Bước tới nội dung

Đội tuyển bóng đá quốc gia Eritrea

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Eritrea
Huy hiệu áo/huy hiệu Hiệp hội
Biệt danhNhững chàng trai biển Đỏ
(tiếng Amhara: ቀይ ባሕር ቦይስ)
Hiệp hộiLiên đoàn bóng đá quốc gia Eritrea
Liên đoàn châu lụcCAF (châu Phi)
Huấn luyện viên trưởngAlemseged Efrem
Đội trưởngHenok Goitom
Ghi bàn nhiều nhấtBerhane Aregai (4)
Sân nhàSân vận động Cicero
Mã FIFAERI
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tạiNR (ngày 18 tháng 9 năm 2025)[1]
Cao nhất121 (8.2007)
Thấp nhất206 (4.2017)
Hạng Elo
Hiện tại 169 Tăng 2 (30 tháng 11 năm 2022)[2]
Trận quốc tế đầu tiên
 Sudan 1–1 Eritrea 
(Khartoum; 26 tháng 6 năm 1992)
Trận thắng đậm nhất
 Djibouti 0–3 Eritrea 
(Kampala, Uganda; 13 tháng 12 năm 2019)
 Kenya 1–4 Eritrea 
(Kampala, Uganda; 17 tháng 12 năm 2019)
Trận thua đậm nhất
 Ethiopia 9–0 Eritrea 
(Asmara, Eritrea; 18 tháng 8 năm 1993)
Sồ lần tham dự(Lần đầu vào năm -)
Kết quả tốt nhất-
Sồ lần tham dự(Lần đầu vào năm -)
Kết quả tốt nhất-

Đội tuyển bóng đá quốc gia Eritrea (tiếng Tigrinya: ጋንታ ኩዕሶ እግሪ አርትራ) đại diện cho Eritrea trong bóng đá nam quốc tế và được điều hành bởi Liên đoàn Bóng đá Quốc gia Eritrea (ENFF). Đội có biệt danh Red Sea Boys. Đội chưa từng giành quyền tham dự vòng chung kết FIFA World Cup hay Cúp bóng đá châu Phi. CLB Red Sea FC đến từ Asmara là nguồn cung cấp cầu thủ chính cho đội tuyển, và đội đại diện cho Eritrea tại FIFA lẫn Liên đoàn Bóng đá châu Phi (CAF).

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Một đội bóng Eritrea từng tham gia một giải giao hữu tại Sudan vào năm 1992, một năm trước khi Eritrea giành độc lập.[3] Eritrea tham dự Cúp CECAFA 1994, do Hội đồng Bóng đá Đông và Trung Phi tổ chức,[3] mặc dù Liên đoàn ENFF phải đến năm 1996 mới được thành lập.[4] Trận quốc tế chính thức đầu tiên của đội là tại Cúp CECAFA 1999,[3][5] một năm sau khi ENFF gia nhập CAF[6] và FIFA.[4] Eritrea tham gia vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2000, vòng loại World Cup 2002 và các vòng loại tiếp theo cho đến năm 2008.[3] Họ cũng tham dự không đều đặn Cúp CECAFA.[3][7]

Tại vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2000, Eritrea hòa không bàn thắng trên sân nhà trước Cameroon và thắng Mozambique 1–0 trên sân nhà. Họ xếp thứ hai trong bảng ba đội và lọt vào vòng play-off gặp SenegalZimbabwe, nhưng thua cả bốn trận ở vòng cuối cùng. Ở vòng loại World Cup 2002, Eritrea gặp Nigeria ở vòng đầu, thua 0–4 trên sân khách sau khi hòa 0–0 trên sân nhà.[8][9] Huấn luyện viên khi đó là Yilmaz Yuceturk.[8]

vòng loại World Cup 2006, Sudan là đối thủ vòng đầu tiên. Eritrea thua 0–3 ở lượt đi, sau đó hòa 0–0 trên sân nhà tại Asmara.[10][11] Huấn luyện viên là Tekie Abraha.[10][11] Ở bảng 6 vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2008, dưới sự dẫn dắt của HLV người Romania Dorian Marin, Eritrea xếp thứ hai sau Angola và không thể vào vòng chung kết. Họ thắng Kenya hai lần và hòa Angola trên sân nhà.

vòng loại World Cup 2014, Eritrea gặp Rwanda. Lượt đi tại Asmara hòa 1–1, đánh dấu bàn thắng đầu tiên của Eritrea trong vòng loại World Cup, nhưng lượt về thua 1–3. Đến vòng loại World Cup 2018, Eritrea gặp Botswana. Lượt đi tại Asmara thua 0–2, lượt về thua 1–3 tại Francistown, thua chung cuộc 1–5. Tại vòng loại World Cup 2022, Eritrea gặp Namibia. Lượt đi tại Asmara thua 1–2, lượt về thua 0–2, thua chung cuộc 1–4. Eritrea đã rút lui khỏi vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2023[12]vòng loại World Cup 2026,[13] và không thi đấu trận nào trong sáu năm cho đến tháng 5 năm 2025, khi họ đá hai trận với đội A’ của Niger.

Rút lui khỏi vòng loại các giải đấu lớn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 3 năm 2014, Eritrea rút lui khỏi vòng sơ loại Cúp bóng đá châu Phi 2015,[14] một vài nguồn tin cho rằng do số lượng cầu thủ đội tuyển Eritrea bỏ trốn trong các trận sân khách ngày càng tăng.[15] Họ dự kiến gặp Nam Sudan, đội được tính thắng trận (walkover).[16] Ngày 2 tháng 3 năm 2022, Eritrea rút lui khỏi vòng sơ loại Cúp bóng đá châu Phi 2023 do thiếu sân vận động đạt tiêu chuẩn CAF để tổ chức các trận đấu quốc tế.[17][12][13] Họ dự kiến gặp Botswana,[18] và Botswana được tính thắng trận (walkover).

Tháng 11 năm 2023, Eritrea, nằm ở bảng E cùng Maroc, Zambia, Tanzania, Congo và Niger,[19] nhưng họ rút lui khỏi vòng loại World Cup 2026, với lý do là Zemede Tekle – Ủy viên Thể thao và Văn hóa Eritrea – từ chối tham gia các trận play-off.[13][20][21]

Rời bỏ đội tuyển

[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm gần đây, số lượng người tị nạn rời Eritrea tăng cao,[22][23] và một số vận động viên tham gia các giải đấu quốc tế đã nhân cơ hội này để bỏ trốn.[24] Tháng 12 năm 2012, 17 cầu thủ bóng đá Eritrea cùng bác sĩ đội bóng mất tích sau giải vô địch CECAFA tại Uganda và tất cả đều nộp đơn xin tị nạn tại nước này.[25][26][27] Bốn cầu thủ của CLB Red Sea FC đào tẩu sau một trận CAF Champions League năm 2006 tại Nairobi, Kenya,[28] và lên đến 12 thành viên đội tuyển quốc gia sau Cúp CECAFA 2007 tại Tanzania.[22][29] Thêm 6 cầu thủ xin tị nạn tại Angola vào tháng 3 năm 2007 sau một trận vòng loại bảng 6 cho Cúp bóng đá châu Phi 2008.[30][31] Ba cầu thủ khác từ đội tuyển quốc gia xin tị nạn tại Sudan.[32] Eritrea đã rút lui khỏi Cúp CECAFA 2008,[33] vòng loại World Cup 2010 và Cúp bóng đá châu Phi 2010.[34] Trước tình trạng nhiều cầu thủ bỏ trốn, chính phủ Eritrea bắt đầu yêu cầu vận động viên nộp 100.000 nakfa bảo đảm trước khi ra nước ngoài.[28]

Eritrea trở lại Cúp CECAFA 2009 tại Nairobi. Đội hình với cầu thủ trẻ được tập luyện chỉ trong 12 ngày.[33] Tại bảng B, họ gây bất ngờ khi hòa Zimbabwe,[35] thua sát nút Rwanda,[36] và thắng Somalia 3–1.[37] Tuy nhiên, họ thua dễ dàng 0–4 ở tứ kết trước Tanzania.[33] Mười hai thành viên đội hình không trở về chuyến bay, nhờ đến sự hỗ trợ của Refugee Consortium of Kenya.[22][23] Họ được cho là đang ẩn náu tại Eastleigh, khu phía đông Nairobi nơi sinh sống của nhiều người nhập cư.[38] Nicholas Musonye, Tổng thư ký CECAFA, lo ngại chính phủ có thể phản ứng bằng cách cấm đội đi ra nước ngoài trong tương lai.[23] Mười hai cầu thủ này sau đó được Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn tại Kenya cấp tị nạn tạm thời.[39] Mười một trong số họ sau này đã đến Adelaide, Úc,[40] trong đó hai người là Samuel Ghebrehiwet và Ambes Sium ký hợp đồng với Gold Coast United tại A-League vào tháng 8 năm 2011.[41]

vòng loại đầu tiên World Cup 2018, mười cầu thủ đội tuyển bóng đá Eritrea từ chối trở về sau khi thi đấu tại Botswana và được cấp quyền tị nạn tại đây.[42] Tháng 9 năm 2019, bốn thành viên đội tuyển U-20 quốc gia xin tị nạn tại Uganda sau khi đội vào bán kết một giải đấu.[43] Vài tháng sau, tháng 12, thêm bảy cầu thủ được triệu tập đội tuyển quốc tế từ chối trở về và xin tị nạn tại Uganda sau một giải đấu.[44] Tháng 10 năm 2021, năm cầu thủ từ đội tuyển bóng đá nữ U-20 quốc gia cũng biến mất khi đang thi đấu quốc tế tại Uganda.[45]

Thành tích tại các giải đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]
Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
1930 đến 1938 Một phần của  Ý Một phần của  Ý
1950 đến 1990 Một phần của  Ethiopia Một phần của  Ethiopia
1994 đến 1998 Không phải thành viên FIFA Không phải thành viên FIFA
Hàn Quốc Nhật Bản 2002 Không vượt qua vòng loại 2 0 1 1 0 4
Đức 2006 2 0 1 1 0 3
Cộng hòa Nam Phi 2010 Không tham dự Không tham dự
Brasil 2014 Không vượt qua vòng loại 2 0 1 1 2 4
Nga 2018 2 0 0 2 1 5
Qatar 2022 2 0 0 2 1 4
Canada México Hoa Kỳ 2026 Rút lui Rút lui
Maroc Bồ Đào Nha Tây Ban Nha 2030 Chưa xác định Chưa xác định
Ả Rập Xê Út 2034
Tổng 0/7 10 0 3 7 4 20

Cúp bóng đá châu Phi

[sửa | sửa mã nguồn]
Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
Sudan 1957 Một phần của  Ethiopia Một phần của  Ethiopia
Cộng hòa Ả Rập Thống nhất 1959
Ethiopia 1962
Ghana 1963
Tunisia 1965
Ethiopia 1968
Sudan 1970
Ai Cập 1974
Ethiopia 1976
Ghana 1978
Nigeria 1980
Libya 1982
Bờ Biển Ngà 1984
Ai Cập 1986
Maroc 1988
Algérie 1990
Sénégal 1992
Tunisia 1994 Không phải thành viên của CAF Không phải thành viên của CAF
Cộng hòa Nam Phi 1996
Burkina Faso 1998
Ghana Nigeria 2000 Rút lui 9 1 1 7 4 22
Mali 2002 Không vượt qua vòng loại 2 1 0 1 3 6
Tunisia 2004 6 1 0 5 1 7
Ai Cập 2006 2 0 1 1 0 3
Ghana 2008 6 2 3 1 5 8
Angola 2010 Rút lui Rút lui
Guinea Xích Đạo Gabon 2012 Không tham dự Không tham dự
Cộng hòa Nam Phi 2013
Guinea Xích Đạo 2015 Rút lui Rút lui
Gabon 2017 Không tham dự Không tham dự
Ai Cập 2019
Cameroon 2021
Bờ Biển Ngà 2023 Rút lui Rút lui
Maroc 2025 Bị loại Bị loại
Kenya Tanzania Uganda 2027 Chưa xác định Chưa xác định
Liên minh châu Phi 2029
Tổng 0/35 25 5 5 15 13 46

Đội hình

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho các trận vòng loại World Cup 2022 gặp Namibia vào ngày 10 tháng 9 năm 2019.

Số lần ra sân và số bàn thắng được thống kê đến ngày 10 tháng 9 năm 2019, sau trận đấu với Namibia.

Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
1 1TM Kibrom Solomon 10 tháng 9, 2000 (25 tuổi) 9 0 Eritrea Denden
20 1TM Abdulahi Abdurahman 1 tháng 1, 1986 (40 tuổi) 3 0 Eritrea Red Sea

2 2HV Eyob Girmay 12 tháng 11, 1996 (29 tuổi) 8 0 Eritrea Denden
3 2HV Filmon Tumzghi 24 tháng 3, 1993 (32 tuổi) 8 0 Eritrea Denden
4 2HV Robel Teklemichael (captain) 24 tháng 7, 2000 (25 tuổi) 8 0 Ethiopia Ethiopian Coffee
5 2HV Herman Fessehaye 10 tháng 11, 2000 (25 tuổi) 2 0 Eritrea Red Sea
17 2HV Ablelom Teklezgi 1 tháng 9, 1996 (29 tuổi) 8 0 Eritrea Red Sea

6 3TV Abel Okray 20 tháng 11, 1996 (29 tuổi) 2 0 Eritrea Denden
7 3TV Yonas Solomon 21 tháng 6, 1994 (31 tuổi) 7 0 Sudan Al-Shorta
8 3TV Samiyuma Alexander 16 tháng 5, 1991 (34 tuổi) 3 0 Free agent
11 3TV Senai Hagos 2 tháng 12, 1992 (33 tuổi) 0 0 Na Uy Åsane
14 3TV Christoffer Forsell 19 tháng 2, 1994 (31 tuổi) 0 0 Free agent
13 3TV Sammy Simon 17 tháng 5, 1998 (27 tuổi) 1 0 Free agent
16 3TV Mohammed Saeid 24 tháng 12, 1990 (35 tuổi) 1 0 Thụy Điển Örebro
18 3TV Robel Asfaha 31 tháng 1, 1987 (39 tuổi) 0 0 Thụy Điển Sundbybergs
19 3TV Alexander Andue 5 tháng 6, 1998 (27 tuổi) 0 0 Thụy Điển Stocksund

9 4 Henok Goitom 22 tháng 9, 1984 (41 tuổi) 4 1 Retired (manager of Degerfors IF)
10 4 Ali Sulieman 1 tháng 1, 2000 (26 tuổi) 8 3 Ethiopia Hawassa City
12 4 Ezana Kahsay 16 tháng 11, 1994 (31 tuổi) 1 0 Ba Lan Siarka Tarnobrzeg
15 4 Ermias Tekie Simon 29 tháng 9, 1986 (39 tuổi) 0 0 Thụy Điển Hallonbergens

Recent call ups

[sửa | sửa mã nguồn]
Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập

Thành tích đối đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 28 tháng 5 năm 2025[46]

Đội tuyển ST T H B BT BB HS
 Angola 2 0 1 1 2 7 −5
 Botswana 2 0 0 2 1 5 −4
 Burundi 4 1 2 1 3 3 +0
 Cameroon 2 0 1 1 0 1 −1
 Djibouti 2 2 0 0 6 2 +4
 Eswatini 2 0 2 0 0 0 0
 Ghana 1 0 0 1 0 5 −5
 Kenya 10 3 1 6 11 14 −3
 Mali 2 0 0 2 0 3 −3
 Malawi 1 0 0 1 2 3 −1
 Mozambique 2 1 0 1 2 3 −1
 Namibia 2 0 0 2 1 4 −3
 Niger 2 0 1 1 0 1 −1
 Nigeria 2 0 1 1 0 4 −4
 Rwanda 10 0 2 8 7 16 −9
 Sénégal 2 0 0 2 2 8 −6
 Seychelles 3 2 0 1 2 1 +1
 Somalia 3 1 2 0 3 1 +2
 Sudan 12 3 2 7 7 20 −13
 Tanzania 4 0 1 3 1 7 −6
 Uganda 8 1 2 5 6 17 −11
 Yemen 1 0 0 1 1 4 −3
 Zanzibar 2 0 1 1 0 3 −3
 Zimbabwe 5 0 1 4 0 8 −8
Tổng 86 14 20 52 57 140 −83

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 18 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2025.
  2. ^ Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
  3. ^ a b c d e Courtney, Barrie (ngày 31 tháng 1 năm 2008). "Eritrea International Matches". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  4. ^ a b "Eritrea on FIFA.com". FIFA.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  5. ^ "Eritrea Matches From 01.01.1872 To 30.11.2010". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  6. ^ "Eritrean National Football Federation (ENFF)". Cafonline.com. CAF. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  7. ^ Stokkermans, Karel (ngày 11 tháng 12 năm 2009). "East and Central African Championship (CECAFA)". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  8. ^ a b "First stage: Nigeria – Eritrea 4:0 (2:0)". 2002 FIFA World Cup Korea/Japan Preliminaries. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009.
  9. ^ "First stage: Eritrea – Nigeria 0:0". 2002 FIFA World Cup Korea/Japan Preliminaries. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009.
  10. ^ a b "Play-off: Sudan – Eritrea 3:0 (0:0)". 2006 FIFA World Cup Germany Preliminaries. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009.
  11. ^ a b "Play-off: Eritrea – Sudan 0:0". 2006 FIFA World Cup Germany Preliminaries. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009.
  12. ^ a b "Botswana through as Eritrea pull out of Afcon 2023". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2022.
  13. ^ a b c "Eritrea Pull Out Of 2026 World Cup Qualifier". Dehai News. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2023.
  14. ^ "Eritrea Withdraws from CAN 2015". TesfaNews. ngày 31 tháng 3 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2023.
  15. ^ "2015 Africa Cup of Nations: Eritrea withdraw from qualifiers". BBC News. ngày 31 tháng 3 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2023.
  16. ^ "Decisions of CAF Executive Committee on 21.02.2014" (PDF). Cafonline.com. ngày 24 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2023.
  17. ^ "Botswana through as Eritrea pull out of Afcon 2023". BBC Sport. ngày 4 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2023.
  18. ^ "Road to Cote d'Ivoire 2023 kicks off with Preliminary Draw conducted". CAFOnline.com. ngày 21 tháng 1 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022.
  19. ^ "CAF Executive Committee approves FIFA World Cup 2026 Qualifiers calendar and announces TotalEnergies Africa Cup of Nations Côte d'Ivoire 2023 Final Draw date". cafonline.com. CAF. ngày 19 tháng 5 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2023.
  20. ^ "Eritrea withdraw from 2026 World Cup qualifiers". BBC Sport. ngày 10 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2023.
  21. ^ "The country that does not play international football". BBC Sport. ngày 23 tháng 11 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2023.
  22. ^ a b c Wyatt, Ben (ngày 15 tháng 12 năm 2009). "Kenyan police search for missing footballers". London: CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  23. ^ a b c Odula, Tom (ngày 15 tháng 12 năm 2009). "12 Eritrea soccer players defect during tournament in Kenya; UN will hear case". Canadian Press. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.[liên kết hỏng]
  24. ^ Pflanz, Mike (ngày 15 tháng 12 năm 2009). "Eritrean football team missing after match in Kenya". London: The Daily Telegraph. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  25. ^ Oryada, Andrew Jackson (ngày 5 tháng 12 năm 2012). "Eritrean players seek asylum in Uganda". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013.
  26. ^ Nakiyimba, Gloria (ngày 6 tháng 12 năm 2012). "Eritrea's football team seek asylum in Uganda, citing persecution". RFI English. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013.
  27. ^ Oryada, Andrew Jackson (ngày 4 tháng 12 năm 2012). "Eritrea players missing in Uganda after regional championship". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013.
  28. ^ a b "Eritrea players go missing in Kenya". AFP. ngày 14 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  29. ^ "Official: Players say death awaits them in Eritrea". sportsillustrated.cnn.com. ngày 16 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009.[liên kết hỏng]
  30. ^ "Eritrean footballers join row of asylum seekers". afrol.com. ngày 27 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  31. ^ "Angola considers asylum claims". BBC. ngày 28 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009.
  32. ^ "Three Eritrean Players Seek Asylum in Sudan". Sudan Vision. ngày 25 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009.
  33. ^ a b c Wandera, Gilbert (ngày 9 tháng 12 năm 2009). "Tanzania hit Eritrea to make semi-final". The Standard. Nairobi. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  34. ^ "Eritrea withdraw from qualifiers". FIFA. ngày 25 tháng 3 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  35. ^ Pilipili, Oscar (ngày 12 tháng 12 năm 2009). "Zimbabwe held 0–0 by Eritrea". The Standard. Nairobi. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  36. ^ Toskin, Robin (ngày 4 tháng 12 năm 2009). "Eritrean goalkeeper's effort not good enough". The Standard. Nairobi. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  37. ^ "Eritrea crush Somalia as Rwanda pip Zims". The Standard. Nairobi. ngày 6 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 10 2011. Truy cập 15 tháng 12 2009.
  38. ^ Xinhua (ngày 16 tháng 12 năm 2009). "Kenya Searches for 12 "Missing" Eritrean Players". CRI. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2009.
  39. ^ Ombati, Cyrus (ngày 18 tháng 12 năm 2009). "12 Eritrean footballers granted asylum". The Standard. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009.
  40. ^ "Assenna.com – Politics, Culture, Religion". assenna.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2017.
  41. ^ Sportal Australia (ngày 26 tháng 8 năm 2011). "Gold Coast Sign Refugee Pair". Australian FourFourTwo. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2011.
  42. ^ "Eritrean football players seek asylum in Botswana". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2017.
  43. ^ Aarons, Ed (ngày 10 tháng 1 năm 2020). "'If they find us it's death or kidnap': the Eritrean footballers on the run". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
  44. ^ "Seven Members of the Eritrean National Football Team Have Sought Asylum in Uganda". Human Rights Concern Eritrea. ngày 10 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
  45. ^ "news Absconded from a Ugandan hotel: fresh case of Eritrean footballers". africanews.com. ngày 3 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2022.
  46. ^ "Elo List of Matches". Elo Ratings. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2021.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]