Bước tới nội dung

Đội tuyển bóng đá quốc gia Libya

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Libya
Biệt danhMàu xanh
Hiệp hộiLiên đoàn bóng đá Libya
Liên đoàn châu lụcCAF (châu Phi)
Huấn luyện viên trưởngFawzi Al-Issawi
Đội trưởngAli Salama
Thi đấu nhiều nhấtTarik El Taib (77)
Ghi bàn nhiều nhấtTarik El Taib (23)
Sân nhàSân vận động Tripoli
Sân vận động Liệt sĩ Tháng Hai
Mã FIFALBY
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 112 Tăng 5 (ngày 18 tháng 9 năm 2025)[1]
Cao nhất36 (9.2012)
Thấp nhất187 (7.1997)
Hạng Elo
Hiện tại 118 Tăng 3 (30 tháng 11 năm 2022)[2]
Cao nhất46 (8.1985)
Thấp nhất124 (6.2003)
Trận quốc tế đầu tiên
 Ai Cập 10–2 Libya 
(Ai Cập; 29 tháng 7 năm 1953)
Trận thắng đậm nhất
 Libya 21–0 Muscat và Oman
(Iraq; 6 tháng 4 năm 1966)
Trận thua đậm nhất
 Ai Cập 10–2 Libya 
(Ai Cập; 29 tháng 7 năm 1953)
Sồ lần tham dự(Lần đầu vào năm -)
Kết quả tốt nhất-
Cúp bóng đá châu Phi
Sồ lần tham dự3 (Lần đầu vào năm 1982)
Kết quả tốt nhấtHạng nhì (1982)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Libya (tiếng Ả Rập: منتخب ليبيا لكرة القدم) là đội bóng đại diện cho Libya trong các giải đấu bóng đá quốc tế nam và được điều hành bởi Liên đoàn bóng đá Libya. Đội chưa từng giành quyền tham dự FIFA World Cup nhưng đã có mặt tại Cúp bóng đá châu Phi (AFCON) vào các năm 1982, 20062012. Năm 1982, Libya vừa là nước chủ nhà vừa là á quân của giải. Tại Cúp bóng đá các quốc gia Ả Rập, Libya giành hạng nhì vào các năm 1964 và 2012, hạng ba vào năm 1966. Đội tuyển trực thuộc cả FIFALiên đoàn Bóng đá châu Phi (CAF).

Do những hoàn cảnh chính trị phức tạp, Libya thường kém thành công hơn so với các đội bóng Bắc Phi khác như Algeria, Maroc, Ai CậpTunisia. Đội chưa từng giành vé dự FIFA World Cup và việc góp mặt ở AFCON cũng không đều đặn, khi chỉ mới tham dự ba lần. Trong thập niên 2010, thứ hạng FIFA của Libya được cải thiện nhờ số lượng ngày càng tăng các cầu thủ Libya thi đấu ở các giải vô địch quốc gia nước ngoài. Tại Cúp bóng đá châu Phi 2012, đội tuyển đã giành chiến thắng đầu tiên ở giải đấu này khi thi đấu bên ngoài lãnh thổ Libya. Thứ hạng của Libya đạt đỉnh ở vị trí 36 vào tháng 9 năm 2012. Sau đó, Libya còn giành huy chương vàng tại Giải vô địch các quốc gia châu Phi 2014. Tuy nhiên, cuộc nội chiến ở Libya đã khiến Giải Ngoại hạng Libya phải dừng lại và gây ra nhiều xáo trộn nghiêm trọng trong đời sống bóng đá trong nước. Libya bị loại ngay từ vòng đầu vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2015 trước Rwanda và không thể giành quyền bảo vệ danh hiệu ở Giải vô địch các quốc gia châu Phi 2016.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia Libya được hình thành lần đầu vào năm 1918 nhưng phải đến ngày 3 tháng 8 năm 1953 mới thi đấu trận quốc tế chính thức đầu tiên, khi đánh bại Palestine 5–2 tại Đại hội Thể thao Ả Rập lần thứ nhất. Huấn luyện viên đầu tiên của đội là Masoud Zantouny, còn huấn luyện viên ngoại đầu tiên là người Anh James Bingham, người dẫn dắt đội tuyển Libya tại Đại hội Thể thao Ả Rập năm 1961. Cầu thủ đầu tiên ghi bàn cho đội tuyển Libya trong một trận quốc tế chính thức là Mukhtar Ghonaay.

Cầu thủ đầu tiên ghi bàn cho đội tuyển Libya trong một trận giao hữu không chính thức là Mustapha Makki, ở trận giao hữu trước thềm Đại hội Thể thao Ả Rập 1953, diễn ra với Palestine tại Alexandria vào năm 1952. Lần đầu tiên đội tuyển thi đấu giành suất dự Thế vận hội là vào năm 1967, khi họ thi đấu trận vòng loại đầu tiên gặp Niger nhằm tranh vé dự môn bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 1968Thành phố Mexico.

World Cups

[sửa | sửa mã nguồn]

Libya lần đầu tham dự vòng loại FIFA World Cup vào năm 1970. Những nỗ lực ban đầu đều thất bại, nhưng đến những năm 1980, đội tuyển quốc gia đã tiến bộ mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, vị thế địa chính trị của đất nước đã ảnh hưởng đến đội bóng, buộc họ phải rút lui khỏi vòng loại các kỳ World Cup 19821990. Libya tiến gần nhất đến tấm vé tham dự World Cup vào năm 1986, khi họ chỉ còn cách vòng chung kết tại Mexico một trận đấu. Sau khi thắng Sudan ở trận mở màn, Libya tiếp tục đánh bại Ghana ở vòng tiếp theo trước khi đối đầu với Maroc để tranh suất dự World Cup. Maroc thắng trận lượt đi 3–0 và giành quyền đi tiếp, mặc dù Libya thắng lượt về 1–0.

Libya không tham dự vòng loại World Cup 19941998, nhưng trở lại thi đấu ở vòng loại World Cup 2002. Libya vượt qua Mali với tổng tỉ số 4–3 để vào vòng hai. Tuy nhiên, ở vòng bảng, họ chỉ giành được hai trận hòa sau tám trận đấu. Tại vòng loại World Cup 2006, Libya có chiến thắng áp đảo 9–0 sau hai lượt trận trước São Tomé và Príncipe để giành vé vào vòng bảng. Tuy nhiên, cầu thủ Al-Saadi Gaddafi bị cấm thi đấu sau khi không qua được kiểm tra doping. Libya rơi vào một bảng đấu khó với Ai Cập, CameroonBờ Biển Ngà (cả hai đội sau đó đều giành vé dự World Cup). Dù vậy, đội đã giành được những kết quả đáng khen ngợi: thắng Ai Cập 2–1 tại Tripoli và cầm hòa Cameroon và Bờ Biển Ngà 0–0. Những kết quả này giúp Libya đứng thứ 4 bảng đấu và giành vé dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Phi 2006 tại Ai Cập.

Tại vòng loại World Cup 2010, Libya thắng tất cả các trận sân nhà ở vòng hai (thậm chí còn thắng Lesotho trên sân khách). Tuy nhiên, họ để thua Gabon trên sân khách và bị loại do kém hiệu số bàn thắng. Ở vòng loại World Cup 2014, Libya bất bại cho đến trận đấu cuối cùng ở vòng bảng. Họ để thua Cameroon 0–1 và không thể vào vòng cuối cùng. Đến vòng loại World Cup 2018, Libya thắng Rwanda với tổng tỉ số 4–1 ở vòng hai, nhưng bị loại sau khi thua cả ba trận đầu ở vòng bảng.

Cúp bóng đá châu Phi (AFCON)

[sửa | sửa mã nguồn]

Libya 1982

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu bóng đá lớn nhất từng được tổ chức tại Libya chính là Cúp bóng đá châu Phi 1982. Libya giành quyền tham dự với tư cách đội chủ nhà và nằm cùng bảng với Ghana, Cameroon và Tunisia. Trận khai mạc chứng kiến chủ nhà hòa Ghana 2–2 tại Tripoli. Tiếp đó, Libya thắng Tunisia 2–0 và hòa không bàn thắng với Cameroon để đứng đầu bảng. Ở bán kết, Libya lội ngược dòng đánh bại Zambia 2–1, qua đó giành vé vào chung kết gặp Ghana vào ngày 19 tháng 3. Ghana mở tỷ số ở phút 35, nhưng Libya gỡ hòa ở phút 70. Hai đội kéo nhau vào hiệp phụ nhưng không có bàn thắng nào được ghi. Trận chung kết phải phân định bằng loạt sút luân lưu nghẹt thở, và Ghana giành chiến thắng 7–6, khiến Libya trở thành á quân.[3]

Ai Cập 2006

[sửa | sửa mã nguồn]

Lần thứ hai Libya tham dự Cúp bóng đá châu Phi đánh dấu sự trở lại với sân chơi bóng đá quốc tế đỉnh cao. Họ giành vé tham dự sau trận hòa 0–0 với Sudan ở lượt trận thứ 9 vòng loại. Tại vòng bảng, Libya nằm ở bảng A cùng chủ nhà và nhà vô địch sau đó Ai Cập, cùng hai đội tuyển dự World Cup 2006 là Bờ Biển Ngà và Maroc. Libya thua Ai Cập 0–3 tại Cairo, tiếp đó thua Bờ Biển Ngà 1–2. Trận hòa 0–0 với Maroc giúp Libya có được 1 điểm nhưng vẫn xếp cuối bảng và bị loại.

Thời kỳ Hậu Gaddafi

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội tuyển bóng đá quốc gia Libya đối đầu Algeria năm 2013.

Libya thi đấu trận đầu tiên sau Trận Tripoli (đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên Gaddafi) vào ngày 3 tháng 9 năm 2011, với bộ trang phục mới mang lá cờ của Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia Libya. Trận đấu này thuộc khuôn khổ vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2012, và kết thúc với chiến thắng 1–0 trước Mozambique. Bàn thắng lịch sử được ghi bởi Rabee'a al Laafi. Giống như trận sân nhà trước đó (thắng Comoros 3–0 ở vòng loại), trận đấu phải dời sang Sân vận động 26 tháng 3Bamako, Mali, do nội chiến Libya vẫn đang diễn ra. Lần này, sân vận động Petro Sport ở Cairo, Ai Cập được chọn làm địa điểm thi đấu. Trận đấu diễn ra không khán giả vì lý do an ninh.[4] Ngày 7 tháng 6 năm 2013, Libya gặp CHDC Congo trong trận đấu sân nhà đầu tiên sau hai năm.

Cúp bóng đá châu Phi 2012

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giành vé tham dự, Libya được xếp vào Bảng A cùng đồng chủ nhà Guinea Xích Đạo, đối thủ vòng loại Zambia và ứng cử viên vô địch Senegal. Trận mở màn của Libya cũng là trận khai mạc giải đấu, họ để thua bởi bàn thắng ở phút 87 của cựu cầu thủ Real Madrid Javier Ángel Balboa. Libya sau đó cầm hòa Zambia 2–2 trong điều kiện thời tiết rất tệ tại Sân vận động Bata, trước khi Ihaab al Bousseffi lập cú đúp giúp họ thắng Senegal 2–1 – chiến thắng đầu tiên của Libya tại AFCON sau 30 năm và cũng là chiến thắng đầu tiên trên đất khách. Với 4 điểm sau 3 trận, Libya bị loại ngay từ vòng bảng.

Khủng hoảng huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Javier Clemente bị sa thải năm 2016, Jalal Damja lên thay dẫn dắt đội tuyển nhưng rời đi năm 2017 khi hết hợp đồng. Omar Almaryami sau đó được bổ nhiệm và đưa Libya vào bán kết Giải vô địch các quốc gia châu Phi 2018. Sau khi bị Maroc loại, Adel Amrouche được bổ nhiệm (tháng 5/2018) với mục tiêu giúp Libya giành vé dự AFCON 2019. Ông dẫn dắt đội cầm hòa Nam Phi 0–0 trên sân khách, nhưng ngay trước trận gặp Nigeria, Amrouche đột ngột rời đội và sau đó từ chức. Trong phỏng vấn với Reuters, ông cho biết nguyên nhân là Liên đoàn bóng đá Libya can thiệp quá nhiều vào công việc chuyên môn và còn nợ lương. Omar Almaryami lại được tạm quyền nhưng Libya thua Nigeria cả hai lượt (0–4 và 2–3). Sau đó ông được thay bằng cựu tiền đạo Fawzi Al-Issawi, người dẫn dắt đội thắng đậm Seychelles 8–1 trên sân khách. Tuy nhiên Libya lại thua Nam Phi 1–2 và không giành vé dự AFCON 2019. Điều gây chú ý là trong trận này, trợ lý Abu Bakr Bani là người trực tiếp chỉ đạo thay người và chỉ dẫn cầu thủ, khiến nhiều người nghi ngờ ai mới là HLV thực sự.

Sau trận thua Nam Phi, Jalal Damja tạm thời trở lại trước khi Faouzi Benzarti được bổ nhiệm. Libya khởi đầu vòng loại bằng trận thua 1–4 trước Tunisia (quê hương của Benzarti) nhưng sau đó thắng Tanzania 2–1 để níu hy vọng. Khủng hoảng huấn luyện viên lại bùng phát khi Benzarti rời đội và Libya phải bổ nhiệm HLV nội Ali El Margini dẫn dắt. Tuy nhiên đội thua liên tiếp trước Guinea Xích Đạo và rơi khỏi top 2. El Margini từ chức sau 3 trận thua liên tiếp. Ông được thay bởi Zoran Filipović, người dẫn đội với lực lượng chủ yếu cầu thủ nội tham dự Giải vô địch các quốc gia châu Phi 2020, nhưng Libya bị loại ngay từ vòng bảng (2 hòa, 1 thua). Hai thất bại liên tiếp ở vòng loại AFCON sau đó khiến Filipović bị sa thải vào tháng 5 năm 2021.[5] Javier Clemente lại được bổ nhiệm trở lại làm HLV trưởng.[6][7]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
Á quân: 1982
Á quân: 1964; 2012
Hạng ba: 1966

Thành tích tại các giải đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]
Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
Uruguay 1930 đến Pháp 1938 Một phần của Ý Một phần của Ý
Brasil 1950 đến Chile 1962 Không phải thành viên FIFA Không phải thành viên FIFA
Anh 1966 Rút lui Rút lui
México 1970 Không vượt qua vòng loại 2 1 0 1 3 5
Tây Đức 1974 Không tham dự Không tham dự
Argentina 1978 Không vượt qua vòng loại 2 0 1 1 0 1
Tây Ban Nha 1982 Rút lui 2 1 1 0 2 1
México 1986 Không vượt qua vòng loại 6 3 2 1 7 3
Ý 1990 Rút lui 2 1 0 1 3 2
Hoa Kỳ 1994 Bị loại Bị loại
Pháp 1998 Không tham dự Không tham dự
Hàn Quốc Nhật Bản 2002 Không vượt qua vòng loại 10 1 2 7 11 22
Đức 2006 12 5 3 4 17 10
Cộng hòa Nam Phi 2010 6 4 0 2 7 4
Brasil 2014 6 2 3 1 5 3
Nga 2018 8 3 1 4 8 11
Qatar 2022 6 2 1 3 4 7
Canada México Hoa Kỳ 2026 Đang trong giai đoạn vòng loại 8 4 2 2 9 7
Maroc Bồ Đào Nha Tây Ban Nha 2030 Chưa xác định Chưa xác định
Ả Rập Xê Út 2034
Tổng 0/15 70 27 16 27 76 76

Cúp bóng đá châu Phi

[sửa | sửa mã nguồn]
Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
Sudan 1957 Không phải thành viên của CAF Không phải thành viên của CAF
Cộng hòa Ả Rập Thống nhất 1959
Ethiopia 1962
Ghana 1963
Tunisia 1965
Ethiopia 1968 Không vượt qua vòng loại 2 0 1 1 4 5
Sudan 1970 Không tham dự Không tham dự
Cameroon 1972 Không vượt qua vòng loại 2 0 0 2 1 3
Ai Cập 1974 Rút lui Rút lui
Ethiopia 1976 Không tham dự Không tham dự
Ghana 1978
Nigeria 1980
Libya 1982 Á quân 2nd 5 2 3 0 7 4 Vượt qua vòng loại với tư cách chủ nhà
Bờ Biển Ngà 1984 Không vượt qua vòng loại 2 1 0 1 2 2
Ai Cập 1986 4 2 0 2 5 4
Maroc 1988 Rút lui Rút lui
Algérie 1990
Sénégal 1992 Không tham dự Không tham dự
Tunisia 1994
Cộng hòa Nam Phi 1996
Burkina Faso 1998
Ghana Nigeria 2000 Không vượt qua vòng loại 2 0 0 2 1 6
Mali 2002 8 3 0 5 8 14
Tunisia 2004 6 3 1 2 12 8
Ai Cập 2006 Vòng bảng 14th 3 0 1 2 1 5 12 5 3 4 17 10
Ghana 2008 Không vượt qua vòng loại 6 2 2 2 7 6
Angola 2010 6 4 0 2 7 4
Guinea Xích Đạo Gabon 2012 Vòng bảng 10th 3 1 1 1 4 4 6 3 3 0 6 1
Cộng hòa Nam Phi 2013 Không vượt qua vòng loại 2 0 0 2 0 3
Guinea Xích Đạo 2015 2 0 1 1 0 3
Gabon 2017 6 2 1 3 8 6
Ai Cập 2019 6 2 1 3 16 11
Cameroon 2021 6 1 0 5 7 15
Bờ Biển Ngà 2023 6 1 1 4 2 8
Maroc 2025 6 1 2 3 3 7
Kenya Tanzania Uganda 2027 Chưa xác định Chưa xác định
Liên minh châu Phi 2029
Tổng Á quân 3/35 11 3 5 3 12 13 90 30 16 47 106 116

Cúp bóng đá các quốc gia Ả Rập

[sửa | sửa mã nguồn]
FIFA Arab Cup
Tham dự: 4 lần
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB
Liban 1963 Không tham dự
Kuwait 1964 Á quân 2nd 4 2 2 0 9 5
Iraq 1966 Hạng 3 3rd 5 2 2 1 20 4
Ả Rập Xê Út 1985 Không tham dự
Jordan 1988
Syria 1992
Qatar 1998 Vòng bảng 11th 4 0 0 2 2 4
Kuwait 2002 Rút lui
Ả Rập Xê Út 2012 Á quân 2nd 5 3 2 0 11 8
Qatar 2021 Không vượt qua vòng loại
Qatar 2025 Chưa xác định
Tổng Á quân 4/9 18 7 6 3 42 21

Đại hội Thể thao châu Phi

[sửa | sửa mã nguồn]
  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1987)
Đại hội Thể thao châu Phi
Vòng chung kết: 1
Năm Vòng Hạng Pld W D L GF GA
1965 đến 1973 Không tham dự
Algérie 1978 Vòng bảng 8th 3 1 0 2 3 4
1987 Không tham dự
Tổng cộng 1 lần vòng bảng 1/11 3 1 0 2 3 4

Đội hình

[sửa | sửa mã nguồn]

28 cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho các trận đấu thuộc vòng loại FIFA World Cup 2026 – bảng D khu vực châu Phi, gặp Angola và Cameroon vào các ngày 20 và 25 tháng 3 năm 2025.[8][9]

Số lần ra sân và số bàn thắng được cập nhật đến ngày 25 tháng 3 năm 2025, sau trận đấu với Cameroon.

Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
1TM Murad Al-Wuheeshi 28 tháng 2, 1997 (28 tuổi) 19 0 Libya Al-Ahly Benghazi
1TM Mohamed Darebi 5 tháng 5, 2003 (22 tuổi) 1 0 Libya Abu Salim

2HV Motasem Sabbou 20 tháng 8, 1993 (32 tuổi) 63 2 Libya Olympic Azzaweya
2HV Mehdi Al-Kout 29 tháng 8, 1999 (26 tuổi) 9 0 Libya Asswehly
2HV Majdi Erteiba 26 tháng 11, 1990 (35 tuổi) 9 0 Libya Al Akhdar
2HV Subhi Al-Dhawi 8 tháng 6, 2004 (21 tuổi) 8 1 Libya Al-Ittihad Tripoli
2HV Ahmed Saleh 1 tháng 1, 2001 (24 tuổi) 8 1 Libya Al Akhdar
2HV Sanad Bin Ali 19 tháng 9, 2000 (25 tuổi) 7 0 Libya Al-Ittihad Tripoli
2HV Tahir Bin Amir 16 tháng 4, 2000 (25 tuổi) 6 0 Libya Al-Ittihad Tripoli
2HV Al Bahlul Bousahmin 9 tháng 12, 1993 (32 tuổi) 4 0 Libya Al-Ahly Benghazi
2HV Mohammed Al-Shiteewi 29 tháng 7, 1993 (32 tuổi) 3 0 Libya Al-Hilal Benghazi
2HV Al Bahlul Bousahmin 9 tháng 12, 1993 (32 tuổi) 0 0 Libya Al-Ahly Benghazi

3TV Faisal Al Badri 4 tháng 6, 1990 (35 tuổi) 73 14 Libya Al-Hilal Benghazi
3TV Omar Al Khouja 1 tháng 3, 2000 (25 tuổi) 26 3 Libya Asswehly
3TV Bader Hassan 1 tháng 10, 1987 (38 tuổi) 20 0 Libya Al Nasr Benghazi
3TV Osamah Al-Shuraimi 20 tháng 2, 2001 (24 tuổi) 15 1 Libya Asswehly
3TV Muhanad Madyen 25 tháng 3, 1994 (31 tuổi) 15 0 Libya Al-Madina
3TV Abdallah Dagou 21 tháng 9, 2000 (25 tuổi) 6 0 Libya Al-Ahly Benghazi
3TV Elbahlul Abusahmin 12 tháng 9, 1993 (32 tuổi) 0 0 Free agent

4 Muaid Ellafi 7 tháng 3, 1996 (29 tuổi) 38 8 Libya Al-Ahli Tripoli
4 Mohammed Soulah 29 tháng 7, 1993 (32 tuổi) 30 3 Kuwait Qadsia
4 Fadel Mansour 21 tháng 2, 2002 (23 tuổi) 17 2 Libya Al-Ahly Benghazi
4 Ahmed Krawa'a 21 tháng 4, 1989 (36 tuổi) 13 4 Libya Al-Ahli Tripoli
4 Fahad Al Mesmari 10 tháng 6, 2004 (21 tuổi) 5 1 Tunisia Club Africain
4 Ezoo El Mariamy 22 tháng 8, 1998 (27 tuổi) 5 1 Libya Al-Hilal Benghazi
4 Taha Al-Shalawi 21 tháng 2, 1997 (28 tuổi) 4 0 Libya Al-Hilal Benghazi

Triệu tập gần đây

[sửa | sửa mã nguồn]
Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Redwan Tawfiq 10 tháng 10, 1997 (28 tuổi) 0 0 Libya Al-Akhdar v.  Tanzania, 28 March 2021
TM Ahmed Azzaqa 9 tháng 8, 1988 (37 tuổi) 15 0 Libya Al-Madina v.  Tunisia, 25 March 2021
TM Fathi Al-Tahli 20 tháng 12, 1988 (36 tuổi) 2 0 Libya Al-Nasr 2020 African Nations Championship
TM Abdulhakim El-Treki 25 tháng 9, 1990 (35 tuổi) 0 0 Libya Al-Madina 2020 African Nations Championship

HV Ahmed Al-Maghasi 10 tháng 2, 1993 (32 tuổi) 24 1 Tunisia Stade Tunisien v.  Tanzania, 28 March 2021
HV Rabea Al Laafi 24 tháng 7, 1991 (34 tuổi) 24 0 Libya Al-Nasr v.  Tanzania, 28 March 2021
HV Salah Fakroun 8 tháng 2, 1999 (26 tuổi) 6 0 Libya Al-Nasr v.  Tanzania, 28 March 2021
HV Mansour Makkari 19 tháng 10, 1992 (33 tuổi) 3 0 Libya Al-Ahly Benghazi v.  Tanzania, 28 March 2021
HV Sadam El-Werfelli 27 tháng 1, 1996 (29 tuổi) 1 0 Libya Al-Nasr v.  Tanzania, 28 March 2021
HV Ahmed Huwaydi 26 tháng 2, 1994 (31 tuổi) 6 0 Libya Al-Ahly Benghazi 2020 African Nations Championship
HV Hamed El-Thalba 16 tháng 1, 1995 (30 tuổi) 2 0 Libya Al-Ahly Benghazi 2020 African Nations Championship
HV Mohamed Joudur 8 tháng 8, 1997 (28 tuổi) 1 0 Libya Al-Ahli Tripoli 2020 African Nations Championship
HV Alaa Elqjdar 2 tháng 11, 1999 (26 tuổi) 1 0 Libya Abu Salem 2020 African Nations Championship
HV Abdelaziz Benali 4 tháng 2, 1997 (28 tuổi) 0 0 Libya Al-Ittihad 2020 African Nations Championship

TV Mohamed El Journi 7 tháng 5, 2000 (25 tuổi) 0 0 Libya Al-Ahli Tripoli v.  Ai Cập, 8 October 2021
TV Muftah Taktak 5 tháng 5, 1996 (29 tuổi) 19 0 Libya Al-Nasr v.  Sudan, 19 June 2021
TV Shamikh Faraj 27 tháng 6, 1994 (31 tuổi) 7 0 Libya Al-Ahly Benghazi v.  Sudan, 19 June 2021
TV Abdullah Belaem 22 tháng 1, 1997 (28 tuổi) 7 0 Libya Al-Ahli Tripoli v.  Sudan, 19 June 2021
TV Ayman Omair 13 tháng 7, 1993 (32 tuổi) 0 0 Libya Alittihad Misurata v.  Sudan, 19 June 2021
TV Salem Ablo 20 tháng 4, 1991 (34 tuổi) 23 2 Libya Al-Madina v.  Tanzania, 28 March 2021
TV Rabia Al-Shadi 6 tháng 3, 1994 (31 tuổi) 13 1 Libya Al-Ittihad v.  Tanzania, 28 March 2021
TV Jumaa Abu Raqiqah 7 tháng 12, 1997 (28 tuổi) 0 0 Libya Abu Salem v.  Tunisia, 25 March 2021
TV El-Mehdi Al-Masry 19 tháng 6, 1992 (33 tuổi) 18 0 Libya Al-Ittihad 2020 African Nations Championship
TV Mahmoud Okashah 6 tháng 3, 1992 (33 tuổi) 4 0 Libya Al-Ahli Tripoli 2020 African Nations Championship
TV Ali Mohammed 23 tháng 11, 2000 (25 tuổi) 1 0 Libya Al-Ittihad 2020 African Nations Championship
TV Muad Al-Amami 7 tháng 7, 1998 (27 tuổi) 1 0 Libya Al-Hilal 2020 African Nations Championship

Mohamed Anis Saltou 1 tháng 4, 1992 (33 tuổi) 24 5 Maroc FUS v.  Angola, 7 September 2021
Khaled Magdi 5 tháng 1, 1996 (29 tuổi) 10 1 Libya Al-Nasr v.  Sudan, 19 June 2021
Ahmed Al-Qadiri 26 tháng 3, 1996 (29 tuổi) 3 0 Libya Alittihad Misurata v.  Sudan, 19 June 2021
Moataz Al-Mehdi 9 tháng 8, 1990 (35 tuổi) 17 1 Libya Al-Ahli Tripoli v.  Tanzania, 28 March 2021
Ibrahim Bodbous 3 tháng 8, 1996 (29 tuổi) 6 0 Libya Al-Ahly Benghazi v.  Tanzania, 28 March 2021
Zakaria Alharaish 23 tháng 10, 1998 (27 tuổi) 10 2 Libya Al-Ahli Tripoli 2020 African Nations Championship
Mohamed Makari 9 tháng 4, 1996 (29 tuổi) 4 0 Libya Al-Ahli Tripoli 2020 African Nations Championship
Anis Al-Musrati 19 tháng 10, 1994 (31 tuổi) 2 0 Libya Al-Hilal 2020 African Nations Championship

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 18 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2025.
  2. ^ Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
  3. ^ Anaman, Fiifi (ngày 19 tháng 3 năm 2017). "The Last Time: How Ghana managed an unlikely ascension unto the African football throne". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2017.
  4. ^ 4 September 2011, Libyan football enters post-Gaddafi era Lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, BBC News Online, Accessed September 5, 2011.
  5. ^ "Libya looking for a new men's football coach". Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2021.
  6. ^ "Javier Clemente vuelve: "Necesito entrenar, es como un doping para mi"". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2021.
  7. ^ "Javier Clemente: Libyan National Football Team's New Coach". Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2021.
  8. ^ "Libya-Angola". FIFA. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2025.
  9. ^ "Cameroon-Libya". FIFA. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2025.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]