11 cầu thủ tiêu biểu của Bundesliga mùa giải này.Dù bị chấn thương khi phục vụ cho đội tuyển quốc gia tham dự AFC Asian Cup 2011 và phải nghỉ thi đấu phần lớn lượt về mùa giải đó nhưng Kagawa vẫn kịp ghi dấu ấn với 8 bàn thắng sau 18 trận ở Bundesliga và 4 bàn thắng sau 8 trận ở Europa League dù chỉ thi đấu ở vị trí tiền vệ công.

2011-2012[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa trở lại sau chấn thương từ cuối mùa giải trước và được xem là một trong những nhân tố chủ lực của Dortmund trong hành trình bảo vệ Đĩa bạc Bundesliga và cuộc chơi tại Champions League sau nhiều năm vắng mặt tại đấu trường này.Kagawa ghi bàn thắng đầu tiên tại Bundesliga mùa giải mới vào ngày 18 tháng chín, trong trận thua 2-1 trước Hannover 96, khi đội bóng của anh đã để thua hai bàn thắng trong ba phút cuối cùng. Ngày 22 tháng Mười, Kagawa mở tỉ số ở phút thứ bảy mở màn cho Dortmund nghiền nát 1. FC Köln 5-0 trước 80.200 người hâm mộ ngay tại Iduna Signal Park. Kagawa ghi bàn một lần nữa vào ngày 05 tháng 11 trong trận Dortmund thắng Wolfsburg 5-1. Anh đã ghi bàn danh dự muộn màng trong trận đấu với Arsenal, cuối cùng thua 2-1, kết thúc vòng đấu bảng Champions League ở vị trí cuối cùng và bị loại.

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm 2012, Shinji Kagawa đã gia nhập Manchester United với giá trị chuyển nhượng 12 triệu bảng kèm thêm 5 triệu nếu Kagawa thi đấu tốt. Trong những trận đấu giao hữu chuẩn bị cho mùa đầu tiên cùng MU, Kagawa đã thể hiện được giá trị với lối chơi thông minh và kỹ thuật. Shinji Kagawa có trận đấu đầu tiên cho Manchester United tại Premie league trong trận thua 0-1 trước Everton sau đó anh có trận tiếp theo cho MU tại vòng 2 khi đó MU thắng 3-2 trong đó Kagawa đóng góp bàn thắng đầu tiên cho Manchester United tại giải ngoại hạng anh. Anh gặp chấn thương trong khuôn khổ vòng bảng UEFA Champions league và phải nghỉ thi đấu khoảng 2 tháng anh có trận trở lại đội hình của MU trong trận gặp Tottenham(hòa 1-1).

Vào ngày 02 Tháng Ba 2013 trong trận đấu với Norwich city, Kagawa ghi bàn tháng đầu tiên và lập 1 cú hat-trick cho united và cũng trở thành cầu thủ châu Á đầu tiên lập hat-trick tại Premier League, trong chiến thắng 4-0 của MU. Vào ngày 22 tháng Tư, Kagawa ra sân trong trận đấu quyết định danh hiệu vô đich của mùa giải Aston Villa, anh có màn trình diễn xuất sắc và giúp quỷ đỏ giành chiến thắng 3-0, vá trở thành cầu thủ Nhật Bản đầu tiên giành danh hiệu vô địch Premier League. Vào ngày 12 tháng Năm, Kagawa đã được đưa vào đội hình xuất phát của MU để đối đầu với Swansea City trong trận đấu cuối cùng trên sân nhà của sir Alex Ferguson trước khi nghỉ hưu, và United thắng 2-1. Và anh nhận danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu. Vào ngày 19 tháng Năm, Kagawa chơi trong trận đấu cuối cùng của MU dưới thời sir Alex với West Bromwich Albion, ghi bàn thắng đầu tiên của United với một cú đánh đầu, mở đầu cho một trận cầu điên rồ kết thúc với tỉ số hòa 5-5 (cũng là trận đấu thứ 1500 của sir Alex).

Mùa đầu tiên của Kagawa ở M.U không thể nói là thành công, mà cũng chẳng thể khẳng định là thất bại. Kagawa không thất bại, vì trong năm đầu ở giải bóng đá khắc nghiệt như Premier League, giành được suất đá chính trong 17 trận quả là thành tích đáng khen. Nhưng nói anh chưa thành công, vì số 26 của M.U vẫn chưa phát huy 100% tài nghệ. Anh ghi có 6 bàn mùa qua, quá ít, và mùa giải bị gián đoạn hơn 2 tháng vì chấn thương.

Trở lại Dortmund[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 8 năm 2014, Kagawa đã chính thức quay trở lại câu lạc bộ cũ Borussia Dortmund và ký vào bản hợp đồng có thời hạn đến 30 tháng 6 năm 2018.[1]

Phong cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa sở hữu kĩ thuật cá nhân điêu luyện, với khả năng xử lí bóng tốt bằng cả 2 chân cùng nhãn quan, óc quan sát tuyệt vời. Vị trí ưa thích cũng như sở trường của anh là tiền vệ công, thi đấu ngay sau tiền đạo cắm. Rất ít cầu thủ tấn công trên thế giới có thể trở thành một số 10 đúng nghĩa. Kagawa nằm trong số ít đó. Anh có thể tạo ra những khoảng trống thuận lợi chỉ sau vài pha chạm bóng đầu tiên. Anh có khả năng "đánh hơi bàn thắng rất tốt" như lời của Klopp. Anh cũng có khả năng phối hợp nhóm với hai cánh, với hàng tiền vệ phía sau và tất nhiên là khả năng kiến tạo. Tất cả những ưu điểm của Kagawa trong lối chơi bóng ngắn đã được chứng minh ở Dortmund.

Tại Manchester United Kagawa thường đá lệch về biên trái nhưng anh vẫn phát huy tốt khả năng của mình. Trong trận đấu anh thường di chuyển rất rộng trên sân để nhận bóng cũng như điều tiết nhịp độ trận đấu, và tuy đá lệch trái nhưng khi tấn công anh thường áp sát khu vực cầu môn như một hộ công thu hút sự chú ý của hậu vệ đối phương và tìm cơ hội ghi bàn, đó gần như bản năng của anh

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 22 tháng 8, 2016.[2][3][4]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Giải đấu Cup League Cup Châu lục Khác Tổng cộng
Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Cerezo Osaka 2006 Giải bóng đá hạng hai Nhật Bản 0 0 0 0 0 0 0 0
2007 35 5 1 2 36 7
2008 35 16 0 0 35 16
2009 44 27 0 0 44 27
2010 Giải vô địch bóng đá Nhật Bản 11 7 1 0 12 7
Tổng cộng 125 55 1 2 1 0 127 57
Borussia Dortmund 2010–11 Bundesliga 18 8 2 0 8 4 28 12
2011–12 31 13 5 3 6 1 1 0 43 17
Tổng cộng 49 21 7 3 14 5 1 0 71 29
Manchester United 2012–13 Premier League 20 6 3 0 0 0 3 0 26 6
2013–14 18 0 1 0 2 0 8 0 1 0 30 0
2014–15 0 0 0 0 1 0 1 0
Tổng cộng 38 6 4 0 3 0 11 0 1 0 57 6
Borussia Dortmund 2014–15 Bundesliga 28 5 5 1 5 0 38 6
2015–16 29 9 5 1 12 3 46 13
2016–17 0 0 1 2 0 0 1 0 2 2
Tổng cộng 57 14 11 4 17 3 1 0 86 21
Tổng cộng sự nghiệp 269 96 23 9 4 0 42 8 3 0 341 113

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 9 tháng 10, 2008 Sân vận động Niigata, Niigata, Nhật Bản  UAE 1–0 1–1 Kirin Cup 2009
2 4 tháng 2, 2009 Sân vận động Olympic Quốc gia, Tokyo, Nhật Bản  Phần Lan 3–0 5–1 Kirin Cup 2009
3 4 tháng 9, 2010 Sân vận động Nissan, Yokohama, Nhật Bản  Paraguay 1–0 1–0 Kirin Cup 2010
4 21 tháng 1, 2011 Sân vận động Al-Gharafa, Doha, Qatar  Qatar 1–1 3–2 Asian Cup 2011
5 2–2
6 10 tháng 8, 2011 Sapporo Dome, Sapporo, Nhật Bản  Hàn Quốc 1–0 3–0 Giao hữu quốc tế
7 3–0
8 11 tháng 10, 2011 Sân vận động Nagai, Osaka, Nhật Bản  Tajikistan 4–0 8–0 Vòng loại World Cup 2014
9 7–0
10 23 tháng 5, 2012 Sân vận động Shizuoka, Fukuroi, Nhật Bản  Azerbaijan 1–0 2–0 Giao hữu
11 8 tháng 6, 2012 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Jordan 4–0 6–0 Vòng loại World Cup 2014
12 12 tháng 10, 2012 Stade de France, Paris, Pháp  Pháp 1–0 1–0 Giao hữu
13 26 tháng 3, 2013 Sân vận động nhà vua Abdullah, Amman, Jordan  Jordan 1–2 1–2 Vòng loại World Cup 2014
14 20 tháng 6, 2013 Itaipava Arena Pernambuco, São Lourenço da Mata, Brasil  Ý 2–0 3–4 Confed Cup 2013
15 14 tháng 8, 2013 Sân vận động Miyagi, Rifu, Nhật Bản  Uruguay 1–3 2–4 Giao hữu
16 10 tháng 9, 2013 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Ghana 1–1 3–1 Giao hữu
17 5 tháng 3, 2014 Sân vận động Olympic Quốc gia, Tokyo, Nhật Bản  New Zealand 2–0 4–2 Giao hữu
18 2 tháng 6, 2014 Sân vận động Raymond James, Tampa, Hoa Kỳ  Costa Rica 2–1 3–1 Giao hữu
19 7 tháng 6, 2014 Sân vận động Raymond James, Tampa, Hoa Kỳ  Zambia 2–2 4–3 Giao hữu
20 20 tháng 1, 2015 Sân vận động Melbourne Rectangular, Melbourne, Úc  Jordan 2–0 2–0 Asian Cup 2015
21 3 tháng 9, 2015 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Campuchia 3–0 3–0 Vòng loại World Cup 2018
22 8 tháng 9, 2015 Sân vận động Azadi, Tehran, Iran  Afghanistan 1–0 6–0 Vòng loại World Cup 2018
23 3–0
24 29 tháng 3, 2016 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Syria 2–0 5–0 Vòng loại World Cup 2018
25 4–0
26 3 tháng 6, 2016 Sân vận động Toyota, Toyota, Nhật Bản  Bulgaria 2–0 7–2 Cúp Kirin 2016
27 3–0
Thống kê đến ngày 3 tháng 6, 2016

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Borussia Dortmund

Manchester United

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Individual[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Thông tin Kagawa chính thức quay trở lại đội bóng cũ Dortmund”. 
  2. ^ “Shinji Kagawa”. Soccerway. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  3. ^ “Shinji Kagawa > Club matches”. worldfootball.net. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  4. ^ “Player Profile – Shinji Kagawa”. premierleague.com. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]