Hosogai Hajime

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hosogai Hajime
Hajime hosogai.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Hosogai Hajime
Ngày sinh 10 tháng 6, 1986 (33 tuổi)
Nơi sinh Maebashi, Gunma, Nhật Bản
Chiều cao 1,77 m (5 ft 9 12 in)
Vị trí Tiền vệ phòng ngự, Trung vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Buriram United
Số áo 7
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1999–2001 Đội trẻ FC Maebashi
2002–2004 Trung học Maebashi Ikuei
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2005–2010 Urawa Red Diamonds 98 (5)
2011–2013 Bayer 04 Leverkusen 17 (0)
2011–2012FC Augsburg (cho mượn) 39 (3)
2013–2016 Hertha BSC 53 (0)
2015–2016Bursaspor (cho mượn) 20 (0)
2016–2017 VfB Stuttgart 10 (0)
2017–2018 Kashiwa Reysol 22 (0)
2019–nay Buriram United 0 (0)
Đội tuyển quốc gia
2006–2008 U-23 Nhật Bản 10 (1)
2010–2014 Nhật Bản 25 (1)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 20 tháng 12 năm 2016

Hosogai Hajime (細貝 萌 Hajime Hosogai ?, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1986 tại Maebashi, Gunma, Nhật Bản) là cầu thủ bóng đá người Nhật Bản có thể thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm hay trung vệ.[1] Anh đang thi đấu cho câu lạc bộ Buriram United.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Hosogai từng là một trong những cầu thủ đầy triển vọng của Urawa Red Diamonds. Anh đã góp công giúp Urawa vô địch AFC Champions League vào năm 2007 và tham dự FIFA Club World Cup 2007.[2]

Ngày 23 tháng 12 năm 2010, Hosogai đã chuyển đến Đức thi đấu cho Bayer 04 Leverkusen theo bản hợp đồng có thời hạn 4 năm rưỡi.[3] Ngay sau đó, Leverkusen đã đem anh cho FC Augsburg mượn.[4] Tại Augsburg, anh đã có một mùa giải thành công khi chỉ vắng mặt ba trận duy nhất tại giải đấu trong nước và góp phần giúp câu lạc bộ vừa mới lên hạng này trụ hạng thành công.[5] Ở mùa giải tiếp theo, anh trở về Leverkusen và có 14 lần ra sân chính thức.

Trong kì chuyển nhượng mùa hè 2013, Hosogai chính thức trở thành cầu thủ của Hertha BSC Berlin với bản hợp đồng có thời hạn 4 năm.[6]

Ngày 27 tháng 8 năm 2015, anh chuyển đến Thổ Nhĩ Kỳ thi đấu cho câu lạc bộ Bursaspor thao bản hợp đồng cho mượn cho đến hết mùa bóng 2015-16 sau khi bị mất vị trí chính thức tại Berlin dưới thời huấn luyện viên Pal Dardai.[7] Anh có tổng cộng 20 lần ra sân tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và 5 lần ra sân tại Cúp bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ trong thời gian thi đấu tại đây.[8]

Ngày 25 tháng 7 năm 2016, Hosogai chuyển đến câu lạc bộ VfB Stuttgart thi đấu tại 2. Bundesliga.[9] Ngày 24 tháng 3 năm 2017, anh trở về Nhật Bản khoác áo Kashiwa Reysol sau khi ra sân 10 trận cho Stuttgart.[10]

Năm 2019, anh gia nhập đội bóng Buriram United.

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Hosogai từng có thời gian thi đấu cho các đội trẻ quốc gia Nhật Bản. Anh là thành viên của đội tuyển Olympic Nhật Bản tham dự Thế vận hội Mùa hè 2008 tại Bắc Kinh.[11] Trận đấu đầu tiên của Hosogai cho đội tuyển là trận giao hữu thắng Paraguay 1-0 tại sân SaitamaSaitama ngày 4 tháng 9 năm 2010 dưới thời huấn luyện viên tạm quyền Hiromi Hara.[12][13]

Hosogai sau đó được huấn luyện viên Alberto Zaccheroni triệu tập vào đội tuyển Nhật Bản tham dự Cúp bóng đá châu Á 2011 tại Quatar.[14] Ngày 25 tháng 1 năm 2011, trong trận bán kết với Hàn Quốc, anh đã ghi bàn nâng tỉ số lên 2-1 với cú đá bồi sau khi Honda Keisuke thực hiện quả phạt đền bị thủ môn Jung Sung-Ryong đẩy ra.[15] Chung cuộc Nhật Bản giành thắng lợi 3-0 trong loạt sút luân lưu để vào chung kết. Đội tuyển Nhật Bản đã giành chức vô địch giải đấu này sau khi đánh bại đội tuyển Úc 1-0 ở trận chung kết.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cúp bóng đá châu Á: 2011

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Urawa Red Diamonds

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 22 tháng 2 năm 2010

Thành tích cấp CLB Giải vô địch Cúp quốc gia Cúp liên đoànCúp châu lục Tổng cộng
Mùa giảiCLBGiải vô địch TrậnBànTrậnBàn TrậnBàn TrậnBàn TrậnBàn
Nhật Bản Giải vô địchEmperor's Cup J. League Cup Châu Á Tổng cộng
2005 Urawa Red Diamonds J. League Division 1 3 0 3 0 2 0 - 8 0
2006 2 0 4 0 6 0 - 12 0
2007 8 0 1 0 2 1 8* 0 19* 1
2008 26 2 1 0 4 0 3 1 34 3
2009 31 2 1 0 6 0 - 38 2
2010 28 1 1 0 5 0 - 34 1
Đức Giải vô địchDFB-Pokal Premiere Ligapokal Châu Âu Tổng cộng
2010–11 FC Augsburg 2. Bundesliga 7 0 7 0
2011-12 FC Augsburg Bundesliga 32 3 1 0 33 3
Tổng cộng Nhật Bản 98 5 11 0 25 1 11 1 145 7
Đức 39 3 1 0 - - - 40 3
Tổng cộng sự nghiệp 137 8 12 0 25 1 7 1 187 10

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 25 tháng 1 năm 2011 Sân vận động Al-Gharafa, Doha, Qatar  Hàn Quốc
2–1
2–2
Cúp bóng đá châu Á 2011

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Clark Whitney (ngày 23 tháng 12 năm 2010). “Japan International Hajime Hosogai To Join Bayer Leverkusen - Report”. Goal.com. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  2. ^ Hajime Hosogai – Thành tích thi đấu FIFA
  3. ^ Ben Collins (ngày 26 tháng 12 năm 2010). “Leverkusen agree Hosogai deal”. Sky Sports. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  4. ^ “FCA leiht Japaner Hosogai aus” [FCA loans Japanese player Hosogai] (bằng tiếng Đức). DFL. Ngày 23 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010. 
  5. ^ “HOSOGAI HEADING TO HERTHA”. Bundesliga.com. Ngày 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010. 
  6. ^ “Bundesliga: Hertha Berlin sign Bayer Leverkusen's Hajime Hosogai”. Sky Sports. Ngày 28 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013. 
  7. ^ “HOSOGAI SIGNS LOAN DEAL WITH TURKISH CLUB BURSASPOR”. Football Channel Asia. Ngày 27 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2015. 
  8. ^ “Bursaspor will Hosogais Ablöse drücken”. Kicker (bằng tiếng Đức). 31 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017. 
  9. ^ “Hajime Hosogai signs for VfB”. vfb.de. VfB Stuttgart. 25 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017. 
  10. ^ “Hajime Hosogai makes Japan move”. vfb.de. VfB Stuttgart. 24 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017. 
  11. ^ Goal.com (ngày 14 tháng 7 năm 2008). “Japan Name Olympic Squad”. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008. 
  12. ^ Gus Fielding (ngày 3 tháng 9 năm 2010). “Zaccheroni issues challenge to Blue Samurai”. Kyodo News. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010. 
  13. ^ Andrew McKirdy (ngày 5 tháng 9 năm 2010). “Kagawa's goal lifts Japan in rematch against Paraguay”. The Japan Times. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010. 
  14. ^ “Zaccheroni names Asian Cup squad”. FIFA. Ngày 24 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011. 
  15. ^ Anh Tuấn (ngày 25 tháng 1 năm 2011). “Nhật Bản vào CK khi thắng Hàn Quốc ở màn "đấu súng". Dân Trí. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]