Bước tới nội dung

TSG 1899 Hoffenheim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
TSG Hoffenheim
Tên đầy đủTurn- und Sportgemeinschaft
1899 Hoffenheim e.V.
Biệt danhDie Kraichgauer (Những người con vùng Kraichgau)[1][2][3]
Thành lập1 tháng 7 năm 1899; 126 năm trước (1899-07-01)
SânPreZero Arena
Sức chứa30.150[4]
Chủ sở hữuDietmar Hopp
Chủ tịchJörg Albrecht[5]
Người quản lýChristian Ilzer
Giải đấuGiải bóng đá vô địch quốc gia Đức
2024–25Giải bóng đá vô địch quốc gia Đức, thứ 15 trên 18
Websitetsg-hoffenheim.de
Mùa giải hiện nay

Turn- und Sportgemeinschaft 1899 Hoffenheim e.V. (phát âm [ˈtʊʁn ʔʊnt ˈʃpɔʁtɡəˌmaɪnʃaft ˌʔaxtseːnˈhʊndɐt ˌnɔʏnʔʊntˈnɔʏntsɪç ˈhɔfn̩haɪm]), thường được biết đến là TSG Hoffenheim (phát âm [ˌteːʔɛsˈɡeː ˈhɔfn̩haɪm]), là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Đức có trụ sở ở Sinsheim.

Ban đầu được thành lập vào năm 1899 với tư cách là một câu lạc bộ thể dục dụng cụ, câu lạc bộ chính thức hoạt động theo mô hình hiện đại kể từ năm 1945. Vào năm 2000, đội bóng còn chơi ở giải hạng năm của Đức, nhưng chỉ 8 năm sau, tức năm 2008, đội bóng đã lên chơi ở Bundesliga với sự hậu thuẫn tài chính của cựu sinh viên và ông trùm phần mềm Dietmar Hopp. Tại mùa giải 2017-18, Hoffenheim cán đích Bundesliga ở vị trí thứ 3 (thành tích tốt nhất trong lịch sử câu lạc bộ) và lần đầu tiên được tham dự khuôn khổ vòng bảng của UEFA Champions League.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng hiện đại ngày nay được thành lập vào năm 1945, khi câu lạc bộ thể thao Turnverein Hoffenheim (thành lập vào ngày 1 tháng 7 năm 1899) và câu lạc bộ bóng đá Fußballverein Hoffenheim (thành lập năm 1921) được sáp nhập. Đầu những năm 1990, đội bóng còn chơi ở giải nghiệp dư thuộc địa phương tức giải hạng tám của nước Đức (Baden-Württemberg A-Liga). Sau đó họ đã tiến bộ lên nhiều và vào năm 1996 họ đã chơi ở giải hạng năm Verbandsliga Nordbaden.

Vào khoảng những năm 2000, chủ tịch Dietmar Hopp trở lại đội bóng là quê hương của mình. Hopp là nhà đồng sáng lập của hãng phần mềm SAP và đã đầu tư tiền vào đội bóng. Những đóng góp của ông gần như ngay lập tức phát huy tác dụng: Vào năm 2000, Hoffenheim về đích với vị trí thứ nhất ở giải hạng năm nước Đức và được thăng hạng lên giải hạng tư Oberliga Baden-Württemberg. Thêm một chức vô địch nữa giúp họ được lên chơi ở giải hạng ba (Regionalliga Süd) vào mùa giải 2001-2002. Họ về đích với vị trí thứ 13 trong mùa giải đầu tiên ở giải hạng 3, nhưng đã tiến bộ ở mùa giải tiếp đó và về đích với vị trí thứ 5.

Hoffenheim về đích với các vị trí thứ 5 và 7 ở hai mùa giải tiếp theo, trước khi về đích ở vị trí thứ 4 ở mùa giải 2005-06 (thành tích tốt nhất lúc đó). Lần đầu tiên đội bóng góp mặt ở cúp quốc gia Đức là vào mùa giải 2003-04 và đã lọt vào tứ kết khi lần lượt đánh bại các đại diện từ Giải hạng Hai ĐứcEintracht Trier, Karlsruher và đặc biệt là đại diện đến từ Bundesliga Bayer Leverkusen trước khi bị loại bởi đại diện từ Giải hạng Hai Đức VfB Lübeck.

Kế hoạch sáp nhập ba đội bóng TSG Hoffenheim, FC Astoria WalldorfSV Sandhausen để thành lập đội FC Heidelberg vào năm 2005 đã không thành công do các đội bóng không thể đạt được thoả thuận về việc sẽ đặt sân nhà ở Heidelberg hay Eppelheim. Chủ tịch Hopp muốn đặt sân nhà ở Heidelberg nhưng lại vấp phải sự phản đối của công ty Wild, nơi được cho là sẽ được phá đi để xây sân mới.

Giai đoạn 2006–2008: Đầu tư mạnh và thăng hạng lên Bundesliga

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2006, đội bóng muốn tăng chất lượng đội hình và đội ngũ kỹ thuật bằng việc mua những cầu thủ có kinh nghiệm chơi ở Bundesliga, trong đó đáng chú ý nhất là hai cầu thủ Jochen Seitz và Tomislav Marić, cùng với các tài năng trẻ như Sejad Salihović và ký hợp đồng 5 năm với huấn luyện viên Ralf Rangnick, người từng huấn luyện SSV Ulm 1846, VfB Stuttgart, Hannover 96Schalke 04. Khoản đầu tư đã được đền đáp vào mùa giải 2006–07 với việc câu lạc bộ thăng lên hạng 2 Bundesliga sau khi về nhì ở giải hạng ba Đức Regionalliga Süd.

Mùa giải 2007–08 là mùa giải chơi bóng chuyên nghiệp đầu tiên của Hoffenheim. Sau sự khởi đầu yếu kém với ba trận thua và chỉ một trận hòa trong bốn trận đầu tiên, thành tích của đội đã được cải thiện đáng kể và Hoffenheim đã leo từ vị trí thứ 16 ở vòng 4 lên vị trí thứ hai ở vòng 23. Đội đã cố gắng bảo vệ vị trí của mình cho đến khi kết thúc mùa giải, dành được 60 điểm sau 34 trận đấu. Nhờ vào việc cán đích ở vị trí thứ hai, câu lạc bộ nghiễm nhiên được thăng hạng lên chơi ở Bundesliga, hạng đấu cao nhất của bóng đá Đức, sau khi chỉ chơi ở giải hạnng Hai Bundesliga đúng một mùa giải.

Giai đoạn 2008–nay: Sự thăng tiến của đội bóng và lần đầu được tham dự Champions League

[sửa | sửa mã nguồn]

Hoffenheim trải qua mùa giải 2008-09 đầy thành công trong lần đầu được tham dự Bundesliga, hạng đấu cao nhất của bóng đá Đức, khi họ cán đích ở vị trí thứ 7. Những cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của câu lạc bộ là Vedad IbiševićDemba Ba, bộ đôi tiền đạo đã ghi được lần lượt 18 và 14 bàn thắng.[6] Mùa giải 2009–10 là mùa giải kém thành công hơn khi câu lạc bộ chỉ có được vị trí ở ngoài top 10 khi cán đích ở vị trí thứ 11.[7] Câu lạc bộ thậm chí còn tiếp tục cán đích ở vị trí thứ 11 trong hai mùa giải liên tiếp sau đó.[8][9] Đến mùa giải 2012–13, câu lạc bộ còn suýt chút nữa phải xuống hạng khi chỉ cán đích ở vị trí thứ 16 và buộc phải tham dự trận play-off xuống hạng; nhờ vào việc đánh bại Kaiserslautern với tổng tỷ số 5–2 sau hai lượt trận với cú đúp của Roberto Firmino trong trận lượt đi mà câu lạc bộ đã trụ hạng thành công.[10][11][12] Mùa giải 2013–14, câu lạc bộ kết thúc mùa giải với những thống kê rất kỳ lạ khi là đội có thành tích ghi bàn tốt thứ 3 giải đấu nhưng đồng thời là đội có hàng phòng ngự tệ nhất, ghi 72 bàn thắng và nhận 70 bàn thua.[13] Cần thủ ghi bàn tốt nhất đồng thời kiến tạo nhiều nhất mùa giải đó của câu lạc bộ là Roberto Firmino, anh đã ghi được 16 bàn thắng và có 12 kiến tạo, nhờ vậy mà anh giành được giải cầu thủ đột phá mùa giải của Bundesliga.[14][15][16] Đến mùa giải 2014–15, câu lạc bộ đã tiến rất gần đến vị trí tham dự Europa League khi chỉ kém điểm so với Borussia Dortmund, đội bóng cán đích ở vị trí thứ 7. Mặc dù cán đích ở vị trí thứ 8, Hoffenheim chỉ có hiệu số là −6 ở mùa giải 2014-15.[17] Ở mùa giải 2015–16, câu lạc bộ thêm một lần nữa suýt rớt hạng khi chỉ hơn 1 điểm so với vị trí phải đá trận play-off xuống hạng.[18]

Tại mùa giải 2016–17, dưới sự tiếp quản của huấn luyện viên mới Julian Nagelsmann,[19] ông bắt đầu chiêu mộ nhiều cầu thủ nổi bật như Andrej Kramarić, Kerem DemirbaySandro Wagner.[20][21][22] Ban đầu, câu lạc bộ gặp khó khăn về mặt phong độ với 4 trận hòa sau 4 trận đấu đầu tiên,[23] trước khi vào form và thăng tiến lên vị trí thứ ba tại giải đấu vào cuối tháng 10.[24] Vào ngày 4 tháng 4 năm 2017, câu lạc bộ đánh bại Bayern Munich với tỷ số 1–0, đây là một trong những trận tháng vang dội nhất lịch sử câu lạc bộ.[25] Ngày 21 tháng 4 năm 2017, câu lạc bộ chính thức được tham dự giải bóng đá châu Âu vào mùa giải tới sau trận hòa 1–1 với Köln.[26] Sau khi giành được vị trí thứ 4 ở mùa giải 2016–17, Hoffenheim chính thức được tham dự Champions League mùa giải 2017–18.[27] Tại vòng play-off, lá thăm may rủi khiến Hoffenheim phải đụng độ nhà vô địch châu Âu sáu lần Liverpool.[28][29] Hoffenheim thua 1-2 ở trận lượt đi trước khi thu tiếp 4-2 ở trận lượt về và bị loại khỏi giải đấu sau khi thất bại với tổng tỷ số 3–6.[30][31] Do bị loại ở vòng play-offs, câu lạc bộ phải xuống chơi ở vòng bảng Europa League mùa giải 2017-18 nhưng ngay lập tức bị loại khi xếp cuối ở bảng đấu của mình.[32]

Tại mùa giải 2017–18, Hoffenheim tiếp tục trải qua một mùa giải thành công khi cán đích ở vị trí thứ 3 đồng nghĩa với một suất tham dự trực tiếp vòng bảng UEFA Champions League vào năm sau.[33]

Mùa giải 2018–19 là một mùa giải thất vọng của Hoffenheim, họ xếp cuối ở lượt trận vòng bảng Champions League với chỉ 3 trận hòa và 3 trận thua khi đối đầu với Manchester City, LyonShakhtar Donetsk. Điều này đồng nghĩa với việc họ thêm một lần nữa bị loại khỏi giải đấu châu Âu ngay từ vòng bảng. Tại Bundesliga thành tích của Hoffenheim cũng không khá hơn khi chỉ cán đích ở vị trí thứ 9, thấp hơn 6 bậc so với vị trí thứ 3 ở mùa giải 2017–18 với 51 điểm. Vị trí này chỉ kém 2 bậc và 3 điểm so với vị trí được tham dự vòng sơ loại Europa League. Tại Cúp bóng đá Đức, Hoffenheim bị RB Leipzig loại sau trận thua với tỷ số 2–0 với 2 bàn thắng đều được ghi bởi Timo Werner. Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho câu lạc bộ là Andre Kramarić, tiền đạo người Croatia đã ghi được cho mình 22 bàn thắng sau 37 lần có mặt trên sân. Tiền vệ người Đức Kerem Demirbay là cầu thủ kiến thiết số 1 của đội với 11 kiến tạo trong mùa giải 2018–19. Huấn luyện viên trưởng Julian Nagelsmann rời câu lạc bộ để gia nhập RB Leipzig vào cuối mùa giải. Alfred Schreuder, cựu trợ lý dưới quyền của Huub Stevens và Julian Nagelsmann đã được bổ nhiệm lên làm huấn luyện viên trưởng mới.

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 31 tháng 8 năm 2025[34]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Đức Oliver Baumann (đội trưởng)
2 HV Séc Robin Hranáč
5 HV Thổ Nhĩ Kỳ Ozan Kabak
6 TV Đức Grischa Prömel
7 TV Kosovo Leon Avdullahu
8 TV Đức Dennis Geiger
9 Togo Ihlas Bebou
10 TV Đức Muhammed Damar
11 Kosovo Fisnik Asllani
13 HV Brasil Bernardo
15 HV Pháp Valentin Gendrey
17 TV Đức Umut Tohumcu
18 TV Hà Lan Wouter Burger
19 Đức Tim Lemperle
21 HV Kosovo Albian Hajdari
Số VT Quốc gia Cầu thủ
22 TV Áo Alexander Prass
23 Séc Adam Hložek
24 Pháp David Mokwa
25 HV Nigeria Kevin Akpoguma
27 Croatia Andrej Kramarić
28 HV Nhật Bản Kōki Machida
29 Bờ Biển Ngà Bazoumana Touré
32 Đức Mërgim Berisha
33 Đức Max Moerstedt
34 HV Séc Vladimír Coufal
35 HV Brasil Arthur Chaves
36 TM Iceland Lúkas Petersson
37 TM Đức Luca Philipp
38 Đức Deniz Zeitler

Cho mượn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
TM Đức Nahuel Noll (tại Hannover 96 đến 30 tháng 6 năm 2026)
HV Nigeria Emmanuel Chukwu (tại Wolfsberg đến 30 tháng 6 năm 2026)
HV Đức Tim Drexler (tại 1. FC Nürnberg đến 30 tháng 6 năm 2026)
HV Pháp Stanley Nsoki (tại Union Berlin đến 30 tháng 6 năm 2026)
HV Hungary Attila Szalai (tại Kasımpaşa đến 30 tháng 6 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV Áo Florian Micheler (tại Arminia Bielefeld đến 30 tháng 6 năm 2026)
Đức Bambasé Conté (tại SV Elversberg đến 30 tháng 6 năm 2026)
Bosna và Hercegovina Haris Tabaković (tại Borussia Mönchengladbach đến 30 tháng 6 năm 2026)
Thổ Nhĩ Kỳ Erencan Yardımcı (tại Eintracht Braunschweig đến 30 tháng 6 năm 2026)
Nigeria Gift Orban (tại Verona đến 30 tháng 6 năm 2026)

Ban lãnh đạo

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội một

[sửa | sửa mã nguồn]
Huấn luyện viên trưởng Đức André Breitenreiter
Trợ lý huấn luyện còn trống
Trợ lý huấn luyện Đức Matthias Kaltenbach
Huấn luyện thủ môn Đức Michael Rechner
Huần luyện thể chất Đức Christian Weigl
Huần luyện phục hồi Đức Otmar Rösch

Sân vận động

[sửa | sửa mã nguồn]
PreZero Rhein-Neckar-Arena, sân vận động hiện tại của câu lạc bộ.

Trước khi được lên chơi ở Bundesliga, đội bóng chơi ở sân Dietmar-Hopp-Stadion. Sân được xây vào năm 1999 với sức chứa 5.000 khán giả (1.620 chỗ ngồi).

TSG 1899 Hoffenheim chứng tỏ khát vọng của họ vào năm 2006 khi ban lãnh đạo đội bóng quyết định xây sân vận động Rhein-Neckar-Arena có sức chứa 30.150 chỗ ngồi phù hợp cho các trận đấu ở Bundesliga. Sân vận động ban đầu có kế hoạch xây ở Heidelberg nhưng sau đó lại chọn xây ở Sinsheim.

Họ mở màn mùa giải Bundesliga đầu tiên ở sân Carl-Benz-Stadion với sức chứa 26.022 chỗ ngồi ở Mannheim và chơi trận đầu tiên ở sân nhà mới của mình vào ngày 31 tháng 1 năm 2009.[35]

Công ty các cược Interwetten đã đồng ý trở thành đối tác các cược của sân vận động của TSG Hoffenheim thừ tháng 8 năm 2017 đến năm 2020.[36]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cầu thủ đáng chú ý

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cựu huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Öhlschläger, Andreas (ngày 2 tháng 2 năm 2024). "TSG 1899 Hoffenheim in Wolfsburg: Wie die Kraichgauer aus der Krise kommen wollen". STIMME (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2024.
  2. ^ "Hoffenheim knackt die 50-Millionen-Grenze". kicker (bằng tiếng Đức). ngày 27 tháng 8 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2024.
  3. ^ "Champions League: Hoffenheim key facts". Manchester City F.C. ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2024.
  4. ^ "Daten & Fakten » TSG Hoffenheim". TSG 1899 Hoffenheim (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2024.
  5. ^ ""Aufruhr" abgewendet – Jörg Albrecht neuer Präsident der TSG Hoffenheim". S. W. R. Sport (bằng tiếng Đức). ngày 2 tháng 9 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2024.
  6. ^ Germany, kicker, Nürnberg. "Bundesliga 2008/09 – Torjägerliste". kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  7. ^ "Bundesliga – Die offizielle Webseite". ngày 6 tháng 2 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  8. ^ Germany, kicker, Nürnberg. "Bundesliga 2010/11, der 34. Spieltag". kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  9. ^ Germany, kicker, Nürnberg. "Bundesliga 2011/12, der 34. Spieltag". kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  10. ^ Germany, kicker, Nürnberg. "Bundesliga 2012/13, der 34. Spieltag". kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  11. ^ Germany, kicker, Nürnberg. "Firmino bringt Hoffenheim dem Ligaerhalt nahe: TSG Hoffenheim – 1. FC Kaiserslautern 3:1 (2:0)". kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  12. ^ Germany, kicker, Nürnberg. "Hoffenheim bleibt in der Bundesliga: 1. FC Kaiserslautern – TSG Hoffenheim 1:2 (0:1)". kicker (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  13. ^ "Spieltag/Tabelle". DFB – Deutscher Fußball-Bund e.V. (bằng tiếng Đức). ngày 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  14. ^ "Breakthrough Player of the season". bundesliga.com – the official Bundesliga website. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  15. ^ "Bundesliga (2013–14)- Top goal scorers and assist leaders". ngày 13 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  16. ^ "Bundesliga 2013–14 Top Scorers Football". sportsmole.co.uk. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  17. ^ "Spieltag/Tabelle". DFB – Deutscher Fußball-Bund e.V. (bằng tiếng Đức). ngày 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  18. ^ "Spieltag/Tabelle". DFB – Deutscher Fußball-Bund e.V. (bằng tiếng Đức). ngày 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  19. ^ Reuters (ngày 27 tháng 10 năm 2015). "Hoffenheim appoint 28-year-old Julian Nagelsmann as manager for next season". The Guardian. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018. {{Chú thích web}}: |last= có tên chung (trợ giúp)
  20. ^ "Hoffenheim sign Sandro Wagner from Darmstadt | bundesliga.com". bundesliga.com – the official Bundesliga website. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  21. ^ Walsh, Jonathan (ngày 13 tháng 7 năm 2016). "Demirbay swaps HSV for Hoffenheim". VAVEL.com. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  22. ^ "From fourth division to Europe: Kerem Demirbay's remarkable two-year ascension | Cologne 1–1 Hoffenheim". bundesliga.com – the official Bundesliga website. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  23. ^ "Spieltag/Tabelle". DFB – Deutscher Fußball-Bund e.V. (bằng tiếng Đức). ngày 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  24. ^ "Spieltag/Tabelle". DFB – Deutscher Fußball-Bund e.V. (bằng tiếng Đức). ngày 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  25. ^ "TSG Hoffenheim 1–0 Bayern Munich". BBC Sport. ngày 4 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  26. ^ "Spieltag/Tabelle". DFB – Deutscher Fußball-Bund e.V. (bằng tiếng Đức). ngày 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  27. ^ "Spieltag/Tabelle". DFB – Deutscher Fußball-Bund e.V. (bằng tiếng Đức). ngày 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  28. ^ "Liverpool to play Hoffenheim in Champions League playoff round". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  29. ^ Bascombe, Chris; Davis, Callum (ngày 4 tháng 8 năm 2017). "Champions League draw: Liverpool paired with Hoffenheim in play-off for place in the group stages". The Telegraph. ISSN 0307-1235. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  30. ^ "Hoffenheim 1–2 Liverpool". BBC Sport. ngày 15 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  31. ^ "Liverpool 4–2 1899 Hoffenheim (agg 6–3)". BBC Sport. ngày 23 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  32. ^ "Europa League (Sky Sports)". SkySports. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  33. ^ "Spieltag/Tabelle". DFB – Deutscher Fußball-Bund e.V. (bằng tiếng Đức). ngày 18 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018.
  34. ^ "Squad First team". TSG 1899 Hoffenheim. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2023.
  35. ^ Wirsol Rhein-Neckar-Arena (bằng tiếng Đức) weltfussball.de. Retrieved 18 September 2011
  36. ^ "Interwetten partners with Hoffenheim – Slotsday". Slotsday. ngày 12 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2017.