Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam
Huy hiệu áo/Huy chương hiệp hội
Biệt danh Rồng Vàng [1]
Sao Vàng [2]
Hiệp hội VFF (Việt Nam)
Liên đoàn châu lục AFC (châu Á)
Liên đoàn khu vực AFF (Đông Nam Á)
HLV trưởng Park Hang-seo
Đội trưởng Quế Ngọc Hải
Thi đấu nhiều nhất Lê Công Vinh (85)
Ghi bàn nhiều nhất Lê Công Vinh (51)
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 99 tăng (7 tháng 2 năm 2019)
Cao nhất 84 (tháng 12 năm 1998)
Thấp nhất 172 (tháng 12 năm 2006)
Hạng Elo
Hiện tại 117 tăng (5 tháng 2 năm 2019)
Cao nhất 58
Thấp nhất 175
Trận quốc tế đầu tiên
 Philippines 2–2 Việt Nam 
(Manila, Philippines; 26 tháng 11 năm 1991)
Trận thắng đậm nhất
 Việt Nam 11–0 Guam 
(TP. HCM, Việt Nam; 23 tháng 1 năm 2000)
Trận thua đậm nhất
 Oman 6–0 Việt Nam 
(Incheon, Hàn Quốc, 29 tháng 12 năm 2003)
Cúp châu Á
Sồ lần tham dự 4 (Lần đầu vào năm 1956)
Kết quả tốt nhất Hạng tư (1956, 1960)
Cúp Đông Nam Á
Sồ lần tham dự 12 (Lần đầu vào năm 1996)
Kết quả tốt nhất Vô địch (2008, 2018)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam là đội tuyển cấp quốc gia đại diện cho Việt Nam thi đấu bóng đá quốc tế và do Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) quản lý.

Kể từ năm 1991, đội 2 lần lọt vào tứ kết Cúp bóng đá châu Á các năm 2007, 2019, 2 lần giành huy chương bạc SEA Games các năm 1995, 1999, 2 chức vô địch giải bóng đá Đông Nam Á vào các năm 2008, 2018 và chưa lần nào vượt qua vòng loại World Cup. Năm 2007, là quốc gia đăng cai, Việt Nam lần đầu sau khi thống nhất dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á và vào tới tứ kết. Ở đấu trường khu vực, đội giành ngôi vô địch AFF Cup lần đầu năm 2008 khi thắng Thái Lan ở chung kết. Cuối năm 2011, Việt Nam tăng 35 bậc, xếp thứ 99, trở lại tốp 100 FIFA sau 7 năm và dẫn đầu Đông Nam Á lần đầu tiên trong bảng xếp hạng.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 7 năm 1908, tờ Lục tỉnh Tân văn đưa tin trận cầu giữa hai đội bóng thuần cầu thủ người Việt Nam diễn ra. Đến năm 1928, một số người Việt đứng ra thành lập Tổng cục Thể thao An Nam (tại Sài Gòn), cùng trong năm ấy cử một đội bóng Việt Nam sang thi đấu ở Singapore.[4] Sau năm 1954, Việt Nam chia cắt dẫn đến sự hiện diện của hai đội tuyển bóng đá ở hai chính quyền. Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chuyến thi đấu quốc tế đầu tiên sang Trung Quốc năm 1956. Trong chuyến du đấu này, đội có trận ra mắt với đội tuyển Trung Quốc và để thua 3-5, đội đá theo sơ đồ 3–2–5 với những gương mặt như Bùi Đức, Quắn Đình Te, Bùi Nghẽn, Nguyễn Huy Luyến, Thưởng, Tấn Nghĩa, Bảy,...[5] Đội chủ yếu chơi trong các giải của các nước xã hội chủ nghĩa từ 1956 đến 1966 và tại các giải GANEFO. Cùng thời gian, Đội tuyển bóng đá Việt Nam Cộng hòa tham dự hai giải Cúp bóng đá châu Á đầu tiên (1956, 1960) và đều đứng hạng 4/4. Đội cũng tham dự Á vận hội 1962, vượt qua vòng bảng và xếp hạng 4 chung cuộc. Đội đã đoạt chiếc huy chương vàng SEA Games bóng đá đầu tiên cho Việt Nam khi giành ngôi vô địch kỳ đại hội năm 1959. Đội cũng từng tham gia tham gia vòng loại World Cup 1974, vòng loại các kỳ Thế vận hội Mùa hè 1964Thế vận hội Mùa hè 1968. Trận cuối cùng của đội là vào năm 1975, khi Sài Gòn được giải phóng, và Việt Nam Cộng hòa cáo chung. Việt Nam sau thống nhất không tham gia thi đấu quốc tế trong suốt thời gian từ 1975 đến 1991. Giải đấu quốc tế đầu tiên mà đội tuyển Việt Nam thống nhất tham gia thi đấu là SEA Games 1991 được tổ chức tại Manila.[6] Trong trận đầu tiên đội gặp đối thủ nước chủ nhà Philippines và hòa 2–2. Lần tập trung dự SEA Games năm đó, do điều kiện tập trung ở Nhổn thiếu thốn nên sau một tuần tập trung, 11 cầu thủ phía Nam (thành viên các đội Công nhân Quảng Nam-Đà Nẵng, Hải Quan, Cảng Sài Gòn) cùng "đào ngũ".[7] Sau năm 1991, đội bắt đầu được triệu tập thường xuyên hơn để thi đấu các giải khu vực và những trận giao hữu.

Tại các kì SEA Games[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Việt Nam thống nhất lần đầu được triệu tập tham dự SEA Games 16. Việt Nam, do Vũ Văn TưNguyễn Kim Hằng dẫn dắt, giành một điểm sau trận hòa với chủ nhà Philippines, thua IndonesiaMalaysia. Ảnh hưởng bởi vụ "đào ngũ" tại Nhổn, Vũ Văn Tư từ nhiệm sau 7 ngày dẫn dắt. Để lấp chỗ trống, liên đoàn huy động một số cầu thủ và HLV Thể Công, Nguyễn Sĩ Hiển lên làm nhiệm vụ. Việt Nam giữ bộ khung để đá SEA Games 17, trình làng một số cầu thủ như Nguyễn Hồng Sơn, Lê Huỳnh Đức. Đội giành duy nhất một chiến thắng trước Philippines và bị loại khi thua 2 trận còn lại. Sau hai kỳ SEA Games đầu, Liên đoàn bóng đá Việt Nam bắt đầu thuê huấn luyện viên ngoại và người đầu tiên là Karl Heinz Weigang. Sau 7 tuần dẫn dắt đội thì trở về Đức, trong thời gian này, nhờ nhà tài trợ mới Strata, liên đoàn đã thuê Edson Tavares. Tại Cúp Độc Lập 1995, Việt Nam có hai đội tuyển tham dự và cả hai đều vào bán kết. Việt Nam còn giành thắng lợi trước Estonia tại vòng bảng bằng bàn thắng của tiền đạo Lê Huỳnh Đức. Thua Housing Bank bán kết, Tavares từ chức, Weigang trở lại đã cho đội đi tập huấn tại châu Âu. SEA Games 18, Việt Nam đánh bại Malaysia, Campuchia, Indonesia và thua Thái Lan ở vòng bảng. Tại bán kết, Việt Nam thắng Myanmar ở hiệp phụ nhờ bàn thắng của Trần Minh Chiến. Trận thắng gây tổn thất cho đội do thẻ phạt, chấn thương, và một số trụ cột không thể góp mặt trong trận chung kết thua Thái Lan. SEA Games 19 khởi đầu với Việt Nam bằng thất bại trước Malaysia, hòa Indonesia rồi vượt qua Lào và Philippines vào bán kết, gặp lại và thua Thái Lan, nhận huy chương đồng khi thắng Singapore trận tranh giải ba. Rơi vào bảng 5 đội ở SEA Games 20, Việt Nam hạ Lào, Myanmar, Philippines và hòa Thái Lan, vào bán kết thắng Indonesia, tái ngộ Thái Lan tại chung kết khi thủ môn Trần Minh Quang đang có kỷ lục giữ sạch lưới lâu nhất với 450 phút nhưng Alfred Riedl lần nữa cùng Việt Nam nhìn người Thái đoạt bộ huy chương vàng với thất bại 0-2.

Tại các giải Tiger Cup và AFF Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Sau trận mở màn thắng Campuchia tại Tiger Cup 1996, trận hòa Lào bị tình nghi "làm độ" khi trung vệ Nguyễn Hữu Thắng vào bóng với cầu thủ Lào và nhận thẻ đỏ trực tiếp. Weigang đòi đuổi Hữu Thắng còn 4 cầu thủ họ Nguyễn khác cũng dính vào nghi án. Việt Nam đánh bại Myanmar và hòa Indonesia hai trận sau, thua Thái Lan bán kết, thắng Indonesia tranh 3/4. Lần đầu Việt Nam đăng cai một giải quốc tế là Tiger Cup 1998, nằm ở bảng mà dưới quyền Alfred Riedl, đội hạ Thái Lan 3-0 tại bán kết. Chung kết, bàn thắng được ghi do lưng của hậu vệ Sasi Kumar đã đem chiếc Cup vàng cùng Singapore rời khỏi sân Hàng Đẫy. Giải bóng đá của thiên niên kỷ mới Tiger Cup 2000 tổ chức trên đất Thái Lan. Cùng bảng với Singapore và Malaysia, sau trận đầu hòa Malaysia, Việt Nam "đòi nợ" Singapore thắng 1-0. Bán kết, đội thua Indonesia 2-3 ở hiệp phụ và thua Malaysia ở trận tranh hạng 3. Tiger Cup 2002 là thời chuyển giao thế hệ của Việt Nam với những tên tuổi mới sau đó trở thành trụ cột đội tuyển quốc gia: Nguyễn Minh Phương, Phan Văn Tài Em, Phạm Văn Quyến... Sau vòng bảng thắng Campuchia, Philippines, hòa Indonesia, Việt Nam thua Thái Lan tại bán kết rồi hạ Malaysia lấy đồng. Tiger Cup 2004 là lần đầu cả Thái Lan và Việt Nam bị loại từ vòng bảng.

Đội hình xuất phát của Việt Nam tại trận chung kết lượt về AFF Cup 2008.

AFF Cup 2007, Việt Nam hòa Indonesia và Singapore, xếp nhì nhờ thắng Lào 9–0. Bán kết, gặp Thái Lan lượt đi thua 0-2, hòa nhau lượt về. Việt Nam đồng hạng 3 Malaysia. Trước AFF 2008, khi Henrique Calisto nắm, đội toàn hòa và thua giao hữu. Vòng bảng, Việt Nam thua Thái Lan, và thắng Malaysia, Lào để vào bán kết đấu đương kim vô địch Singapore. Lượt đi 2 đội hòa không bàn thắng. Lượt về tại Singapore, Nguyễn Quang Hải ghi bàn duy nhất giúp đội vào chung kết. Gặp Thái Lan chung kết lượt đi sân khách, Việt Nam dẫn 2–0 và chủ nhà gỡ lại một bàn. Chung kết lượt về ngày 28 tháng 12, bị dẫn 1–0 đến phút bù giờ cuối cùng, nhờ cú đá phạt của Minh Phương tìm đến Công Vinh, người đánh đầu tung lưới Thái Lan, Việt Nam đoạt chức vô địch Đông Nam Á đầu tiên. Nhà đương kim vô địch ra mắt AFF Cup 2010 thắng Myanmar, sảy chân thua Philippines rồi hạ Singapore, vào bán kết thua Malaysia với tổng tỉ số 0–2 sau 2 lượt trận. Việt Nam chia tay cặp tiền vệ Minh Phương, Tài Em còn Calisto tổ chức họp báo từ chức. Đội dùng thầy nội cho giải khu vực với Phan Thanh Hùng tại AFF Cup 2012. Cùng bảng Thái Lan, PhilippinesMyanmar, đội bị loại sớm ngay sau vòng đấu bảng. Kết thúc giải, Việt Nam hơn Myanmar về hiệu số bàn thắng/bại nên được miễn đấu vòng loại để tham gia giải lần sau.

Đội tuyển Việt Nam trong trận bán kết lượt đi AFF Suzuki Cup 2010 gặp đội tuyển Malaysia.

Thời kỳ chuyển tiếp AFF Cup 2014 là khi Miura Toshiya đến tiếp quản. Các trụ cột bị loại thay cho những gương mặt như Trần Nguyên Mạnh, Quế Ngọc Hải, Vũ Minh Tuấn, Ngô Hoàng Thịnh... Vòng bảng trên sân nhà, đội hòa Indonesia, thắng Lào và Philippines, vào bán kết gặp Malaysia. Thắng 2–1 bán kết lượt đi thì ở lượt về, thua Malaysia 2-4 và nhường tấm vé vào chung kết cho đối thủ. Hữu Thắng được chọn làm HLV tại AFF Suzuki Cup 2016, với các chiến thắng giao hữu 2-0 trước Syria và 3-2 trước Indonesia. Trước AFF Suzuki Cup 2016, Việt Nam chưa bao giờ toàn thắng ở vòng bảng và ở giải này đã đánh bại chủ nhà Myanmar, thắng tối thiểu Malaysia và vượt qua Campuchia trong thế bị mất người. Việt Nam đứt mạch thắng khi thua Indonesia 1-2 bán kết lượt đi tại Bogor sau đó dẫn 2-1 trong 90 phút lượt về tại Mỹ Đình ở thế thiếu người vì Nguyên Mạnh bị thẻ đỏ. Hiệp phụ, đội khách có được bàn thắng san bằng tỷ số từ chấm phạt đền ở phút 97 đánh bại thủ môn bất đắc dĩ Quế Ngọc Hải, tổng tỷ số sau hai lượt là Indonesia thắng 4-3.

Nòng cốt tham dự AFF Cup 2018 là các cầu thủ đã giành huy chương bạc U-23 châu Á và đứng thứ tư Asiad 2018 như Trần Đình Trọng, Đoàn Văn Hậu, Nguyễn Quang Hải, Phan Văn Đức,...cùng một số cựu binh như Nguyễn Văn Quyết, Nguyễn Anh ĐứcNguyễn Trọng Hoàng[8]. Mở đầu giải thắng Lào và Malaysia, sau khi hòa trên sân Myanmar, Việt Nam thắng Campuchia, đứng đầu bảng với 10 điểm và không thủng lưới. Bán kết, Việt Nam đánh bại Philippines cùng với tỷ số 2-1 trận lượt đi ở Bacolod và lượt về trên sân nhà, chung cuộc thắng 4-2 vào chung kết sau 10 năm và gặp lại Malaysia. Chung kết lượt đi trên sân Bukit Jalil, Việt Nam dẫn trước 2-0 nhưng sau đó để Malaysia gỡ hòa 2-2. Lượt về, Anh Đức mở tỷ số phút thứ sáu và tỷ số được bảo toàn, Việt Nam thắng chung cuộc 3-2 để lần hai đăng quang giải vô địch Đông Nam Á. Việt Nam vô địch AFF Cup 2018, bất bại với 6 chiến thắng và 2 trận hòa, đồng thời vượt Pháp để sở hữu chuỗi trận bất bại dài nhất (16 trận) thời điểm đó. Chức vô địch giúp đội giành quyền dự trận tranh Siêu cúp bóng đá Đông Nam Á - Đông Á 2019.

Tại các giải châu lục và thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại World Cup 1994, do Trần Bình Sự huấn luyện ở bảng có Triều Tiên, Qatar, IndonesiaSingapore, Việt Nam có thắng lợi đầu tiên và duy nhất trước Indonesia loạt trận đầu. Lư Đình Tuấn là cầu thủ đầu tiên của đội ghi bàn tại vòng loại World Cup. Sau đó đội thua cả bốn trận lượt về và xếp cuối bảng. Vòng loại Asian Cup 1996, Việt Nam thắng Trung Hoa Đài Bắc, Guam rồi thua Hàn Quốc trong trận tranh ngôi nhất bảng và mất vé dự Asian Cup. Việt Nam mở đầu vòng loại World Cup 1998 thua chủ sân Tajikistan, rồi thua trên sân Turkmenistan và trên sân Thống Nhất trước Trung Quốc. Ba trận đấu còn lại của lượt về đều có tỷ số thua 0–4 cho Việt Nam. Vòng loại Asian Cup 2000, Việt Nam thắng Philippines và Guam sau đó thua Trung Quốc nên không thể lấy được ngôi nhất bảng và dừng bước. Vòng loại World Cup 2002, đội hòa một, thắng ba trận trước Mông CổBangladesh và thua Ả Rập Xê Út cả 2 lượt đấu, nhìn đội bóng Tây Á giành vé đi tiếp. Năm 2003, trên danh nghĩa ĐTQG tham dự vòng loại Cúp bóng đá châu Á, LĐBĐ Việt Nam cử đội U–23 thi đấu cọ xát chuẩn bị cho SEA Games 22. Nằm ở bảng có Oman, Hàn Quốc và Nepal, đội thua Oman với tỷ số kỉ lục 0-6, thua Hàn Quốc và thắng Nepal ở loạt trận đầu. Ở loạt sau thì thắng tối thiểu Hàn Quốc, Nepal rồi thua 0-2 Oman. Năm 2004, Edson Tavares trở lại Việt Nam dẫn dắt đội ở vòng loại World Cup 2006. Trước đó, HLV tạm quyền Nguyễn Thành Vinh giúp Việt Nam có chiến thắng đầu tiên trước Maldives. Đội thua Liban, Hàn Quốc và Maldives các trận còn loại, kết thúc hòa Liban và xếp thứ 3 chung cuộc.

Các quốc gia Đông Nam Á Thái Lan, Việt Nam, MalaysiaIndonesia đăng cai bốn bảng đấu Asian Cup 2007. Lần đầu tiên Việt Nam đăng cai một giải châu lục, do được miễn vòng loại nên Việt Nam cũng lần đầu được tham dự, cùng bảng với Nhật Bản, QatarCác Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE). Trận đầu tiên, Việt Nam vượt qua UAE nhờ hai bàn thắng của Huỳnh Quang ThanhLê Công Vinh sau đó hòa Qatar và đến lượt cuối, mở tỷ số trước khi đối đầu Nhật Bản sau đó bị ghi lại bốn bàn.Việt Nam nhì bảng với 4 điểm, trở thành đội duy nhất của Đông Nam Á lọt vào tứ kết năm đó. Tại tứ kết, Việt Nam thất thủ 0–2 trước Iraq, đội sau đó vô địch VCK Asian Cup 2007. Kết quả bốc thăm đưa thầy trò Alfred Riedl tái ngộ UAE ở vòng loại 1 của World Cup 2010. UAE thắng Việt Nam cả hai lượt đi-về với tổng tỷ số 6-0, phục hận thành công thất bại ở Asian Cup. Ở vòng loại Asian Cup 2011, đội thắng 1, hòa 2 trận khác trước LibanSyria, còn lại toàn thua trong đó có thất bại 1-6 trước Trung Quốc. Đội tham dự vòng loại World Cup 2014 dưới sự dẫn dắt của Falko Götz. Ở vòng 1, Việt Nam thắng Macau cả 2 lượt trận. Thua Qatar sân khách và thắng đối thủ lượt về. Sau thất bại ở AFF 2012, Phan Thanh Hùng từ chức và được thay thế bởi Hoàng Văn Phúc. Việt Nam dự vòng loại Asian Cup 2015 vào bảng có Uzbekistan, Hong KongUAE. Đội thua 5 trận, trong đó thua 0-5 UAE. Việt Nam thắng trận thủ tục với Hong Kong và xếp bét bảng vòng loại.

Đội tuyển Việt Nam trước lượt trận thứ hai bảng D Cúp bóng đá châu Á 2019 gặp đội tuyển Iran.

Vào vòng loại 2 World Cup 2018, Việt Nam thua Thái Lan và thắng Đài Loan sân khách rồi hòa Iraq và thua trận tái đấu Thái Lan tại Mỹ Đình. Năm 2016, Toshiya Miura bị sa thải và Nguyễn Hữu Thắng lên thay. Đội sau đó thắng Đài Loan sân nhà. Iraq trong trận quyết định đã hạ Việt Nam để đi tiếp. Kết thúc ở vị trí thứ 3, Việt Nam lọt vào vòng 3 của vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2019 cùng bảng là Afghanistan, Campuchia, và Jordan. Đội thắng Campuchia cả hai lượt trận và hòa 4 trận còn lại trong quá trình mà Hữu Thắng, Mai Đức ChungPark Hang-seo lần lượt thay nhau dẫn dắt đội. Việt Nam rơi vào bảng D Asian Cup 2019 với 3 đội Trung ĐôngIran, IraqYemen. Mở màn gặp Iraq, Việt Nam 2 lần dẫn trước trong hiệp 1 và thua ngược 2-3 trong thời gian còn lại của trận đấu. Trận thứ hai, Việt Nam thua Iran 0-2 và ở lượt đấu cuối, đội hạ Yemen 2-0, đi tiếp ở vị trí cuối top 4 đội thứ 3 có thành tích tốt nhất vì hơn Liban chỉ số fair-play. Vòng 1/8, Việt Nam tái ngộ một Jordan đã gặp ở vòng loại. Hai đội hoà 1-1 suốt 120 phút thi đấu và ở loạt luân lưu, Việt Nam thắng 4-2, vào tứ kết và dừng bước khi thua tối thiểu Nhật Bản.

Hình ảnh đội bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Khác với đa số các đội tuyển bóng đá quốc gia khi trên ngực áo thi đấu in logo của Liên đoàn bóng đá quốc gia hay logo riêng cho đội, tuyển Việt Nam chủ yếu thi đấu với quốc kỳ "Cờ Đỏ Sao Vàng" in trên ngực nên một số gọi là "Những ngôi sao vàng"[9]. Bên cạnh đó đội còn được gọi với biệt danh khác là "Những con rồng vàng". Màu vàng không phải là màu áo truyền thống của Đội tuyển Việt Nam (từ 1991 thường là màu đỏ). Với con rồng, đội tuyển Trung Quốc cũng sử dụng con vật này trong biệt danh và logo. Năm 2016, VFF đã thiết kế logo cho đội tuyển quốc gia dựa trên loài rồng nhưng chưa quyết định thống nhất . Vì thế cho đến nay, đội tuyển Việt Nam vẫn chưa có logo và biệt danh chính thức. Các nhà tài trợ chính cho đội gồm Yanmar, Grand Sport, Honda Việt Nam[10], Suzuki, Sony và một số nhà tài trợ phụ khác. Màu áo thi đấu chính của đội tuyển là bộ trang phục toàn đỏ, màu áo phụ là bộ trang phục toàn trắng. Từ năm 1999 đến 2003, tài trợ trang phục thi đấu cho đội tuyển là Adidas, từ 2005 đến hết 2008, hãng cung cấp trang phục thi đấu là Li Ning, từ tháng 1 năm 2009, Nike đảm nhiệm vai trò này theo một hợp đồng 5 năm.[11] Trang phục thi đấu cho đội tuyển trong giai đoạn 2015-2019 do Grand Sport tài trợ.[12] Sân nhà chính của đội trước năm 2003 là sân vận động Hàng Đẫy. Sau đó đội chuyển sang thi đấu chính thức ở sân vận động vừa được xây xong để phục vụ cho Sea Games 2003sân vận động quốc gia Mỹ Đình.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng chung kết World Cup Vòng loại
Năm Kết quả St T H B Bt Bb St T H B Bt Bb
1930 đến 1990 Không tham dự Không tham dự
1994 Không vượt qua vòng loại 8 1 0 7 4 18
1998 6 0 0 6 2 21
2002 6 3 1 2 9 9
2006 6 1 1 4 5 9
2010 2 0 0 2 0 6
2014 4 3 0 1 15 5
2018 6 2 1 3 7 8
2022 Chưa xác định Chưa xác định
Tổng cộng 0 0 0 0 0 0 38 10 3 25 42 76

Cấp châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng chung kết Asian Cup Vòng loại
Năm Kết quả St T H B Bt Bb St T H B Bt Bb
1956 Hạng tư 3 0 1 2 6 9 2 0 1 1 7 3
1960 Hạng tư 3 0 0 3 2 12 2 2 0 0 5 1
1964 đến 1992 Không tham dự Không tham dự
1996 Không vượt qua vòng loại 3 2 0 1 13 5
2000 3 2 0 1 14 2
2004 6 3 0 3 8 13
2007 Tứ kết 4 1 1 2 4 7 Chủ nhà
2011 Không vượt qua vòng loại 6 1 2 3 6 11
2015 6 1 0 5 5 15
2019 Tứ kết 5 1 1 3 5 7 12 4 5 3 16 11
Tổng cộng Tốt nhất: Hạng tư 15 2 3 10 17 35 40 15 8 17 74 61
Á vận hội
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Ấn Độ 1951 đến Nhật Bản 1994 Không tham dự
Thái Lan 1998 Vòng bảng 2 0 0 2 0 6
Tổng cộng Tốt nhất: Vòng bảng 2 0 0 2 0 6

Cấp khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
1996 Hạng ba 6 3 2 1 14 10
1998 Á quân 5 3 1 1 8 2
2000 Hạng tư 6 3 1 2 14 6
2002 Hạng ba 6 4 1 1 21 12
2004 Vòng bảng 4 2 1 1 13 5
2007 Bán kết 5 1 3 1 10 3
2008 Vô địch 7 4 2 1 11 6
2010 Bán kết 5 2 1 2 8 5
2012 Vòng bảng 3 0 1 2 2 5
2014 Bán kết 5 3 1 1 12 8
2016 Bán kết 5 3 1 1 8 6
2018 Vô địch 8 6 2 0 15 4
Tổng cộng Tốt nhất: Vô địch 65 34 17 14 136 72
SEA Games
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Thái Lan 1959 đến Malaysia 1989 Không tham dự
Philippines 1991 Vòng bảng 3 0 1 2 3 5
Singapore 1993 Vòng bảng 3 1 0 2 1 3
Thái Lan 1995 Á quân 6 4 0 2 10 8
Indonesia 1997 Hạng ba 6 3 1 2 9 6
Brunei 1999 Á quân 6 4 1 1 14 2
Tổng cộng 2 lần Á quân 24 12 3 9 37 24

Kết quả thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả thi đấu năm 2018[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2019 (Vòng 3)
Giao hữu
AFF Cup 2018
Giao hữu

Kết quả thi đấu năm 2019[sửa | sửa mã nguồn]

Asian Cup 2019
Siêu cúp bóng đá Đông Nam Á - Đông Á 2019
  • 1: Không phải là trận quốc tế theo FIFA

Danh sách cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách 23 cầu thủ được triệu tập để tham dự Asian Cup 2019[13].
Số liệu thống kê tính đến ngày 25 tháng 1 năm 2019 sau trận gặp Nhật Bản.

0#0 Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bt Câu lạc bộ
1 1TM Bùi Tiến Dũng 28 tháng 2, 1997 (21 tuổi) 1 0 Việt Nam Hà Nội FC
13 1TM Nguyễn Tuấn Mạnh 31 tháng 7, 1990 (28 tuổi) 4 0 Việt Nam Sanna Khánh Hòa BVN
23 1TM Đặng Văn Lâm 13 tháng 8, 1993 (25 tuổi) 16 0 Thái Lan Muangthong United

2 2HV Đỗ Duy Mạnh 29 tháng 9, 1996 (22 tuổi) 20 0 Việt Nam Hà Nội FC
3 2HV Quế Ngọc Hải (Đội trưởng) 15 tháng 5, 1993 (25 tuổi) 39 2 Việt Nam Thể Công
4 2HV Bùi Tiến Dũng 2 tháng 10, 1995 (23 tuổi) 17 0 Việt Nam Thể Công
5 2HV Đoàn Văn Hậu 19 tháng 4, 1999 (19 tuổi) 16 0 Việt Nam Hà Nội FC
12 2HV Nguyễn Phong Hồng Duy 13 tháng 6, 1996 (22 tuổi) 7 0 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai
17 2HV Hồ Tấn Tài 6 tháng 11, 1997 (21 tuổi) 0 0 Việt Nam Becamex Bình Dương
21 2HV Nguyễn Thành Chung 8 tháng 9, 1997 (21 tuổi) 1 0 Việt Nam Hà Nội FC

6 3TV Lương Xuân Trường (Đội phó) 28 tháng 4, 1995 (23 tuổi) 27 1 Thái Lan Buriram United
7 3TV Nguyễn Huy Hùng 2 tháng 3, 1992 (26 tuổi) 24 2 Việt Nam Quảng Nam
8 3TV Nguyễn Trọng Hoàng 14 tháng 4, 1989 (29 tuổi) 63 12 Việt Nam Sông Lam Nghệ An
14 3TV Trần Minh Vương 28 tháng 3, 1995 (23 tuổi) 3 0 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai
15 3TV Phạm Đức Huy 20 tháng 1, 1995 (24 tuổi) 7 1 Việt Nam Hà Nội FC
16 3TV Đỗ Hùng Dũng 8 tháng 9, 1993 (25 tuổi) 13 0 Việt Nam Hà Nội FC
19 3TV Nguyễn Quang Hải 12 tháng 4, 1997 (20 tuổi) 17 5 Việt Nam Hà Nội FC

9 4 Nguyễn Văn Toàn 12 tháng 4, 1996 (22 tuổi) 20 4 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai
10 4 Nguyễn Công Phượng 21 tháng 1, 1995 (24 tuổi) 29 8 Hàn Quốc Incheon United
11 4 Ngân Văn Đại 9 tháng 2, 1997 (22 tuổi) 2 0 Việt Nam Hà Nội FC
18 4 Hà Đức Chinh 22 tháng 9, 1997 (21 tuổi) 6 0 Việt Nam SHB Đà Nẵng
20 4 Phan Văn Đức 11 tháng 4, 1996 (22 tuổi) 14 2 Việt Nam Sông Lam Nghệ An
22 4 Nguyễn Tiến Linh 20 tháng 10, 1997 (21 tuổi) 8 2 Việt Nam Becamex Bình Dương

Triệu tập gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách những cầu thủ được triệu tập vào đội tuyển quốc gia trong 12 tháng qua:

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Phạm Văn Cường 19 tháng 7, 1990 (28 tuổi) 0 0 Việt Nam Quảng Nam FC AFF Cup 2018 PRE

HV Lâm Anh Quang 24 tháng 4, 1991 (27 tuổi) 0 0 Việt Nam SHB Đà Nẵng v  Jordan (Vòng loại Asian Cup 2019)
HV Lục Xuân Hưng INJ 15 tháng 4, 1995 (23 tuổi) 0 0 Việt Nam Thanh Hóa FC Cúp bóng đá châu Á 2019 PRE
HV Phạm Xuân Mạnh INJ 9 tháng 2, 1996 (23 tuổi) 1 0 Việt Nam Sông Lam Nghệ An v  Jordan (Vòng loại Asian Cup 2019)
HV Vũ Văn Thanh INJ 14 tháng 4, 1996 (22 tuổi) 16 2 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai v  Jordan (Vòng loại Asian Cup 2019)
HV Dương Thanh Hào 23 tháng 6, 1991 (27 tuổi) 0 0 Việt Nam Than Quảng Ninh AFF Cup 2018 PRE
HV Phạm Văn Thành 16 tháng 3, 1994 (24 tuổi) 0 0 Việt Nam TP. Hồ Chí Minh AFF Cup 2018 PRE
HV Đinh Viết Tú 16 tháng 8, 1997 (21 tuổi) 0 0 Việt Nam Quảng Nam FC AFF Cup 2018 PRE
HV Trần Đình Trọng INJ 25 tháng 4, 1997 (21 tuổi) 9 0 Việt Nam Hà Nội FC AFF Cup 2018
HV Ngô Tùng Quốc 27 tháng 1, 1998 (21 tuổi) 0 0 Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh Cúp bóng đá châu Á 2019 PRE

TV Vũ Minh Tuấn 19 tháng 9, 1990 (28 tuổi) 15 4 Việt Nam Thể Công v  Jordan (Vòng loại Asian Cup 2019)
TV Hồ Khắc Ngọc 2 tháng 8, 1992 (26 tuổi) 1 0 Việt Nam Sông Lam Nghệ An v  Jordan (Vòng loại Asian Cup 2019)
TV Đinh Thanh Bình 19 tháng 3, 1998 (20 tuổi) 0 0 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai Cúp bóng đá châu Á 2019 PRE
TV Đinh Thanh Trung RET 24 tháng 1, 1988 (31 tuổi) 23 2 Việt Nam Quảng Nam AFF Cup 2018 PRE

Nguyễn Hoàng Quốc Chí 4 tháng 12, 1991 (27 tuổi) 0 0 Việt Nam Quảng Nam AFF Cup 2018 PRE
Nguyễn Văn Quyết 27 tháng 6, 1991 (27 tuổi) 51 14 Việt Nam Hà Nội FC AFF Cup 2018
Nguyễn Anh Đức RET 25 tháng 1, 1985 (34 tuổi) 32 11 Việt Nam Becamex Bình Dương AFF Cup 2018
Nguyễn Hoàng Đức 11 tháng 1, 1998 (21 tuổi) 0 0 Việt Nam Thể Công Cúp bóng đá châu Á 2019 PRE

Ghi chú:

  • [a] Cầu thủ rút khỏi đội tuyển.
  • SUS Cầu thủ bị cấm thi đấu cho đội tuyển.
  • INJ Cầu thủ rút khỏi đội tuyển vì chấn thương.
  • RET Cầu thủ từ giã đội tuyển.
  • WD Cầu thủ rút khỏi đội tuyển không vì lí do chấn thương.
  • PRE Cầu thủ chỉ nằm trong danh sách sơ bộ.

Thành phần ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí Họ tên
Trưởng đoàn Việt Nam Dương Vũ Lâm
Giám đốc kỹ thuật Đức Hans-Jürgen Gede
Huấn luyện viên trưởng Hàn Quốc Park Hang-seo
Trợ lý huấn luyện viên Hàn Quốc Lee Young-jin
Trợ lý huấn luyện viên Việt Nam Lư Đình Tuấn (HCM)
Huấn luyện viên thể lực Brasil Willander Fonseca
Huấn luyện viên thủ môn Nguyễn Đức Cảnh (Hải Phòng)
Trợ lý ngôn ngữ Việt Nam Phan Huy Tuấn (VFF)
Bác sĩ Việt Nam Nguyễn Trọng Thủy (Lâm Đồng)
Bác sĩ Việt Nam Trần Huy Thọ
Bác sĩ Việt Nam Trần Nguyên Giáp

Dữ liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ thi đấu nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

# Tên Thời gian thi đấu Số lần khoác áo CLB hiện tại
1 Lê Công Vinh 2004–2016 83 Giải nghệ
2 Phạm Thành Lương 2008–2016 78 Việt Nam Hà Nội
3 Nguyễn Minh Phương 2002–2010 73 Giải nghệ
4 Lê Huỳnh Đức 1995–2004 66 Giải nghệ
5 Lê Tấn Tài 2006–2014 63 Việt Nam Becamex Bình Dương
6 Nguyễn Trọng Hoàng 2009– 57 Việt Nam Sông Lam Nghệ An
7 Nguyễn Văn Quyết 2011– 54 Việt Nam Hà Nội
8 Phan Văn Tài Em 2002–2011 50 Giải nghệ
9 Nguyễn Hồng Sơn 1993–2001 48 Giải nghệ
10 Nguyễn Vũ Phong 2006–2014 46 Giải nghệ

Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

# Tên Số bàn Trung bình Bàn đầu Bàn cuối CLB hiện tại
1 Lê Công Vinh 51 0.61 20/8/2004 26/11/2016 Giải nghệ
2 Lê Huỳnh Đức 28 0.42 4/1/1995 23/12/2002 Giải nghệ
3 Nguyễn Hồng Sơn 16 0.33 Giải nghệ
4 Nguyễn Văn Quyết 14 0.26 29/6/2011 10/10/2017 Việt Nam Hà Nội
5 Phan Thanh Bình 13 0.42 27/9/2003 10/12/2008 Giải nghệ
6 Nguyễn Trọng Hoàng 12 0.24 31/5/2009 23/11/2016 Việt Nam Sông Lam Nghệ An
7 Nguyễn Minh Phương 12 0.16 15/12/2002 2/12/2010 Giải nghệ
8 Nguyễn Anh Đức 11 0.30 24/6/2007 15/12/2018 Việt Nam Becamex Bình Dương
9 Thạch Bảo Khanh 10 0.45 20/8/2004 6/6/2005 Giải nghệ

Danh sách huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên Thời gian Trận Thắng Hòa Bại
Hàn Quốc Park Hang-seo 11 tháng 10 năm 2017[14]–nay 17 9 5 3
Việt Nam Mai Đức Chung (quyền) 27 tháng 8 năm 2017[15]–10 tháng 10 năm 2017[14] 2 2 0 0
Việt Nam Nguyễn Hữu Thắng Tháng 3, 2016[16]–Tháng 8, 2017 [15] 15 8 5 2
Nhật Bản Miura Toshiya Tháng 5, 2014[17]–Tháng 3, 2016[16] 13 7 3 3
Việt Nam Hoàng Văn Phúc Tháng 1, 2013–Tháng 4, 2014[18] 3 1 0 2
Việt Nam Nguyễn Văn Sỹ (quyền) Tháng 10, 2013–Tháng 11, 2013 4 1 0 3
Việt Nam Phan Thanh Hùng Tháng 8, 2012–Tháng 12, 2012[19] 14 5 5 4
Đức Falko Götz Tháng 6, 2011–Tháng 12, 2011[20] 5 3 0 2
Việt Nam Mai Đức Chung (quyền) 2011[21]
Bồ Đào Nha Henrique Calisto Tháng 6, 2008[22]–Tháng 3, 2011 42 11 11 20
Áo Alfred Riedl 2005–Tháng 10, 2007[23] 23 8 8 7
Việt Nam Trần Văn Khánh (quyền) 2004[24] 1 1 0 0
Brasil Edson Tavares Tháng 2, 2004–Tháng 12, 2004 11 4 1 6
Việt Nam Nguyễn Thành Vinh (quyền) Tháng 1, 2004–Tháng 3, 2004[25] 1 1 0 0
Áo Alfred Riedl Tháng 2, 2003–Tháng 10, 2003 7 3 0 4
Bồ Đào Nha Henrique Calisto Tháng 8, 2002–Tháng 12, 2002 10 5 3 2
Brasil Dido 2001 6 3 1 2
Áo Alfred Riedl Tháng 8, 1998 – 2000 32 16 6 9
Anh Colin Murphy Tháng 10, 1997 6 3 1 2
Việt Nam Lê Đình Chính (quyền) 1997[26] 1 0 0 1
Việt Nam Trần Duy Long 1997[26] 5 0 0 5
Đức Karl-Heinz Weigang 1995–Tháng 6, 1997
Brasil Edson Tavares 1995
Việt Nam Trần Duy Long (quyền) 1994–1994 1 1 0 0
Việt Nam Trần Bình Sự 1993[27] 11 2 0 9
Việt Nam Nguyễn Sỹ Hiển 1991[28] 3 0 1 2
Việt Nam Vũ Văn Tư 1991

Thành tích đối đầu với từng quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cập nhật lần cuối ngày 20 tháng 1 năm 2019.[29]
Đội tuyển St T H B Bt Bb
 Afghanistan 2 0 2 0 1 1
 Albania 1 0 0 1 0 5
 Bahrain 1 1 0 0 5 3
 Bangladesh 2 1 1 0 4 0
 Bosna và Hercegovina 1 0 0 1 0 4
 Campuchia 8 8 0 0 41 5
 Trung Quốc 6 0 0 6 3 20
 Trung Hoa Đài Bắc 4 3 1 0 11 4
 Estonia 1 1 0 0 1 0
 Guam 2 2 0 0 20 0
 Hồng Kông 7 4 1 2 11 8
 Ấn Độ 2 1 0 1 3 4
 Indonesia 24 5 9 10 27 35
 Iran 1 0 0 1 0 2
 Iraq 4 0 1 3 3 7
 Jamaica 1 1 0 0 3 0
 Nhật Bản 4 0 0 4 1 10
 Jordan 3 1 2 0 2 2
 Kazakhstan 1 1 0 0 2 1
 CHDCND Triều Tiên 13 1 5 7 10 25
 Hàn Quốc 6 1 0 5 2 17
 Kuwait 2 1 0 1 2 3
 Lào 11 10 1 0 47 3
 Liban 4 1 2 1 4 4
 Ma Cao 2 2 0 0 13 1
 Malaysia 19 11 3 5 25 19
 Maldives 2 1 0 1 4 3
 Mozambique 1 1 0 0 1 0
 Mông Cổ 2 2 0 0 5 0
 Myanmar 11 7 3 1 34 10
   Nepal 2 2 0 0 7 0
 Oman 2 0 0 2 0 8
 Palestine 1 0 0 1 1 3
 Philippines 12 9 1 2 26 11
 Qatar 6 2 1 3 5 14
 Ả Rập Xê Út 2 0 0 2 0 9
 Singapore 18 7 7 4 19 15
 Sri Lanka 4 1 3 0 7 6
 Syria 3 1 1 1 2 1
 Tajikistan 2 0 0 2 0 8
 Thái Lan 21 2 4 15 17 41
 Turkmenistan 6 1 0 5 4 12
 UAE 5 1 0 4 3 13
 Uzbekistan 2 0 0 2 1 6
 Yemen 1 1 0 0 2 0
 Zimbabwe 1 0 0 1 0 6
Tổng cộng 230 95 48 87 374 333

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ https://www.foxsportsasia.com/football/asian-football/1006301/vietnam-football-2018-review-golden-dragons-aff-cup-champions-afc-u23/
  2. ^ http://www.goal.com/en-au/news/gritty-vietnam-u23-seal-place-2018-afc-u-23-championship/14tt4b4tt0lyk17dteiq1lilqw
  3. ^ Đại nhảy vọt, Việt Nam vào top 100 BXH FIFA
  4. ^ Dương Trung Quốc. “Một Trăm năm bóng đá Việt Nam”. Vietnamnet. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  5. ^ “Quái chiêu Hà Nội: Tòng "cháy" & tuyệt chiêu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
  6. ^ “BĐVN sau đỉnh AFF Cup: Lối mòn hay lộ trình?”. Vietnamnet. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009. 
  7. ^ “Xung quanh sự cố "mất hộ chiếu" của Hồng Sơn: Lời thì thầm của con gấu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  8. ^ https://vnexpress.net/the-thao/hlv-park-hang-seo-goi-8-cau-thu-ha-noi-len-tuyen-viet-nam-3821266.html
  9. ^ Falah Abdullah (30 tháng 11 năm 2012). “Thailand - Vietnam: The Golden Star need to secure a win at all costs” (bằng tiếng Anh). goal.com. Truy cập 7 tháng 9 năm 2015. 
  10. ^ “Honda Vietnam becomes main sponsor for National Team”. VFF. 4 tháng 2 năm 2013. Truy cập 4 tháng 2 năm 2013. 
  11. ^ “Từ tháng 1/2009, ĐTVN sẽ mặc áo đấu Nike”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009. 
  12. ^ “Đội tuyển Việt Nam có trang phục thi đấu mới”. Thanh Niên Online. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2014. 
  13. ^ “Bất ngờ với sự thay đổi số áo cầu thủ tuyển Việt Nam dự Asian Cup 2019”. Lao động. 6 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019. 
  14. ^ a ă “Park Hang-seo ra mắt trên cương vị HLV trưởng tuyển Việt Nam”. https://thethao.vnexpress.net. VNE. Truy cập 11 tháng 10 năm 2017. 
  15. ^ a ă “HLV Mai Đức Chung dẫn dắt tuyển Việt Nam”. VNE. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2017. 
  16. ^ a ă “HLV Hữu Thắng: “Mourinho cũng bị sa thải, huống hồ tôi””. Báo Tuổi trẻ. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016. 
  17. ^ Lâm Thỏa. “Ông Toshiya Miura trở thành tân HLV trưởng ĐT Việt Nam”. 
  18. ^ Quỳnh Cao. “HLV Hoàng Văn Phúc chính thức rời ghế thuyền trưởng ĐTVN”. zing.vn. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014. 
  19. ^ [1]
  20. ^ [2]
  21. ^ Tuấn Linh. “HLV Mai Đức Chung tạm ngồi "ghế nóng" ĐTVN”. Vietnamnet. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011. 
  22. ^ Ông Calisto chính thức trở thành HLV trưởng Đội tuyển Việt Nam
  23. ^ HLV trưởng Alfred Riedl chính thức từ chức
  24. ^ “...chỉ định HLV thủ môn Trần Văn Khánh.”. Vnexpress.net. 12 tháng 12 năm 2004. 
  25. ^ “HLV Tavares sẽ dẫn dắt tuyển VN từ trận gặp Lebanon”. Thể thao Tuổi trẻ. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009. 
  26. ^ a ă “Vietnam sacked”. AFP. 31 tháng 10 năm 1997. 
  27. ^ “...bệnh ê kíp.”. Nguyễn Nguyên. 6 tháng 2 năm 1997. 
  28. ^ “Bơi khỏi ao làng”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010. 
  29. ^ “Thành tích đối đấu giữa các đội tuyển trên trang chủ của FIFA”. Truy cập 28 tháng 03 năm 2018. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]