Đội tuyển bóng đá quốc gia Thái Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Thái Lan
Huy hiệu áo/huy hiệu Hiệp hội
Biệt danhช้างศึก
(Voi chiến)
Hiệp hộiFAT
Liên đoàn châu lụcAFC (châu Á)
Huấn luyện viên trưởngAlexandré Pölking
Đội trưởngSivarak Tedsungnoen
Thi đấu nhiều nhấtKiatisuk Senamuang (134)
Ghi bàn nhiều nhấtKiatisuk Senamuang (77)
Sân nhàRajamangala
Mã FIFATHA
Áo màu chính
Áo màu phụ
Áo màu khác
Hạng FIFA
Hiện tại 113 Giữ nguyên (16 tháng 7 năm 2020)[1]
Cao nhất43 (9.1998)
Thấp nhất165 (10.2014)
Hạng Elo
Hiện tại 116 Tăng 12 (1 tháng 8 năm 2020)[2]
Cao nhất62 (1.2001)
Thấp nhất137 (4.1985)
Trận quốc tế đầu tiên
 Đài Loan 6–1 Thái Lan 
(Bangkok,Thái Lan; 20 tháng 8 năm 1948)
Trận thắng đậm nhất
 Thái Lan 10–0 Brunei 
(Bangkok, Thái Lan; 24 tháng 5 năm 1971)
Trận thua đậm nhất
 Anh 9–0 Thái Lan 
(Melbourne, Úc; 30 tháng 11 năm 1956)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Thái Lan (tiếng Thái: ฟุตบอลทีมชาติไทย, RTGS: futbon thim chat thai, phát âm tiếng Thái: [fút.bɔ̄n tʰīːm t͡ɕʰâːt tʰāj]) là đội tuyển bóng đá đại diện cho Thái Lan do Hiệp hội bóng đá Thái Lan (FAT) quản lý.

Thái Lan đã 7 lần tham dự Cúp bóng đá châu Á và đạt hạng 3 vòng chung kết năm 1972, kỳ đầu tiên Thái Lan là chủ nhà đăng cai. Thành tích tại đấu trường châu lục của Thái Lan cải thiện chậm hơn; đội giành chiến thắng đầu tiên tại Asian Cup vào năm 2007 và sau 47 năm mới vượt qua vòng bảng ở giải đấu năm 2019. Ngoài ra đội từng có 2 lần giành hạng tư ở ASIAD và 2 lần tham dự Olympic. Thái Lan chưa bao giờ vượt qua vòng loại World Cup nhưng đã từng góp mặt ở vòng loại cuối cùng vào các năm 2002 và 2018. Là bá chủ các giải đấu thuộc khu vực Đông Nam Á, Thái Lan đã 5 lần giành ngôi vương tại giải vô địch khu vực với lần gần nhất là vào năm 2016. Ngoài ra đội cũng nắm giữ kỷ lục 9 lần vô địch SEA Games ở cấp độ đội tuyển quốc gia.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển bóng đá Thái Lan thời kỳ đầu.

Tuyển Thái Lan tiền thân là Đội tuyển bóng đá quốc gia Xiêm ra đời năm 1915 và có trận đấu đầu tiên vào ngày 20 tháng 12 năm 1915 gặp đội những người Âu sống tại Thái Lan tổ chức tại sân vận động của câu lạc bộ thể thao Hoàng gia Trat. Vào ngày 25 tháng 4 năm 1916, Vua Vajiravudh Rama VI cho thành lập Hiệp hội bóng đá Xiêm.

Năm 1930, có lời mời đội tuyển Xiêm sang Đông Dương tham gia thi đấu giao hữu gặp đội tuyển Đông Dương tập hợp bởi các cầu thủ Nam kỳ và một số cầu thủ người Pháp. Các trận đấu trong khuôn khổ giải giao hữu diễn ra từ ngày 14 cho đến ngày 20 tháng 4. Có ai đó coi đây là trận đấu quốc tế không chính thức đầu tiên của đội. Vào năm 1949, nhà nước Xiêm đổi tên thành Thái Lan, hiệp hội và đội tuyển bóng đá Xiêm cũng theo đó đổi tên.

Năm 1956, tuyển Thái Lan tham dự giải đấu cấp độ thế giới đầu tiên khi đăng ký tham gia thi đấu tại Thế vận hội Mùa hè Melbourne 1956. Đội thua trận đầu tiên và cũng là duy nhất gặp Liên hiệp Anh với tỉ số 0–9, thất bại nặng nề nhất trong lịch sử của đội, đồng thời mất cơ hội chơi trận tứ kết.

Năm 1965, Thái Lan giành danh hiệu quốc tế đầu tiên khi đoạt huy chương đồng bộ môn bóng đá tại Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1965 tổ chức tại Kuala Lumpur. Từ đó đến kỳ đại hội năm 1999 (kì Đại hội cuối cùng dành cho đội tuyển quốc gia), đội có thêm 8 lần vô địch. Năm 1996, Thái Lan đăng quang danh hiệu AFF Cup đầu tiên tổ chức ở Singapore và từ đó họ có thêm 4 lần giành chức vô địch. Thái Lan là đội bóng có nhiều lần đăng quang nhất ở cả hai sân chơi khu vực là SEA Games và AFF Cup.

Ở đấu trường châu lục, Thái Lan từng đạt hạng ba tại Cúp bóng đá châu Á 1972 khi là nước chủ nhà đăng cai vòng chung kết. Thái Lan cũng lần nữa là chủ nhà của một kỳ Asian Cup vào năm 2007 khi cùng đăng cai giải đấu với 3 quốc gia Đông Nam Á khác là Indonesia, MalaysiaViệt Nam. Giải năm ấy, đội dừng bước ở vòng bảng sau khi thua Úc 0-4 dù trước đó đã cầm hòa đội vô địch giải đấu Iraq 1-1 và đánh bại Oman 2-0. Thái Lan cũng từng hai lần giành hạng tư ở ASIAD vào các năm 1994 và 1998.

Đội tuyển Thái Lan trước trận gặp Bahrain tại Cúp bóng đá châu Á 2019.

Là thế lực thống trị Đông Nam Á nhưng tại các đấu trường rộng lớn hơn thì Thái Lan chưa có sự đột phá hay bước tiến nào đáng kể.[3] Phải mất 47 năm kể từ năm 1972, họ mới có lần thứ hai vượt qua vòng bảng Cúp bóng đá châu Á 2019 và dừng bước trước Trung Quốc tại vòng 16 đội. Nhờ thành công trong việc lọt vào vòng đấu loại trực tiếp, đội đã nhận thưởng từ FAT và các nhà tài trợ ít nhất 25 triệu bạt.[4]

Thái Lan từng hai lần lọt vào vòng đấu cuối cùng của vòng loại World Cup vào các năm 20022018 nhưng đều thất bại trong việc giành vé dự vòng chung kết.

Giải vô địch thế giới
Năm Thành tích St T H B Bt Bb
1930 đến 1970 Không tham dự
1974 đến 2022 Không vượt qua vòng loại
CanadaMéxicoHoa Kỳ 2026 Chưa xác định
Tổng cộng - - - - - - -
Thế vận hội
Năm Thành tích St T H B Bt Bb
1900 đến 1952 Không tham dự
Úc 1956 Vòng 1 1 0 0 1 0 9
1960 đến 1964 Không vượt qua vòng loại
México 1968 Vòng bảng 3 0 0 3 1 19
1972 Không vượt qua vòng loại
1976 đến 1980 Không tham dự
1984 đến 1988 Không vượt qua vòng loại
Tổng cộng 2 lần vòng bảng 4 0 0 4 1 28
Cúp châu Á
Năm Thành tích St T H B Bt Bb
1956 đến 1964
Không tham dự
1968
Loại từ vòng ngoài
Thái Lan 1972
Hạng ba
5
0 3 2 6 9
1976
Bỏ cuộc
1980 đến 1988
Loại từ vòng ngoài
Nhật Bản 1992
Vòng 1
3 0 2 1 1 5
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 1996
Vòng 1
3 0 0 3 2 13
Liban 2000
Vòng 1
3 0 2 1 2 4
Trung Quốc 2004
Vòng 1
3 0 0 3 1 9
IndonesiaMalaysiaThái LanViệt Nam 2007 Vòng 1 3 1 1 1 3 5
2011 đến 2015
Loại từ vòng ngoài
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 2019
Vòng 2
4
1
1
2
4
7
Tổng cộng
Hạng ba
24
2
9
13
19
52
Á vận hội
Năm Thành tích St T H B Bt Bb
1951 đến 1962
Không tham dự
Thái Lan 1966
Tứ kết
4
1
1
2
5
8
Thái Lan 1970
Tứ kết
4
1
2
1
6
6
Iran 1974
Vòng 1
2
0
0
2
2
4
Thái Lan 1978
Vòng 2
5
2
0
3
6
12
Ấn Độ 1982
Vòng 1
3
1
0
2
3
5
Hàn Quốc 1986
Vòng 1
4
1
1
2
8
4
Trung Quốc 1990
Bán kết
6
3
1
2
5
3
Nhật Bản 1994
Vòng 1
4
0
1
3
8
12
Thái Lan 1998
Bán kết
8
4
1
3
12
10
Tổng cộng
Bán kết
40
13
7
20
55
64
Giải vô địch Đông Nam Á
Năm Thành tích St T H B Bt Bb
Singapore 1996
Vô địch
6
5
1
0
18
3
Việt Nam 1998
Hạng tư
5
2
2
1
10
10
Thái Lan 2000
Vô địch
5
5
0
0
15
3
Indonesia Singapore 2002
Vô địch
5
2
2
1
13
7
Malaysia Việt Nam 2004
Vòng 1
4
2
1
1
13
4
Singapore Thái Lan 2007
Á quân
7
3
3
1
10
4
Indonesia Thái Lan 2008
Á quân
7
5
1
1
15
4
Indonesia Việt Nam 2010
Vòng 1
3
0
2
1
3
4
Malaysia Thái Lan 2012
Á quân
7
5
1
1
14
6
Singapore Việt Nam 2014
Vô địch
7
6
1
1
17
6
Myanmar Philippines 2016
Vô địch
7
6
0
1
12
4
2018
Bán kết
6
3
3
0
17
5
Tổng cộng
Vô địch
69
43
17
9
158
60
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
Năm Thành tích St T H B Bt Bb
Thái Lan 1959
Á quân
4
2
0
2
9
10
Myanmar 1961
Hạng ba
3
1
2
0
7
4
Malaysia 1965
Vô địch
3
2
1
0
6
3
Thái Lan 1967
Hạng ba
4
2
0
2
9
8
Myanmar 1969
Á quân
3
1
1
1
4
4
Malaysia 1971
Hạng ba
5
1
2
2
7
8
Singapore 1973
Vòng 1
2
0
1
1
1
2
Thái Lan 1975
Vô địch
3
1
2
0
5
4
Malaysia 1977
Á quân
4
1
1
2
3
6
Indonesia 1979
Hạng ba
5
2
2
1
6
5
Philippines 1981
Vô địch
4
2
2
0
9
6
Singapore 1983
Vô địch
5
3
1
1
10
4
Thái Lan 1985
Vô địch
4
3
1
0
17
1
Indonesia 1987
Hạng ba
4
2
1
1
7
3
Malaysia 1989
Hạng tư
4
1
2
1
5
3
Philippines 1991
Á quân
4
2
1
1
10
2
Singapore 1993
Vô địch
6
6
0
0
18
6
Thái Lan 1995
Vô địch
6
5
1
0
19
2
Indonesia 1997
Vô địch
6
4
2
0
15
3
Brunei 1999
Vô địch
6
5
1
0
24
1
Tổng cộng
Vô địch
85 43 24 15
-
-

Đồng phục[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời kỳ tiền khởi, đồng phục đội tuyển Thái Lan chủ yếu là bộ trang phục toàn màu đỏ.

Áo đấu của đội tại Olympic 1968.

Đội từng chơi bằng các trang phục tạo bởi nhà thiết kế bản xứ FBT cho tới tháng 6 năm 2007. Tháng 7 cùng năm, Nike trở thành nhà cung mới, và từ tháng 10, đội chơi với trang phục toàn màu vàng để mừng sinh nhật thứ 80 của quốc vương Bhumibol Adulyadej. Đội đã chơi trong màu áo này khi thi đấu giao hữu với Trung Quốc[5]Qatar.[6]

Áo đấu màu vàng được tái sử dụng nhiều lần sau đó chủ yếu cho một số dịp kỷ niệm hoàng gia và gần nhất là tại King's Cup 2019 với màu áo vàng và quần trắng tất trắng được cho là phối màu yêu thích của nhà vua mới lên ngôi Maha Vajiralongkorn.

Thế chân Nike trong giai đoạn suốt từ năm 2012 đến 2016 là nhãn hiệu Thái Grand Sport với bản hợp đồng trị giá 96 triệu bạt (3.1 triệu đô Mỹ).[7]

Tháng 9 năm 2016, đội tuyển Thái Lan ký bản hợp đồng hợp tác 4 năm với một hãng bản địa khác, Warrix Sports.[8] Đầu năm 2017, Warrix trình làng bộ trang phục mới với hai màu toàn đen và trắng (màu để tang truyền thống) lần lượt cho sân nhà và sân khách để tưởng nhớ vua Bhumibol một năm sau ngày băng hà.[9] Đầu năm 2018, Warrix cho ra mắt bộ ba trang phục gồm toàn xanh, toàn đỏ và đen trắng[10] thì đến cuối năm đã lại giới thiệu bộ ba mới lần lượt là xanh tím đậm, đỏ, và trắng để phục vụ đội tuyển ở Asian Cup 2019.

Đội ngũ[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Quốc tịch Vai trò
Alexandré Pölking  Brasil Huấn luyện viên trưởng
Jadet Meelarp  Thái Lan Trợ lý huấn luyện
Nuengrutai Srathongvian  Thái Lan Trợ lý huấn luyện
Wasapol Kaewpaluk  Thái Lan Trợ lý huấn luyện
Umarin Yaodam  Thái Lan Huấn luyện thủ môn
Shiraki Yohei  Nhật Bản Huấn luyện thể lực

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Danh sách 30 cầu thủ được triệu tập cho AFF Cup 2020 được tổ chức tại Singapore Singapore, từ 5 tháng 12 năm 2021 đến 1 tháng 1 năm 2022.
  • Số lần ra sân và số bàn thắng được cập nhật ngày 15 tháng 6 năm 2021 sau trận đấu với  Malaysia.
0#0 Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bt Câu lạc bộ
1TM Kawin Thamsatchanan 26 tháng 1, 1990 (31 tuổi) 67 0 Bỉ OH Leuven
1TM Siwarak Tedsungnoen 20 tháng 4, 1984 (37 tuổi) 25 0 Thái Lan Buriram United
1TM Chatchai Budprom 4 tháng 2, 1987 (34 tuổi) 10 0 Thái Lan BG Pathum United

2HV Theerathon Bunmathan 6 tháng 2, 1990 (31 tuổi) 64 6 Nhật Bản Yokohama F. Marinos
2HV Tristan Do 31 tháng 1, 1993 (28 tuổi) 37 0 Thái Lan Bangkok United
2HV Narubadin Weerawatnodom 12 tháng 7, 1994 (27 tuổi) 33 1 Thái Lan Buriram United
2HV Peerapat Notchaiya 4 tháng 2, 1993 (28 tuổi) 29 1 Thái Lan Bangkok United
2HV Pansa Hemviboon 8 tháng 7, 1990 (31 tuổi) 23 4 Thái Lan Buriram United
2HV Manuel Bihr 17 tháng 9, 1993 (28 tuổi) 12 0 Thái Lan Bangkok United
2HV Philip Roller 10 tháng 6, 1994 (27 tuổi) 12 1 Thái Lan Port
2HV Elias Dolah 24 tháng 4, 1993 (28 tuổi) 2 0 Thái Lan Port
2HV Jonathan Khemdee 17 tháng 5, 2002 (19 tuổi) 0 0 Đan Mạch OB

3TV Chanathip Songkrasin 5 tháng 10, 1993 (28 tuổi) 56 8 Nhật Bản Hokkaido Consadole Sapporo
3TV Sarach Yooyen 30 tháng 5, 1992 (29 tuổi) 48 0 Thái Lan BG Pathum United
3TV Thitiphan Puangjan 1 tháng 9, 1993 (28 tuổi) 36 6 Thái Lan Bangkok United
3TV Pokklaw Anan 17 tháng 9, 1993 (28 tuổi) 12 2 Thái Lan Bangkok United
3TV Supachok Sarachat 22 tháng 5, 1998 (23 tuổi) 11 2 Thái Lan Buriram United
3TV Bordin Phala 20 tháng 12, 1994 (26 tuổi) 10 0 Thái Lan Port
3TV Sivakorn Tiatrakul 7 tháng 7, 1994 (27 tuổi) 9 0 Thái Lan Chiangrai United
3TV Phitiwat Sukjitthammakul 1 tháng 2, 1995 (26 tuổi) 8 0 Thái Lan Chiangrai United
3TV Pakorn Prempak 2 tháng 2, 1993 (28 tuổi) 5 0 Thái Lan Port
3TV Thanawat Suengchitthawon 8 tháng 1, 2000 (21 tuổi) 3 0 Anh Leicester City
3TV Pathompol Charoenrattanapirom 21 tháng 4, 1994 (27 tuổi) 2 0 Thái Lan BG Pathum United
3TV Picha Autra 7 tháng 1, 1996 (25 tuổi) 1 0 Thái Lan Muangthong United
3TV Weerathep Pomphan 19 tháng 9, 1996 (25 tuổi) 0 0 Thái Lan Muangthong United
3TV Worachit Kanitsribampen 24 tháng 8, 1997 (24 tuổi) 0 0 Thái Lan Chonburi
3TV Kritsada Kaman 18 tháng 3, 1999 (22 tuổi) 0 0 Thái Lan Chonburi

4 Teerasil Dangda 6 tháng 6, 1988 (33 tuổi) 104 45 Thái Lan BG Pathum United
4 Adisak Kraisorn 1 tháng 2, 1991 (30 tuổi) 33 17 Thái Lan Muangthong United
4 Supachai Jaided 1 tháng 12, 1998 (22 tuổi) 19 4 Thái Lan Buriram United

Triệu tập gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Patiwat Khammai 24 tháng 12, 1994 (26 tuổi) 1 0 Thái Lan Samut Prakan City v.  Tajikistan, 29 May 2021
TM Worawut Srisupha 25 tháng 5, 1992 (29 tuổi) 0 0 Thái Lan Port Friendly Match May 2021
TM Saranon Anuin 24 tháng 3, 1994 (27 tuổi) 0 0 Thái Lan Chiangrai United Friendly Match May 2021
TM Somporn Yos 23 tháng 6, 1993 (28 tuổi) 0 0 Thái Lan Muangthong United Friendly Match May 2021

HV Pawee Tanthatemee 22 tháng 10, 1996 (25 tuổi) 2 0 Thái Lan Ratchaburi Mitr Phol v.  UAE, 7 June 2021
HV Sasalak Haiprakhon 8 tháng 1, 1996 (25 tuổi) 9 0 Hàn Quốc Jeonbuk Hyundai Motors v.  UAE, 7 June 2021
HV Nitipong Selanon 25 tháng 5, 1993 (28 tuổi) 3 0 Thái Lan Port v.  Tajikistan, 29 May 2021
HV Jaturapat Sattham 15 tháng 6, 1999 (22 tuổi) 1 0 Thái Lan Port v.  Tajikistan, 29 May 2021
HV Santiphap Channgom 23 tháng 9, 1996 (25 tuổi) 1 0 Thái Lan BG Pathum United v.  Tajikistan, 29 May 2021
HV Worawut Namvech 4 tháng 7, 1995 (26 tuổi) 1 0 Thái Lan Port v.  Tajikistan, 29 May 2021
HV Suporn Peenagatapho 12 tháng 7, 1995 (26 tuổi) 0 0 Thái Lan Muangthong United Friendly Match May 2021
HV Chatmongkol Rueangthanarot 9 tháng 5, 2002 (19 tuổi) 0 0 Thái Lan Chonburi Friendly Match May 2021

TV Phanuphong Phonsa 3 tháng 6, 1994 (27 tuổi) 1 0 Thái Lan Chonburi v.  UAE, 7 June 2021
TV Tanaboon Kesarat 21 tháng 9, 1993 (28 tuổi) 51 1 Thái Lan Port Friendly Match May 2021
TV Teeraphol Yoryoei 25 tháng 10, 1994 (27 tuổi) 0 0 Thái Lan Muangthong United 2022 World Cup Qualifiers in UAE on June 2021 WD
TV Jakkaphan Kaewprom 24 tháng 5, 1988 (33 tuổi) 23 2 Thái Lan Buriram United
TV Sumanya Purisai 5 tháng 12, 1986 (34 tuổi) 22 0 Thái Lan BG Pathum United

Chú thích
  • INJ Rút lui vì chấn thương.
  • SUS Bị cấm lên tuyển.
  • PRE Chỉ nằm trong danh sách sơ bộ.

Đối đầu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dữ liệu tính đến ngày 19 tháng 11 năm 2019 sau trận gặp Việt Nam.

Lịch thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

      Thắng       Hòa       Thua

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ có tên in đậm vẫn còn thi đấu cho đội tuyển quốc gia. Tính đến ngày 14 tháng 11 năm 2019.[11]


Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Các huấn luyện viên trong quá khứ

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The FIFA/Coca-Cola World Ranking”. FIFA. 16 tháng 7 năm 2020. Truy cập 16 tháng 7 năm 2020.
  2. ^ Elo rankings change compared to one year ago. “World Football Elo Ratings”. eloratings.net. 1 tháng 8 năm 2020. Truy cập 1 tháng 8 năm 2020.
  3. ^ Tifo Football (ngày 31 tháng 12 năm 2018). Asian Cup 2019: Last Chance for Thailand? (6:22). YouTube. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
  4. ^ Văn Hưng (ngày 25 tháng 1 năm 2019). “Tuyển Thái Lan được thưởng đậm nhờ thành tích tại Asian Cup”. Zing.vn.
  5. ^ “Thaifootball.com (Friendly Matches)”. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  6. ^ “Thailand footballers Suree Sukha (R) and... Pictures | Getty Images”. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  7. ^ “ASC2012: Thailand Go With Grand Sport - AFF - The Official Website Of The Asean Football Federation AFF – The Official Website Of The Asean Football Federation”. www.aseanfootball.org.
  8. ^ PCL., Post Publishing. “Kirins eye three points from trip to Sukhothai”. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2016.
  9. ^ “Warrix Official”. www.facebook.com.
  10. ^ “Thailand 2018 Home and Away Kits Released”. footyheadlines.com. ngày 13 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2018.
  11. ^ Roberto Mamrud. “Thailand – Record International Players”. RSSSF. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2016.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu
Tiền nhiệm:
Giải chưa tổ chức
Vô địch Đông Nam Á
1996
Kế nhiệm:
Singapore Singapore
Tiền nhiệm:
Singapore Singapore
Vô địch Đông Nam Á
2000, 2002
Kế nhiệm:
Singapore Singapore
Tiền nhiệm:
 Singapore
Vô địch Đông Nam Á
2014, 2016
Kế nhiệm:
 Việt Nam