Sân vận động Azadi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sân vận động Azadi
Sân vận động Aryamehr
Tập tin:Azadi Stadium logo.jpg.gif
Azadi Stadium 1991.PNG
Tên đầy đủSân vận động Azadi[1]
Tên cũAryamehr Stadium (1971–1979)
Vị tríTehran, Iran
Tọa độ35°43′27,99″B 51°16′31,88″Đ / 35,71667°B 51,26667°Đ / 35.71667; 51.26667
Chủ sở hữuAzadi Sport Complex
Nhà điều hànhMSYA
Tehran
Sức chứa78.116 (từ 2016)[2]
84,412 (2012–2016)[3]
95,225 (2003–2012)
100,000 (1973–2003)
Kỷ lục khán giả128,000
Iran Iran vs. Úc Úc
Kích thước sân110 m × 75 m (361 ft × 246 ft)
Mặt sânDesso GrassMaster
Bảng điểm104 m2 jumbotron
Công trình xây dựng
Khởi công1 tháng 10 năm 1970
Được xây dựng1970–1973 (3 năm)
Khánh thành18 tháng 10, 1973 (1973-10-18)
1 tháng 9, 1974 (1974-09-01) (Đại hội Thể thao châu Á 1974)
Sửa chữa lại2002–2003, 2017–
Mở rộng2002
Chi phí xây dựng2,578,183,966 tomans (400.163.944 €)
Kiến trúc sưAbdol-Aziz Mirza Farmanfarmaian
Người thuê sân
Esteghlal (1973–nay)
Persepolis (1973–nay)
Đội tuyển bóng đá quốc gia Iran (1975–nay)
Trang web
www.azadisportcomplex.com

Sân vận động Azadi (tiếng Ba Tư: ورزشگاه آزادیvarzeshgāh-e āzādi) có tên khácSân vận động Aryamehr (tiếng Ba Tư: ورزشگاه آریامهرvarzeshgāh-e āryāmehr) là một sân vận động bóng đáTehran, Iran. Sân vận động do SOM thiết kế và khánh thành vào ngày 18 tháng 10 năm 1971; nó thuộc sở hữu của Esteghlal F.C.Persepolis F.C.. Đây cũng là sân nhà của đội tuyển bóng đá quốc gia Iran. Nó có sức chứa hiện tại 78.116 khán giả,[3] mặc dù nó đã có thể ngồi nhiều hơn trong các trận đấu đặc biệt. Sân vận động là một phần của Khu liên hợp Thể thao Azadi và được bao quanh bởi một dòng sông chèo, các sân tập huấn bóng đá, khu tập cử tạ, các thiết bị bơi lội và sân bóng chuyền trong nhà và các sân bóng đá trong nhà, trong số nhiều tiện ích khác.

Aryamehr, (nghĩa là "Ánh sáng của người Arya") được đổi tên sau cuộc Cách mạng Iran thành Azadi (có nghĩa là "tự do" ở tiếng Ba Tư), là sân vận động bóng đá lớn thứ 10 trên thế giới. Nó được xây dựng để tổ chức Đại hội Thể thao châu Á 1974 và đã tổ chức cúp bóng đá châu Á 1976. Sân vận động cũng đã tổ chức trận chung kết AFC Champions League hai lần: vào năm 1999 và 2002.

Địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động nằm ở phía Tây Tehran, gần huyện Ekbatan, và dễ dàng tiếp cận được với hầu hết mọi người sống trong thành phố. Sân vận động có hai lối vào. Phía Tây lối vào nằm trên đường Ferdous và lối vào phía Đông nằm trên phố Farhangian.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

West façade of the stadium

Khu liên hợp thể thao Azadi được Công ty Xây dựng Arme xây dựng cho Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 7 năm 1974 với tiêu chí quốc tế. Điện tích đất đai của nó là 450 héc-ta và nó nằm ở Tây Tehran. Khu liên hợp thể thao này không chỉ có khả năng thực hiện các lĩnh vực thể thao địa phương khác nhau mà còn là nơi thích hợp để tổ chức các buổi lễ, các cuộc họp, các buổi lễ khác nhau của các tổ chức chính phủ và tổ chức bình thường, và các trại thể thao.

Mặc dù cấu trúc bê tông đơn giản, sân vận động là một quang cảnh tuyệt đẹp. Nằm ở phía tây của thủ đô, một vỏ ngoài cong, hơi nhô ra dường như nhường chỗ cho các chòi quét đứng xuống sân, như thể mặt đất sụp xuống trong suốt quá trình xây dựng. Sân vận động là tiêu điểm vào năm 1977 của gói thầu Tehran cho thế vận hội Mùa he 1984, trong đó chỉ cần có sự điều chỉnh nhẹ để trở thành Sân vận động Olympic chính, nếu Tehran thắng thầu năm 1984. Cuối cùng các vấn đề chính trị đã cho thấy Tehran bỏ thầu năm 1984, từ bỏ chủ nhà cuối cùng, Los Angeles, thành phố duy nhất còn lại đấu thầu.

Vào năm 2002, tầng thấp hơn của sân vận động đã được lắp đặt, sân được bổ sung cùng với việc lắp đặt một hệ thống sưởi ấm ngầm. Quản lý sân vận động cũng lên kế hoạch lắp đặt chỗ ngồi ở tầng trên của sân vận động. Việc tân trang hoàn thành vào năm 2003, sân vận động đã được tân trang với 35.000 chỗ. Mặc dù sức chứa giảm xuống, sân vận động Azadi đã được lấp đầy chỗ ngồi vào các thời điểm như trận đấu vòng loại World Cup 2006 Iran-Nhật Bản vào tháng 3 năm 2005, dẫn đến cái chết của 7 người. Vào năm 2004, một chiếc TV jumbotron lớn đã được bổ sung, thay thế bảng điểm gốc. Màn hình khổng lồ này có diện tích khoảng 300 mét vuông và diện tích màn hình là 104 mét vuông (20 m x 7.5 m) là một trong những nơi lớn nhất trên thế giới. Sân vận động này đã tổ chức hai lần Giải vô địch bóng đá Tây Á vào năm 2004 và 2008. Trong năm 2008, AFC đã buộc Sepahan phải thi đấu trận đấu tại AFC Champions League tại sân vận động này sau khi sân vận động Naghsh-e-Jahan đóng cửa để cải tạo. Sân vận động cũng là chủ nhà thường xuyên cho U-21 Iran cho vòng loại Olympics bóng đá.

Sự kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Xây dựng và trang thiết bị[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến trúc sư của sân vận động là Abdolaziz FarmanfarmaianSkidmore, Owings & Merrill. Ban đầu, sân vận động có sức chứa tối đa 120000 khách nhưng đã giảm xuống còn 84000 sau khi tân trang lại vào năm 2003. Trong những dịp lớn, đám đông trở nên ngoại cỡ. Thiết kế của sân vận động khiến khuếch đại tiếng ồn trên sân. Các đội đối phương thường cảm thấy khó có thể chơi tốt nhất khi sân vận động đông, vì mức độ tiếng ồn rất cao. Theo goal.com, sân vận động Azadi được đánh giá là đáng sợ nhất ở châu Á. Kỹ sư kết cấu cho sân vận động là James Raymond Whittle từ Newcastle, Anh.

Di chuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Có đủ chỗ bãi xe cho 400 xe ô tô bên trong sân vận động, và thêm 10.000 chỗ đỗ xe bên ngoài. Ga tàu điện ngầm gần nhất là Ga tàu điện ngầm sân vận động Azadi.

Kỷ lục khán giả[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục khán giả tại sân vận động Azadi là hơn 128.000 tại vòng loại Giải bóng đá vô địch thế giới 1998 trong trận gặp đội tuyển Úc.[4]

Thư viện hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

thumb|right|Sân vận động Azadi, Tehran

Toàn cảnh

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Azadi Stadium Guide - FIFA.com”. fifa.com. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015. 
  2. ^ 22 هزار نفر از ظرفیت آزادی کم شد
  3. ^ a ă “Azadi Stadium | TeamMelli”. teammelli.com. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015. 
  4. ^ “Iran comeback breaks Aussie hearts”. fifa.com. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 35°43′27,99″B 51°16′31,98″Đ / 35,71667°B 51,26667°Đ / 35.71667; 51.26667

Sự kiện và đơn vị thuê sân
Tiền nhiệm:
Sân vận động Quốc gia
Băng Cốc
Asian Games
Lê khai mạc và bế mạc

1974
Kế nhiệm:
Sân vận động Quốc gia
Băng Cốc
Tiền nhiệm:
Sân vận động Quốc gia
Băng Cốc
AFC Asian Cup
Địa điểm chung kết

1976
Kế nhiệm:
Sân vận động Sabah Al-Salem
Kuwait City
Tiền nhiệm:
Sân vận động Hồng Kông
Hồng Kông
Asian Club Championship
Địa điểm chung kết

1999
Kế nhiệm:
Sân vận động King Fahd
Riyadh
Tiền nhiệm:
Sân vận động Suwon World Cup
Suwon
Asian Club Championship
Địa điểm chung kết

2002
Kế nhiệm:
Vacant
(Chúng kết 2 lượt)
Tiền nhiệm:
Sân vận động Abbasiyyin
Damascus
Giải vô địch bóng đá Tây Á
Địa điểm chung kết

2004
Kế nhiệm:
Sân vận động Quốc tế Amman
Amman
Tiền nhiệm:
Sân vận động Quốc tế Amman
Amman
Giải vô địch bóng đá Tây Á
Đia điểm chung kết

2008
Kế nhiệm:
Sân vận động Quốc vương Abdullah
Amman