Bước tới nội dung

Đội tuyển bóng đá quốc gia Uzbekistan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Uzbekistan
Huy hiệu áo/huy hiệu Hiệp hội
Biệt danhSói trắng
Hiệp hộiHiệp hội bóng đá Uzbekistan (UFA)
Liên đoàn châu lụcAFC (châu Á)
Liên đoàn khu vựcCAFA (Trung Á)
Huấn luyện viên trưởngFabio Cannavaro
Đội trưởngEldor Shomurodov
Thi đấu nhiều nhấtServer Djeparov (128)
Ghi bàn nhiều nhấtEldor Shomurodov (41)
Sân nhàSân vận động Trung tâm Pakhtakor
Sân vận động Milliy
Mã FIFAUZB
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 52 Giảm 2 (ngày 19 tháng 1 năm 2026)[1]
Cao nhất45 (11.2006 - 1.2007)
Thấp nhất119 (11.1996)
Hạng Elo
Hiện tại 66 Tăng 9 (30 tháng 11 năm 2022)[2]
Cao nhất43 (11.2016)
Thấp nhất95 (2.2001)
Trận quốc tế đầu tiên
 Tajikistan 2–2 Uzbekistan 
(Dushanbe, Tajikistan; 17 tháng 6 năm 1992)
Trận thắng đậm nhất
 Uzbekistan 15–0 Mông Cổ 
(Chiang Mai, Thái Lan; 5 tháng 12 năm 1998)
Trận thua đậm nhất
 Nhật Bản 8–1 Uzbekistan 
(Sidon, Liban; 17 tháng 10 năm 2000)
Giải thế giới
Sồ lần tham dự1 (Lần đầu vào năm 2026)
Kết quả tốt nhấtChưa xác định
Cúp bóng đá châu Á
Sồ lần tham dự9 (Lần đầu vào năm 1996)
Kết quả tốt nhấtHạng tư (2011)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Uzbekistan (tiếng Uzbek: Oʻzbekiston milliy futbol terma jamoasi) là đội tuyển bóng đá đại diện của Uzbekistan trong các trận đấu bóng đá quốc tế nam và được điều hành bởi Hiệp hội Bóng đá Uzbekistan – cơ quan quản lý bóng đá quốc gia.

Uzbekistan được xem là đội tuyển có thành tích thi đấu nổi bật nhất trong số các đội bóng thuộc khu vực Trung Á. Tại Cúp bóng đá châu Á 2011, Uzbekistan lần đầu tiên lọt vào đến vòng bán kết giải đấu lớn nhất châu lục. Ở các giải đấu khác như Đại hội Thể thao châu Á (Á vận hội), Uzbekistan giành huy chương vàng năm 1994 tại Nhật Bản, đồng thời giành vị trí á quân tại Cúp bóng đá Phi-Á năm 1995. Ở cấp độ cao hơn, đội tuyển đã lần đầu tiên giành quyền tham dự FIFA World Cup vào năm 2026.[3]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng đá tại Uzbekistan được coi là bắt đầu từ năm 1912, khi những đội bóng đầu tiên thành lập ở Kokand. Giải vô địch Thung lũng Ferghana ra đời năm 1914, Giải vô địch Uzbekistan SSR vào năm 1926 và Cúp Uzbekistan SSR từ năm 1939. Từ 1924 đến 1991, Uzbekistan là một phần của Liên Xô với tư cách Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan (UzSSR). Năm 1928, đội tuyển Uzbekistan SSR ra đời và tham dự Spartakiade, có trận quốc tế đầu tiên thắng Thụy Sĩ 8–4. Trong thời Liên Xô, đội tham gia đầy đủ các kỳ Spartakiad và giành HCB năm 1986 sau khi thua Ukraine SSR 0–1 ở chung kết. Uzbekistan SSR cũng là một trong sáu trung tâm phát triển bóng đá lớn của Liên Xô, bên cạnh Nga, Ukraine, Belarus, GruziaArmenia. Các CLB hàng đầu của Uzbekistan góp mặt trong hệ thống giải Liên Xô, còn các đội nghiệp dư thi đấu ở giải và cúp cấp cộng hòa.

Sau khi Liên Xô tan rã, năm 1992, Uzbekistan độc lập và lập đội tuyển quốc gia mới, thi đấu trận đầu tiên gặp Tajikistan tại Cúp bóng đá Trung Á. Cùng năm, một số cầu thủ cũng khoác áo đội CIS dự Euro 1992, trước khi đội tuyển Uzbekistan không thi đấu trong năm 1993. Trong khi hầu hết các quốc gia Liên Xô cũ gia nhập UEFA, Uzbekistan cùng các nước Trung Á chọn AFC; riêng Kazakhstan sau đó chuyển sang UEFA năm 2002. Năm 1994, Hiệp hội bóng đá Uzbekistan chính thức trở thành thành viên của AFC và FIFA. Cũng trong năm này, đội tuyển giành chức vô địch Cúp Độc lập Uzbekistan.

Thập niên 1990

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội hình xuất phát chung kết Á vận hội 1994 ngày 16 tháng 10 năm 1994 tại Hiroshima (Nhật Bản)

Tại Á vận hội 1994, Uzbekistan nằm cùng bảng với các đối thủ mạnh như Ả Rập Xê Út, Thái Lan, MalaysiaHồng Kông. Sau chiến thắng 4–1 trước Ả Rập Xê Út, đội tiếp tục đánh bại Malaysia 5–0 và Hồng Kông 1–0, trước khi giành ngôi nhất bảng bằng trận thắng nghẹt thở 5–4 trước Thái Lan. Ở tứ kết, Uzbekistan hạ Turkmenistan 3–0 để vào bán kết gặp Hàn Quốc – đội hình có đến 9 cầu thủ vừa tham dự World Cup 1994. Dù vậy, Uzbekistan đã tạo cú sốc lớn khi thắng 1–0 để lần đầu tiên giành quyền vào chung kết kể từ khi tách khỏi Liên Xô. Ở trận cuối, họ đánh bại Trung Quốc 4–2, qua đó đoạt danh hiệu châu lục đầu tiên và duy nhất cho đến nay, chỉ sau hai năm thành lập đội tuyển quốc gia.[4]

Tại Asian Cup 1996, Uzbekistan rơi vào bảng đấu với Nhật Bản, Trung Quốc và Syria, nhưng sớm dừng bước ngay từ vòng bảng. Năm 1998, Uzbekistan có lần đầu tham dự vòng loại World Cup. Ở vòng đầu tiên, nằm cùng bảng với Yemen, CampuchiaIndonesia, họ thắng toàn bộ trận đấu ngoại trừ chuyến làm khách trước Indonesia. Tiếp đó, khi chạm trán Hàn Quốc, Nhật Bản và UAE, Uzbekistan không thể giành vé đến World Cup.

Thập niên 2000

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Asian Cup 2000, Uzbekistan cùng bảng với Nhật Bản, Ả Rập Xê Út và Qatar, chỉ giành được 1 điểm nhờ trận hòa với Qatar. Ở vòng loại World Cup 2002, đội vượt qua vòng đầu tiên nhưng ở vòng hai, khi gặp Trung Quốc, UAE, Oman và Qatar, họ không đạt được bước tiến đáng kể. Những thất bại trước UAE, cũng như trên sân khách của Trung Quốc và Oman, cộng thêm trận hòa trước Qatar, khiến Uzbekistan không thể giành vé, dù đã thắng Trung Quốc (lúc đó đã đủ điểm đi tiếp) ở lượt cuối.[cần dẫn nguồn]

Uzbekistan chỉ tạo dấu ấn khi vào đến tứ kết Asian Cup 2004, sau khi toàn thắng vòng bảng, nhưng sau đó bị Bahrain loại trên chấm phạt đền. Ở vòng loại World Cup 2006, họ đánh bại Iraq ở vòng hai nhờ các bàn thắng của Maksim ShatskikhAlexander Geynrikh, qua đó lọt vào vòng loại cuối nơi quy tụ tám đội mạnh nhất. Tuy nhiên, Uzbekistan bị loại ở vòng play off châu Á sau khi thua Bahrain vì luật bàn thắng sân khách. Kết quả này gây tranh cãi khi trận lượt đi (Uzbekistan thắng 1–0) bị FIFA hủy bỏ do lỗi của trọng tài Nhật Bản Toshimitsu Yoshida.[5] Trận đá lại kết thúc với tỷ số 1–1, còn lượt về hòa 0–0, khiến Uzbekistan phải dừng bước. Tại Asian Cup 2007, Uzbekistan tiếp tục vượt qua vòng bảng sau khi thắng đồng chủ nhà Malaysia 5–0 và Trung Quốc 3–0. Tuy nhiên, họ bị Ả Rập Xê Út loại ở tứ kết sau trận thua 1–2.

Thập niên 2010

[sửa | sửa mã nguồn]
Uzbekistan national team supporters during a qualification match for the 2010 World Cup against Japan at Pakhtakor Stadium in Tashkent

Sau ba năm liên tiếp trao quyền dẫn dắt cho các HLV ngoại (người Đức Hans-Jürgen Gede, người Anh Bob Houghton và người Nga Valeri Nepomniachi), Hiệp hội bóng đá Uzbekistan đã chuyển sang dùng HLV nội – Rauf Inileev, cựu HLV đội Olympic Uzbekistan. Tại chiến dịch vòng loại World Cup 2010, Uzbekistan vượt qua vòng ba sau khi toàn thắng bốn trận đầu tiên, nhưng ở vòng cuối (vòng 4) họ chỉ giành được 4 điểm sau 8 trận, xếp cuối bảng A sau Úc, Nhật Bản, Bahrain và Qatar.

Uzbekistan tại Asian Cup 2011

Tại Asian Cup 2011, Uzbekistan đạt thành tích tốt nhất lịch sử khi cán đích ở vị trí thứ tư. Sau khi vượt qua vòng bảng và tứ kết, đội bóng bỏ lỡ cơ hội lần đầu vào chung kết khi để Úc vùi dập 6–0 ở bán kết. Ở trận tranh hạng ba vài ngày sau, họ tiếp tục thua Hàn Quốc 2–3.[6]vòng loại World Cup 2014, Uzbekistan dẫn đầu bảng ở vòng ba với 16 điểm (5 thắng, 1 hòa), vượt qua cả Nhật Bản và giành chiến thắng lịch sử 1–0 ngay trên sân khách trước đối thủ hàng đầu châu lục này. Ở vòng bốn, Uzbekistan thi đấu khá tốt khi đứng thứ ba bảng A, bằng điểm Hàn Quốc (14 điểm) nhưng kém hiệu số bàn thắng – bại, nên mất suất trực tiếp dự World Cup. Họ phải bước vào vòng play-off châu Á gặp Jordan. Sau hai lượt trận hòa nhau, Uzbekistan bị loại cay đắng khi thua Jordan 8–9 trên chấm luân lưu ngày 10 tháng 9 tháng 2013, khiến họ thêm một lần nữa lỡ hẹn với giấc mơ World Cup.

Tại Asian Cup 2015, Uzbekistan vượt qua vòng bảng với tư cách nhì bảng B (sau Trung Quốc), nhưng dừng bước ở tứ kết sau khi để thua Hàn Quốc 0–2 trong hiệp phụ. Tại vòng loại World Cup 2018, Uzbekistan khởi đầu thất vọng khi thua Triều Tiên 2–4, nhưng sau đó đã kịp trở lại mạnh mẽ, thắng toàn bộ các trận còn lại để đứng đầu bảng, đồng thời giành vé dự Asian Cup 2019 và vòng loại cuối cùng World Cup. Tuy nhiên, ở vòng cuối, Uzbekistan một lần nữa lỡ hẹn khi xếp thứ tư sau Iran, Hàn Quốc và Syria. Trận hòa 0–0 trước Hàn Quốc ở lượt cuối khiến họ chính thức mất cơ hội đến World Cup.[7] Tại Asian Cup 2019, Uzbekistan thắng Oman 2–1 và Turkmenistan 4–0, qua đó lần thứ năm liên tiếp vượt qua vòng bảng, dù thua Nhật Bản 1–2 ở trận cuối. Ở vòng 16 đội, Uzbekistan hòa 0–0 trước đương kim vô địch Úc trong 120 phút, nhưng thất bại 2–4 trên loạt sút luân lưu.

Uzbekistan tại Asian Cup 2019

Thập niên 2020

[sửa | sửa mã nguồn]

vòng loại World Cup 2022, Uzbekistan lại gây thất vọng khi sớm dừng bước ở vòng hai sau 8 trận thi đấu - nơi đội dù thắng 5 trận nhưng thua đến 3. Đáng chú ý, Triều Tiên bất ngờ rút khỏi giải do đại dịch COVID-19, và FIFA/AFC hủy toàn bộ kết quả các trận đấu có Triều Tiên. Điều này khiến Liban – vốn có kết quả tốt hơn so với Uzbekistan trong bối cảnh đó – giành vé đi tiếp, đẩy Uzbekistan ra ngoài cuộc đua.[8][9][10] Tại vòng loại Asian Cup 2023, Uzbekistan là chủ nhà bảng C (do ảnh hưởng dịch COVID-19 tại châu Á). Họ toàn thắng cả 3 trận trước Sri Lanka, Maldives và Thái Lan, không để lọt lưới bàn nào, và giành quyền tham dự vòng chung kết. Tại giải đấu, Uzbekistan nằm ở bảng B cùng Úc, Syria và Ấn Độ. Trước giải, chân sút số một lịch sử đội tuyển – Eldor Shomurodov – dính chấn thương nặng và phải rút lui. Uzbekistan hòa Syria 0–0, thắng Ấn Độ 3–0, và hòa Úc 1–1 để đứng nhì bảng, giành vé vào vòng 16 đội. Tại đây, họ thắng Thái Lan 2–1, nhưng bị loại ở tứ kết sau khi hòa chủ nhà Qatar 1–1 và thua 2–3 trên chấm luân lưu.[11]vòng hai của vòng loại World Cup 2026, Uzbekistan bất bại (4 thắng, 2 hòa), đứng nhì bảng và vào vòng ba. Tại vòng ba, đội bóng Trung Á viết nên lịch sử khi lần đầu tiên giành quyền tham dự World Cup, sớm một lượt trận sau trận hòa 0–0 trên sân UAE.[12]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
1936 1994

Thành tích tại các giải đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]

Uzbekistan có lần đầu tiên trong lịch sử giành quyền dự World Cup vào năm 2026, sau nhiều lần không thể vượt qua vòng loại.

Thành tích tại VCK FIFA World Cup Thành tích tại vòng loại
Năm Thành tích Thứ hạng Tr T H B BT BB Tr T H B BT BB
1930 đến 1990 Không tham dự, là một phần của  Liên Xô Không tham dự, là một phần của  Liên Xô
Hoa Kỳ 1994 Không phải là thành viên FIFA Không phải là thành viên FIFA
Pháp 1998 Không vượt qua vòng loại 14 6 4 4 33 21
Hàn Quốc Nhật Bản 2002 14 7 3 4 33 19
Đức 2006 14 6 5 3 24 15
Cộng hòa Nam Phi 2010 16 8 1 7 33 17
Brasil 2014 18 11 5 2 28 9
Nga 2018 18 11 1 6 26 14
Qatar 2022 8 5 0 3 18 9
Canada Hoa Kỳ México 2026 Đã vượt qua vòng loại 15 9 5 1 24 11
Tây Ban Nha Bồ Đào Nha Maroc 2030 Chưa xác định Chưa xác định
Ả Rập Xê Út 2034
Tổng cộng 1/8 117 63 24 30 219 115

Cúp bóng đá châu Á

[sửa | sửa mã nguồn]
AFC Asian Cup Vòng loại AFC Asian Cup
Chủ nhà / Năm Thành tích Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
1956 đến 1992 Không tham dự, là một phần của  Liên Xô Không tham dự, là một phần của  Liên Xô
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 1996 Vòng 1 10th 3 1 0 2 3 6 2 1 0 1 5 4
Liban 2000 12th 3 0 1 2 2 14 4 4 0 0 16 2
Trung Quốc 2004 Tứ kết 6th 4 3 1 0 5 2 6 4 1 1 13 6
Indonesia Malaysia Thái Lan Việt Nam 2007 7th 4 2 0 2 10 4 6 3 2 1 14 4
Qatar 2011 Hạng tư 4th 6 3 1 2 10 13 4 3 0 1 7 3
Úc 2015 Tứ kết 8th 4 2 0 2 5 5 6 3 2 1 10 4
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 2019 Vòng 2 10th 4 2 1 1 7 3 8 7 0 1 20 7
Qatar 2023 Tứ kết 7th 5 2 3 0 7 3 11 8 0 3 27 9
Ả Rập Xê Út 2027 Đã vượt qua vòng loại 6 4 2 0 13 4
Tổng cộng 9/9 4th 33 15 7 11 49 50 53 37 7 9 125 43

Đại hội thể thao châu Á

[sửa | sửa mã nguồn]
  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1998)
Năm Thứ hạng GP W D L GS GA
1951 đến 1990Không tham dự, là một phần của  Liên Xô
Nhật Bản 1994Vô địch7700237
Thái Lan 1998Tứ kết6321258
Tổng cộng2/131310214815

Xếp hạng FIFA

[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả thi đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Ban huấn luyện

[sửa | sửa mã nguồn]
Vị trí Tên
Huấn luyện viên trưởng Ý Fabio Cannavaro
Trợ lý huấn luyện viên Ý Francesco Troise
Huấn luyện viên thủ môn Ý Antonio Chimenti
Huấn luyện viên thể hình Ý Eugenio Albarella

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách cập nhật

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cầu thủ sau đây được triệu tập tham dự FIFA Series 2026 gặp GabonVenezuela lần lượt vào ngày 27 và 30 tháng 3 năm 2026.[13]

Thống kê số lần ra sân và bàn thắng được cập nhật đến ngày 30 tháng 3 năm 2025, sau trận đấu với Venezuela.

Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
1 1TM Utkir Yusupov 4 tháng 1, 1991 (35 tuổi) 39 0 Uzbekistan Navbahor
12 1TM Abduvohid Nematov 20 tháng 3, 2001 (25 tuổi) 13 0 Uzbekistan Nasaf
16 1TM Botirali Ergashev 23 tháng 6, 1995 (30 tuổi) 3 0 Uzbekistan Neftchi

2 2HV Abdukodir Khusanov 29 tháng 2, 2004 (22 tuổi) 25 0 Anh Manchester City
3 2HV Khojiakbar Alijonov 19 tháng 4, 1997 (29 tuổi) 51 3 Uzbekistan Pakhtakor
4 2HV Farrukh Sayfiev 17 tháng 1, 1991 (35 tuổi) 64 1 Uzbekistan Neftchi
5 2HV Rustam Ashurmatov 7 tháng 7, 1996 (29 tuổi) 47 1 Iran Esteghlal
13 2HV Sherzod Nasrullaev 23 tháng 7, 1998 (27 tuổi) 35 2 Uzbekistan Pakhtakor
15 2HV Umar Eshmurodov 30 tháng 11, 1992 (33 tuổi) 39 0 Uzbekistan Nasaf
20 2HV Bekhruz Karimov 7 tháng 8, 2007 (18 tuổi) 2 0 Uzbekistan Surkhon
23 2HV Mukhammadrasul Abdumazhidov 23 tháng 7, 2004 (21 tuổi) 0 0 Uzbekistan Pakhtakor
24 2HV Jakhongir Urozov 18 tháng 1, 2004 (22 tuổi) 2 1 Uzbekistan Dinamo
25 2HV Mukhammadkodir Khamraliev 6 tháng 7, 2001 (24 tuổi) 6 0 Uzbekistan Pakhtakor

6 3TV Akmal Mozgovoy 2 tháng 4, 2000 (26 tuổi) 23 1 Uzbekistan Pakhtakor
7 3TV Otabek Shukurov 22 tháng 6, 1996 (29 tuổi) 86 9 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Baniyas
8 3TV Jamshid Iskanderov 16 tháng 10, 1993 (32 tuổi) 42 4 Uzbekistan Neftchi
9 3TV Odiljon Hamrobekov 13 tháng 2, 1996 (30 tuổi) 71 1 Iran Tractor
10 3TV Azizjon Ganiev 22 tháng 2, 1998 (28 tuổi) 22 0 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al Bataeh
11 3TV Oston Urunov 19 tháng 12, 2000 (25 tuổi) 42 10 Iran Persepolis
17 3TV Dostonbek Khamdamov 24 tháng 7, 1996 (29 tuổi) 35 5 Uzbekistan Pakhtakor
18 3TV Alisher Odilov 15 tháng 7, 2001 (24 tuổi) 3 1 Uzbekistan Neftchi
19 3TV Ibrokhim Ibrokhimov 12 tháng 1, 2001 (25 tuổi) 0 0 Uzbekistan Pakhtakor
22 3TV Umarali Rakhmonaliev 18 tháng 8, 2003 (22 tuổi) 1 0 Azerbaijan Sabah

14 4 Eldor Shomurodov (Đội trưởng) 29 tháng 6, 1995 (30 tuổi) 90 44 Thổ Nhĩ Kỳ İstanbul Başakşehir
21 4 Igor Sergeev 30 tháng 4, 1993 (33 tuổi) 81 24 Iran Persepolis
26 4 Sherzod Temirov 27 tháng 10, 1998 (27 tuổi) 3 0 Iraq Erbil

Triệu tập gần đây

[sửa | sửa mã nguồn]
Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Vladimir Nazarov 8 tháng 6, 2002 (23 tuổi) 1 0 Uzbekistan Pakhtakor v.  Iran, 18 tháng 11 năm 2025

HV Husniddin Aliqulov 4 tháng 4, 1999 (27 tuổi) 34 3 Thổ Nhĩ Kỳ Çaykur Rizespor v.  Iran, 18 tháng 11 năm 2025
HV Abdulla Abdullaev 1 tháng 9, 1997 (28 tuổi) 27 0 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Dibba v.  Iran, 18 tháng 11 năm 2025
HV Alibek Davronov 28 tháng 12, 2002 (23 tuổi) 7 0 Uzbekistan Nasaf v.  Uruguay, 13 tháng 10 năm 2025
HV Dilshod Saitov 2 tháng 2, 1999 (27 tuổi) 7 0 Uzbekistan Pakhtakor v.  Uruguay, 13 tháng 10 năm 2025
HV Ibrokhimkhalil Yuldoshev 14 tháng 2, 2001 (25 tuổi) 20 1 Uzbekistan Neftchi CAFA Nations Cup 2025
HV Dilshod Komilov 16 tháng 5, 1999 (27 tuổi) 2 0 Uzbekistan Navbahor CAFA Nations Cup 2025
HV Avazbek Ulmasaliev 27 tháng 3, 2000 (26 tuổi) 0 0 Uzbekistan AGMK CAFA Nations Cup 2025
HV Islom Tukhtakhujaev 30 tháng 10, 1989 (36 tuổi) 74 2 Uzbekistan Andijon v.  Qatar, 10 tháng 6 năm 2025

TV Khojimat Erkinov 29 tháng 5, 2001 (24 tuổi) 42 7 Uzbekistan Pakhtakor v.  Iran, 18 tháng 11 năm 2025
TV Azizbek Turgunboev 1 tháng 10, 1994 (31 tuổi) 41 6 Uzbekistan Andijon v.  Iran, 18 tháng 11 năm 2025
TV Ruslanbek Jiyanov 5 tháng 6, 2001 (24 tuổi) 7 1 Uzbekistan Navbahor v.  Iran, 18 tháng 11 năm 2025
TV Sardorbek Bakhromov 16 tháng 2, 2005 (21 tuổi) 0 0 Uzbekistan Nasaf v.  Iran, 18 tháng 11 năm 2025
TV Abdurauf Buriev 20 tháng 7, 2002 (23 tuổi) 7 0 Uzbekistan Pakhtakor v.  Uruguay, 13 tháng 10 năm 2025
TV Abbosbek Fayzullaev 3 tháng 10, 2003 (22 tuổi) 30 8 Thổ Nhĩ Kỳ İstanbul Başakşehir v.  Kuwait, 9 tháng 10 năm 2025 PRE / INJ
TV Nodir Abdurazzakov 27 tháng 5, 2004 (21 tuổi) 0 0 Uzbekistan AGMK v.  Kuwait, 9 tháng 10 năm 2025 PRE
TV Anvar Khojimirzaev 21 tháng 10, 1994 (31 tuổi) 0 0 Uzbekistan Dinamo v.  Kuwait, 9 tháng 10 năm 2025 PRE
TV Diyor Kholmatov 22 tháng 7, 2002 (23 tuổi) 6 0 Uzbekistan Navbahor CAFA Nations Cup 2025
TV Jaloliddin Masharipov 1 tháng 9, 1993 (32 tuổi) 73 12 Iran Esteghlal v.  Qatar, 10 tháng 6 năm 2025

Khusayin Norchaev 6 tháng 2, 2002 (24 tuổi) 3 1 Uzbekistan Navbahor v.  Iran, 18 tháng 11 năm 2025
Rustam Turdimurodov 4 tháng 4, 2004 (22 tuổi) 0 0 Uzbekistan Pakhtakor v.  Kuwait, 9 tháng 10 năm 2025 PRE
Bobur Abdikholikov 23 tháng 4, 1997 (29 tuổi) 16 1 Uzbekistan Nasaf v.  Qatar, 10 tháng 6 năm 2025

Chú thích:

  • SUS Cầu thủ rút lui
  • INJ Rút lui do chấn thương
  • RET Đã chia tay đội tuyển quốc gia
  • WD Cầu thủ bỏ cuộc do chấn thương không rõ ràng

Kỷ lục

[sửa | sửa mã nguồn]

Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia

[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia Uzbekistan nhiều nhất.

Server Djeparov là cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất với 128 trận
Tính đến 11 tháng 6 năm 2024
# Cầu thủ Thời gian Số trận Bàn thắng
1Server Djeparov2002–201712825
2Timur Kapadze2002–201511910
3Odil Ahmedov2007–202110820
4Ignatiy Nesterov2002–20191050
5Anzur Ismailov2007–20191043
6Alexander Geynrikh2002–20179832
7Azizbek Haydarov2007–2019851
8Islom Tukhtakhodjaev2009–2021732
Igor Sergeev2013–7319
10Vitaliy Denisov2007–2018721

Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất

[sửa | sửa mã nguồn]
Eldor Shomurodov là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất với 40 bàn.

Tính đến ngày 11 tháng 6 năm 2024, 10 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Uzbekistan là:

# Cầu thủ Thời gian Bàn thắng Số trận
1Eldor Shomurodov2015–4072
2Maksim Shatskikh1999–20143461
3Mirjalol Qosimov1992–20053167
Alexander Geynrikh2002–20173197
5Server Djeparov2002–201725128
6Odil Ahmedov2007–202121108
7Igor Shkvyrin1992–20002031
8Igor Sergeev2013–1973
9Jafar Irismetov1997–20071536
10Ulugbek Bakayev2001–20141452

Thành tích đối đầu

[sửa | sửa mã nguồn]
Tất cả các đội tuyển mà đội tuyển bóng đá quốc gia Uzbekistan đã từng đối đầu ít nhất một lần.
Tính đến 2 thang 9 năm 2025.[14]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 19 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
  2. Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
  3. Millar, Colin (ngày 5 tháng 6 năm 2025). "Uzbekistan, Jordan qualify for World Cup for first time". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2025.
  4. "Uzbekistan - Remembering the Miracle of 1994". Futbolgrad. ngày 25 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2021.
  5. "Uzbekistan and Bahrain to play it again". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2016.
  6. "Uzbekistan 2–3 South Korea". Goal.com. ngày 28 tháng 1 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2011.
  7. "www.espn.com/video/clip?id=20590948". espn.com. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2021.
  8. "South Korea: North Koreans pull out of World Cup qualifying". AP News. ngày 4 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2021.
  9. "Latest update on Asian Qualifiers". Asian Football Confederation. ngày 16 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2021.
  10. "Latest decision on Asian Qualifiers". Asian Football Confederation. ngày 27 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2023.
  11. "Qatar 1-1 Uzbekistan (3-2 on pens): Hosts win penalty shootout to set up Asian Cup semi with Iran". BBC Sport. ngày 3 tháng 2 năm 2024.
  12. "Uzbekistan qualify for World Cup for first time after draw with UAE". Reuters. ngày 5 tháng 6 năm 2025.
  13. "Milliy terma jamoaning tarkibi elon qilindi". Ufa.uz. Uzbekistan Football Association. ngày 26 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
  14. "World Football Elo Ratings: Uzbekistan".

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]