Kagawa Shinji

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Kagawa Shinji
香川真司
Kagawa Shinji, Japanese footballer 3.jpg
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 17 tháng 3, 1989 (29 tuổi)
Nơi sinh Tarumi-ku, Kobe, Nhật Bản
Chiều cao 1,75 m (5 ft 9 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Borussia Dortmund
Số áo 23
CLB trẻ
2001–2005 FC Miyagi
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2006–2010 Cerezo Osaka 125 (55)
2010–2012 Borussia Dortmund 47 (21)
2012–2014 Manchester United 20 (6)
2014– Borussia Dortmund 97 (20)
Đội tuyển quốc gia
2006-2008 U-19 Nhật Bản 4 (0)
2007 U-20 Nhật Bản 2 (0)
2008 U-23 Nhật Bản 3 (0)
2008– Nhật Bản 95 (31)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 13 tháng 5 năm 2018.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 2 tháng 7 năm 2018

Kagawa Shinji (香川 (かがわ) 真司 (しんじ) (Hương Xuyên Chân Tư)? sinh ngày 17 tháng 3 năm 1989 tại Tarumi-ku, Kobe) là một cầu thủ bóng đá người Nhật Bản thi đấu ở vị trí tiền vệ. Hiện anh đang thi đấu cho câu lạc bộ Borussia DortmundĐội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản.

Kagawa bắt đầu sự nghiệp của mình tại đội bóng quê nhà Cerezo Osaka trước khi đến Đức chơi cho Borussia Dortmund vào năm 2010. Hai năm sau đó, anh gia nhập đội bóng Anh Manchester United rồi quay trở lại Dortmund vào năm 2014.

Ở đội tuyển quốc gia, Kagawa có trận ra mắt vào tháng 5 năm 2008 và cùng đội tuyển Nhật Bản vô địch Cúp bóng đá châu Á 2011.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa đã bắt đầu chơi bóng trong thời gian học tiểu học. Anh đã gia nhập Câu lạc bộ bóng đá NK Kobe và sau đó chuyển đến câu lạc bộ bóng đá Miyagi Barcelona ở Sendai, tỉnh Miyagi từ năm 2001 đến năm 2005.[1] Câu lạc bộ Cerezo Osaka nhanh chóng nhận thấy tài năng của anh và ký hợp đồng chuyên nghiệp với anh ở tuổi 17. Anh là cầu thủ đầu tiên tại Nhật Bản ký hợp đồng chuyên nghiệp trước khi tốt nghiệp trường trung học.[2] Năm 2007, anh trở thành một nhân tố chủ lực của Cerezo, nhưng câu lạc bộ đã bỏ lỡ cơ hội thăng hạng lên J. League Division 1.

Borussia Dortmund[sửa | sửa mã nguồn]

2010-2011[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa chuyển đến câu lạc bộ Borussia Dortmund vào tháng 7 năm 2010 từ Cerezo Osaka với phí chuyển nhượng 350.000 euro.[3]

Ngày 23 tháng 8 năm 2010, Kagawa có trận ra mắt đầu tiên của mình ở Bundesliga. Sau khi ghi được hai bàn thắng đầu tiên của mình cho câu lạc bộ ở vòng đấu loại tại UEFA Europa League trong trận gặp Qarabağ FK[4], anh tiếp tục ghi bàn trong trận đấu Bundesliga gặp VfL Wolfsburg mà Dortmund giành chiến thắng 2-0.[5] Trong trận derby vùng Rurth gặp Schalke 04 ngày 19 tháng 9 mà Dortmund thắng 3-1, Kagawa cho biết trước trận đấu rằng anh sẽ ghi hai bàn thắng, và sau đó đã làm được điều đó ở các phút 20 và 58.[6]

Cuối mùa giải 2010-2011 anh đã cùng Borussia Dortmund giành chức vô địch Bundesliga và được xếp vào đội hình tiêu biểu của Bundesliga mùa giải này dù bị chấn thương khi phục vụ cho đội tuyển quốc gia tham dự Cúp bóng đá châu Á 2011 và phải nghỉ thi đấu phần lớn lượt về mùa giải.[7]

2011-2012[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa trở lại sau chấn thương từ cuối mùa giải trước và được xem là một trong những nhân tố chủ lực của Dortmund trong hành trình bảo vệ danh hiệu vô địch Bundesliga và thi đấu tại UEFA Champions League sau nhiều năm vắng mặt tại đấu trường này. Kagawa ghi bàn thắng đầu tiên tại Bundesliga mùa giải mới vào ngày 18 tháng 9, trong trận thua 2-1 trước Hannover 96, khi đội bóng của anh đã để thua hai bàn thắng trong ba phút cuối cùng.[8] Ngày 22 tháng 10, Kagawa mở tỉ số ở phút thứ bảy mở màn cho Dortmund nghiền nát 1. FC Köln 5-0 trước 80.200 người hâm mộ ngay tại Iduna Signal Park.[9] Kagawa ghi bàn một lần nữa vào ngày 5 tháng 11 trong trận Dortmund thắng VfL Wolfsburg 5-1.[10] Anh đã ghi bàn danh dự muộn màng trong trận đấu với Arsenal, cuối cùng thua 2-1, kết thúc vòng đấu bảng Champions League ở vị trí cuối cùng và bị loại.[11]

Ngày 28 tháng 1 năm 2012, Kagawa lập cú đúp trong chiến thắng 3–1 trước Hoffenheim.[12] Kagawa ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu với Werder Bremen ngay ở phút từ đường chuyền của İlkay Gündoğan vào ngày 17 tháng 3.[13] Kagawa tiếp tục có một cú đúp nữa vào ngày 25 tháng 3 trước Köln để giúp Dortmund có chiến thắng 6-1, tiếp tục dẫn đầu Bundesliga.[14]

Trong trận chung kết Cúp bóng đá Đức (DFB-Pokal) 2012 với Bayern München, Kagawa là người ghi bàn mở tỉ số ngay ở giây thứ 159, mở đầu cho chiến thắng 5-2 của Dortmund.[15] Kết thúc mùa giải, anh cùng Dortmund giành được cú đúp danh hiệu giải quốc nội, với cá nhân anh có được 13 bàn thắng trong 31 trận tại Bundesliga.[16]

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm 2012, Shinji Kagawa đã gia nhập Manchester United với giá trị chuyển nhượng 12 triệu bảng kèm thêm 5 triệu nếu Kagawa thi đấu tốt.[17] Trong những trận đấu giao hữu chuẩn bị cho mùa đầu tiên cùng MU, Kagawa đã thể hiện được giá trị với lối chơi thông minh và kỹ thuật. Anh có trận đấu đầu tiên tại Premier League vào ngày 20 tháng 8 năm 2012, trong trận thua 1–0 trước Everton.[18] Năm ngày sau đó, anh có bàn thắng đầu tiên cho Quỷ Đỏ trong chiến thắng 3-2 trước Fulham, với pha đá bồi từ cự ly gần.[19]. Anh gặp chấn thương trong khuôn khổ vòng bảng UEFA Champions League và phải nghỉ thi đấu khoảng hai tháng trước khi có trận trở lại đội hình của MU trong trận gặp Tottenham (hòa 1-1).

Vào ngày 2 tháng 3 năm 2013 trong trận đấu với Norwich City, Kagawa ghi bàn tháng đầu tiên và lập 1 cú hat-trick cho United và cũng trở thành cầu thủ châu Á đầu tiên lập hat-trick tại Premier League, trong chiến thắng 4-0 của MU.[20] Vào ngày 22 tháng Tư, Kagawa ra sân trong trận đấu quyết định danh hiệu vô đich của mùa giải Aston Villa, anh có màn trình diễn xuất sắc và giúp quỷ đỏ giành chiến thắng 3-0, vá trở thành cầu thủ Nhật Bản đầu tiên giành danh hiệu vô địch Premier League. Vào ngày 12 tháng 5, Kagawa đã được đưa vào đội hình xuất phát của MU để đối đầu với Swansea City trong trận đấu cuối cùng trên sân nhà của huấn luyện viên Alex Ferguson trước khi nghỉ hưu, và United thắng 2-1. Và anh nhận danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu. Vào ngày 19 tháng 5, Kagawa chơi trong trận đấu cuối cùng của MU dưới thời Alex Ferguson với West Bromwich Albion, ghi bàn thắng đầu tiên của United với một cú đánh đầu, mở đầu cho một trận cầu điên rồ kết thúc với tỉ số hòa 5-5 (cũng là trận đấu thứ 1500 của sir Alex).

Trở lại Dortmund[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 8 năm 2014, Kagawa đã chính thức quay trở lại câu lạc bộ cũ Borussia Dortmund và ký vào bản hợp đồng có thời hạn đến 30 tháng 6 năm 2018.[21]

Ngày 14 tháng 7 năm 2017, Kagawa gia hạn hợp đồng với Dortmund đến năm 2020.[22]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa có tên trong đội hình đội tuyển Nhật Bản tham dự Cúp bóng đá châu Á 2011 tại Qatar. Trong trận tứ kết với đội chủ nhà Qatar, anh lập cú đúp giúp Nhật Bản giành thắng lợi 3-2.[23] Đến trận bán kết với Hàn Quốc, Kagawa phải rời sân ở phút 87 vì chấn thương[24] nên không thể có mặt ở trận chung kết, nơi Nhật Bản đánh bại Úc 1–0 để giành ngôi vô địch.

Với chức vô địch châu Á, Kagawa đã cùng đội tuyển Nhật Bản tham dự Cúp Liên đoàn các châu lục 2013 tại Brasil. Kagawa ghi được một bàn thắng tại giải đấu này, trong trận thua 4-3 trước Đội tuyển bóng đá quốc gia Ý.[25]

Kagawa có tên trong danh sách 23 cầu thủ Nhật Bản tham dự Giải bóng đá vô địch thế giới 2014 tại Brasil.[26]

Tháng 12 năm 2014, Kagawa được tân huấn luyện viên Javier Aguirre điền tên vào đội hình đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản tham dự Cúp bóng đá châu Á 2015 tại Úc.[27] Tại giải đấu này, anh có một bàn thắng trong trận đấu cuối cùng của vòng bảng với Jordan.[28] Đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản đã chính thức trở thành "cựu vương" của Cúp bóng đá châu Á sau thất bại 4–5 trên chấm luân lưu trước UAE tại tứ kết, trong đó Kagawa và Honda là những cầu thủ Nhật Bản đá hỏng phạt đền.[29]

Ngày 31 tháng 5 năm 2018, Kagawa được chọn tham dự giải đấu World Cup lần thứ hai trong sự nghiệp tại Nga sau khi huấn luyện viên Nishino Akira chốt danh sách 23 cầu thủ chính thức.[30] Trong trận đấu mở màn của đội tuyển Nhật Bản tại bảng H với Colombia, anh là người mở tỉ số trận đấu từ chấm phạt đền và đây cũng là bàn thắng đầu tiên từ chấm phạt đền của đội tuyển Nhật Bản trong lịch sử các lần tham dự World Cup của họ. Chung cuộc Nhật Bản thắng 2-1 và trở thành đội bóng Châu Á đầu tiên đánh bại một đại diện Nam Mỹ tại đấu trường World Cup.[31] Anh lại tiếp tục ra sân trong 2 trận còn lại của vòng bảng trước SénégalBa Lan. Đội tuyển Nhật Bản sau đó vượt qua vòng bảng nhưng thua chung cuộc 2-3 trước Bỉ.

Phong cách thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Kagawa sở hữu kĩ thuật cá nhân điêu luyện, với khả năng xử lý bóng tốt bằng cả hai chân cùng nhãn quan, óc quan sát tuyệt vời. Vị trí ưa thích cũng như sở trường của anh là tiền vệ công, thi đấu ngay sau tiền đạo cắm. Rất ít cầu thủ tấn công trên thế giới có thể trở thành một số 10 đúng nghĩa. Kagawa nằm trong số ít đó. Anh có thể tạo ra những khoảng trống thuận lợi chỉ sau vài pha chạm bóng đầu tiên. Anh có khả năng "đánh hơi bàn thắng rất tốt" như lời của Klopp. Anh cũng có khả năng phối hợp nhóm với hai cánh, với hàng tiền vệ phía sau và tất nhiên là khả năng kiến tạo. Tất cả những ưu điểm của Kagawa trong lối chơi bóng ngắn đã được chứng minh ở Dortmund.

Tại Manchester United Kagawa thường đá lệch về biên trái nhưng anh vẫn phát huy tốt khả năng của mình. Trong trận đấu anh thường di chuyển rất rộng trên sân để nhận bóng cũng như điều tiết nhịp độ trận đấu, và tuy đá lệch trái nhưng khi tấn công anh thường áp sát khu vực cầu môn như một hộ công thu hút sự chú ý của hậu vệ đối phương và tìm cơ hội ghi bàn, đó gần như bản năng của anh.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 13 tháng 5 năm 2017.[32][33][34]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Giải đấu Cup League Cup Châu lục Khác Tổng cộng
Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng Số lần ra sân Số bàn thắng
Cerezo Osaka 2006 Giải bóng đá hạng hai Nhật Bản 0 0 0 0 0 0 0 0
2007 35 5 1 2 36 7
2008 35 16 0 0 35 16
2009 44 27 0 0 44 27
2010 Giải vô địch bóng đá Nhật Bản 11 7 1 0 12 7
Tổng cộng 125 55 1 2 1 0 127 57
Borussia Dortmund 2010–11 Bundesliga 18 8 2 0 8 4 28 12
2011–12 31 13 5 3 6 1 1 0 43 17
Tổng cộng 49 21 7 3 14 5 1 0 71 29
Manchester United 2012–13 Premier League 20 6 3 0 0 0 3 0 26 6
2013–14 18 0 1 0 2 0 8 0 1 0 30 0
2014–15 0 0 0 0 1 0 1 0
Tổng cộng 38 6 4 0 3 0 11 0 1 0 57 6
Borussia Dortmund 2014–15 Bundesliga 28 5 5 1 5 0 38 6
2015–16 29 9 5 1 12 3 46 13
2016–17 21 1 3 2 5 3 1 0 30 6
2017–18 19 5 3 1 5 0 0 0 27 6
Tổng cộng 97 20 16 5 27 6 1 0 141 31
Tổng cộng sự nghiệp 309 102 28 10 4 0 52 11 3 0 396 123

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 9 tháng 10 năm 2008 Sân vận động Niigata, Niigata, Nhật Bản  UAE 1–0 1–1 Kirin Cup 2009
2 4 tháng 2 năm 2009 Sân vận động Olympic Quốc gia, Tokyo, Nhật Bản  Phần Lan 3–0 5–1 Kirin Cup 2009
3 4 tháng 9 năm 2010 Sân vận động Nissan, Yokohama, Nhật Bản  Paraguay 1–0 1–0 Kirin Cup 2010
4 21 tháng 1 năm 2011 Sân vận động Al-Gharafa, Doha, Qatar  Qatar 1–1 3–2 Asian Cup 2011
5 2–2
6 10 tháng 8 năm 2011 Sapporo Dome, Sapporo, Nhật Bản  Hàn Quốc 1–0 3–0 Giao hữu quốc tế
7 3–0
8 11 tháng 10 năm 2011 Sân vận động Nagai, Osaka, Nhật Bản  Tajikistan 4–0 8–0 Vòng loại World Cup 2014
9 7–0
10 23 tháng 5 năm 2012 Sân vận động Shizuoka, Fukuroi, Nhật Bản  Azerbaijan 1–0 2–0 Giao hữu
11 8 tháng 6 năm 2012 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Jordan 4–0 6–0 Vòng loại World Cup 2014
12 12 tháng 10 năm 2012 Stade de France, Paris, Pháp  Pháp 1–0 1–0 Giao hữu
13 26 tháng 3 năm 2013 Sân vận động nhà vua Abdullah, Amman, Jordan  Jordan 1–2 1–2 Vòng loại World Cup 2014
14 20 tháng 6 năm 2013 Itaipava Arena Pernambuco, São Lourenço da Mata, Brasil  Ý 2–0 3–4 Confed Cup 2013
15 14 tháng 8 năm 2013 Sân vận động Miyagi, Rifu, Nhật Bản  Uruguay 1–3 2–4 Giao hữu
16 10 tháng 9 năm 2013 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Ghana 1–1 3–1 Giao hữu
17 5 tháng 3 năm 2014 Sân vận động Olympic Quốc gia, Tokyo, Nhật Bản  New Zealand 2–0 4–2 Giao hữu
18 2 tháng 6 năm 2014 Sân vận động Raymond James, Tampa, Hoa Kỳ  Costa Rica 2–1 3–1 Giao hữu
19 7 tháng 6 năm 2014 Sân vận động Raymond James, Tampa, Hoa Kỳ  Zambia 2–2 4–3 Giao hữu
20 20 tháng 1 năm 2015 Sân vận động Melbourne Rectangular, Melbourne, Úc  Jordan 2–0 2–0 Asian Cup 2015
21 3 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Campuchia 3–0 3–0 Vòng loại World Cup 2018
22 8 tháng 9 năm 2015 Sân vận động Azadi, Tehran, Iran  Afghanistan 1–0 6–0 Vòng loại World Cup 2018
23 3–0
24 29 tháng 3 năm 2016 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Syria 2–0 5–0 Vòng loại World Cup 2018
25 4–0
26 3 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Toyota, Toyota, Nhật Bản  Bulgaria 2–0 7–2 Cúp Kirin 2016
27 3–0
28 28 tháng 3 năm 2017 Sân vận động Saitama 2002, Saitama, Nhật Bản  Thái Lan 1–0 4–0 Vòng loại World Cup 2018
29 10 tháng 10 năm 2017 Sân vận động quốc tế Yokohama, Yokohama, Nhật Bản  Haiti 3–3 3–3 Giao hữu
30 12 tháng 6 năm 2018 Tivoli-Neu, Innsbruck, Áo  Paraguay 4–2 4–2 Giao hữu
31 19 tháng 6 năm 2018 Mordovia Arena, Saransk, Nga  Colombia 1–0 2–1 World Cup 2018
Thống kê đến ngày 19 tháng 6 năm 2018

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Borussia Dortmund
Manchester United

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Individual[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Shinji Kagawa learning the short route to goals and glory for Manchester United”. The Independent. 9 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  2. ^ Jack Bell (13 tháng 11 năm 2010). “Japanese Whirlwind Kagawa Propelling Borussia Dortmund in Bundesliga”. New York Times. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  3. ^ “Official: Borussia Dortmund Sign Cerezo Osaka Star Shinji Kagawa”. Goal.com. 11 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  4. ^ “Goal.com Scouting Report: Shinji Kagawa - Borussia Dortmund & Japan”. Goal.com. 24 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  5. ^ “Borussia Dortmund 2-0 Wolfsburg: Sahin Wonder Goal Leaves McClaren On The Brink”. Goal.com. 11 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  6. ^ “Schalke 1–3 Borussia Dortmund: Prophetic Kagawa At The Double For BVB”. Goal.com. 19 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  7. ^ “Manchester United to sign Shinji Kagawa”. The Independent. 5 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  8. ^ “Hannover 96 2–1 Borussia Dortmund”. ESPN Soccernet. 18 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  9. ^ “Borussia Dortmund 5–0 Koln: Five-star champions move second in Bundesliga table”. Goal.com. 22 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  10. ^ “Dortmund erteilt Wolfsburg eine Lehrstunde” (bằng tiếng Đức). Kicker. 22 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  11. ^ “Arsenal 2-1 Borussia Dortmund”. BBC Sport. 23 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  12. ^ “Borussia Dortmund 3-1 Hoffenheim: Kagawa and Grosskreutz give Jurgen Klopp's side victory and keep pressure on Bayern Munich at Bundesliga summit”. Goal.com. 28 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  13. ^ “Borussia Dortmund 1-0 Werder Bremen: Kagawa strike puts hosts eight points clear as BVB break club record for undefeated streak”. Goal.com. 18 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  14. ^ “FC Cologne v Borussia Dortmund”. ESPN Soccernet. 25 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  15. ^ “FC Cologne v Borussia Dortmund”. The Guardian. 14 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  16. ^ “Shinji Kagawa's Manchester United transfer agreed”. BBC Sport. 5 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  17. ^ “MU giành được chữ ký của Shinji Kagawa”. VnExpress. 5 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  18. ^ McNulty, Phil (20 tháng 8 năm 2012). “Everton 1–0 Man Utd”. BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  19. ^ Magowan, Alistair (25 tháng 8 năm 2012). “Man Utd 3–2 Fulham”. BBC Sport. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  20. ^ “Premier League: Shinji Kagawa hits hat-trick as Manchester United beat Norwich 4–0”. Sky Sports. 2 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  21. ^ “Shinji Kagawa: Manchester United midfielder returns to Dortmund”. BBC Sport. 31 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  22. ^ “KAGAWA SIGNS BORUSSIA DORTMUND EXTENSION”. Goal.com. 14 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  23. ^ “Japan 3–2 Qatar: Kagawa Double Helps Knock Out Spirited Hosts”. Goal.com. 21 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  24. ^ “Nhật đau đầu vì vắng Kagawa”. Tuổi Trẻ Online. 21 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  25. ^ “Italy 4 Japan 3: Penalty king Balotelli scores AGAIN from the spot as Azzurri hold on for crucial win”. Daily Mail. Ngày 19 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  26. ^ “World Cup 2014: Kagawa and Yoshida in Japan squad”. BBC Sports. Ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  27. ^ “Japan selects squad for 2015 Asian Cup defence in Australia”. ABC News. Ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  28. ^ “Japan defeat Jordan 2–0 to earn top spot in Group D and a place in the Asian Cup quarter-finals”. ABC. Ngày 20 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  29. ^ “Cúp bóng đá châu Á 2015: Nhật Bản bị truất ngôi, Iraq thắng nghẹt thở Iran”. Thể thao và Văn Hóa. Ngày 24 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  30. ^ “World Cup 2018: Japan include Keisuke Honda and Shinji Kagawa in squad”. BBC Sports. 31 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  31. ^ “Colombia 1-2 Japan”. BBC Sports. 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  32. ^ “Shinji Kagawa”. Soccerway. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  33. ^ “Shinji Kagawa > Club matches”. worldfootball.net. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2012. 
  34. ^ “Player Profile – Shinji Kagawa”. premierleague.com. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]