Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đội tuyển bóng đá nam Việt Nam

Huy hiệu

Tên khác Ngôi sao vàng (The Golden Star)
Hiệp hội Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF)
Liên đoàn châu lục Liên đoàn bóng đá châu Á
Liên đoàn khu vực Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á
Huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng
Đội trưởng Lê Công Vinh
Thi đấu nhiều nhất Lê Công Vinh (75)
Ghi bàn nhiều nhất Lê Công Vinh (46)
Sân nhà Sân vận động quốc gia Mỹ Đình
Mã FIFA VIE
Xếp hạng FIFA 141 (9.2016)[1]
Cao nhất 84 (9.1998)
Thấp nhất 172 (12.2006)
Hạng Elo 146 (9.9.2016)
Elo cao nhất 58 (10-2002)
Elo thấp nhất 175 (1-1995)
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
 Philippines 2–2 Việt Nam 
(Manila, Philippines; 26 tháng 11, 1991)
Trận thắng đậm nhất
 Việt Nam 11–0 Guam 
(TP. HCM, Việt Nam; 23 tháng 1, 2000)
Trận thua đậm nhất
 Zimbabwe 6–0 Việt Nam 
(Kuala Lumpur, Malaysia, 26 tháng 2, 1997)
 Oman 6–0 Việt Nam 
(Incheon, Hàn Quốc, 29 tháng 12, 2003)

Giải Thế giới
Số lần tham dự 0 (lần đầu vào năm -)
Kết quả tốt nhất -
Cúp bóng đá châu Á
Số lần tham dự 1 (lần đầu vào năm 2007)
Kết quả tốt nhất 2007, Tứ kết

Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam là đội tuyển cấp quốc gia đại diện cho Việt Nam thi đấu bóng đá quốc tế và do Liên đoàn bóng đá Việt Nam quản lý. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Việt Nam là trận gặp Philippines vào năm 1991. Thành tích lớn nhất của đội cho đến nay là lọt vào tứ kết của Asian Cup 2007 và chức vô địch AFF Cup 2008.

Tính đến nay, đội tuyển Việt Nam chưa lần nào vượt qua vòng loại World Cup. Năm 2007, khi là quốc gia đăng cai, đội tuyển Việt Nam lần đầu tham dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á và đã bất ngờ vào tới vòng tứ kết. Ở giải khu vực Đông Nam Á, đội tuyển giành ngôi vô địch một lần vào năm 2008 khi vượt qua Thái Lan ở trận chung kết. Chiến thắng có phần bất ngờ này của tuyển Việt Nam được trang thông tin điện tử Goal.com xếp vào top 10 sự kiện bóng đá châu Á năm 2008,[2] cũng như được độc giả Vietnamnet bình chọn là một trong 10 sự kiện nổi bật của Việt Nam trong năm.[3]

Vào cuối năm 2011, dù không có thành tích gì đáng kể, đội tuyển Việt Nam bất ngờ tăng 35 bậc, xếp hạng 99 trong Bảng xếp hạng FIFA, trở lại tốp 100 sau 7 năm. Đây lần đầu tiên Việt Nam xếp đầu Đông Nam Á trong bảng xếp hạng này[4].

Trong bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA, Việt Nam có vị trí cao nhất là 84 vào tháng 9 năm 1998 và thấp nhất là 172 vào tháng 12 năm 2006. Hiện nay, đội tuyển đang đứng thứ 138 trên thế giới, xếp thứ 21 ở khu vực châu Á và xếp thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á theo FIFA (tháng 5 năm 2016).

Tại Việt Nam, đội tuyển không có biệt danh cụ thể nào. Tuy vậy, trên các phương tiện truyền thông quốc tế, đội có biệt danh là Ngôi sao vàng (The Golden Star).[5][6][7]

Những năm đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng đá được du nhập vào Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ 19, do những thủy thủ và binh sĩ người châu Âu. Người Việt Nam dần dần cũng học hỏi và đá bóng trong các đội của người Pháp. Ngày 20 tháng 7 năm 1908 thì lần đầu tiên thấy tờ báo Lục tỉnh Tân văn đưa tin trận cầu giữa hai đội bóng thuần cầu thủ người Việt Nam diễn ra (trận đội Phú Mỹ thắng đội Chợ Đũi 2–0). Đến năm 1928, người Việt đã đứng ra thành lập Tổng cục Thể thao An Nam (tại Sài Gòn), cùng trong năm ấy cử một đội bóng đá Việt Nam sang thi đấu ở Tân Gia Ba (Singapore).[8]

Khi Việt Nam chia thành hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòaViệt Nam Cộng hòa, mỗi nước có một đội tuyển quốc gia riêng; Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chuyến thi đấu quốc tế đầu tiên sang Trung Quốc năm 1956[9], dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên kiêm cầu thủ Nguyễn Thông, người được xem là túc cầu tiểu vương. Trong chuyến du đấu đầu tiên này, đội tuyển Việt Nam đã có trận đấu ra mắt với đội tuyển Trung Quốc (thực chất là đội Học viện thể dục thể thao Bắc Kinh) và để thua với tỉ số 3-5. Cầu thủ đầu tiên ghi bàn thắng cho Việt Nam là tiền đạo Phan Văn Đức khi ông sút tung lưới Trung Quốc vào phút thứ 36. Ông Đức còn ghi thêm một bàn nữa trong trận này vào phút thứ 43. Bàn thắng còn lại của Việt Nam do công của Trương Tấn Nghĩa (phút 41). Trong chuyến du đấu này, đội đá theo sơ đồ 3–2–5 (W–M) cổ điển với những gương mặt: thủ môn Bùi Đức (Đức "ba xương"), Nguyễn Văn Nghĩa; các hậu vệ Quắn Đình Te – Bùi Nghẽn – Lưu Đình Tòng; các tiền vệ Nguyễn Huy Luyến – Thưởng; đá tiền đạo gồm Trương Tấn Nghĩa – Bảy – Tuất – Tiền – Ba Len.[10] Đội chủ yếu chơi trong các giải của các nước xã hội chủ nghĩa từ 1956 đến 1966 và tại các giải GANEFO (Indonesia, 1963) và GANEFO châu Á (Campuchia, 1966).

Cùng thời gian, Đội tuyển Việt Nam Cộng hòa là một trong những đội bóng khá của khu vực châu Á, đội đã lọt vào vòng chung kết và giành hạng tư hai giải Cúp bóng đá châu Á đầu tiên (1956, 1960) cũng như hạng tư Á vận hội 1962. Cũng chính đội đã đoạt chiếc huy chương vàng SEA Games bộ môn bóng đá đầu tiên (và tính đến thời điểm này vẫn là chiếc huy chương vàng duy nhất) cho Việt Nam khi đội giành ngôi vô địch vào kỳ đại hội năm 1959. Đội cũng là đại diện đầu tiên của Việt Nam tại một giải đấu cấp thế giới, khi tham gia vòng loại World Cup 1974 và các kỳ Thế vận hội Mùa hè 1964Thế vận hội Mùa hè 1968.

Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong lần tập trung đầu tiên(1956)

Trận cuối cùng của đội Việt Nam Cộng hòa là vào năm 1975. Sau khi đất nước thống nhất, đội tuyển Việt Nam không được triệu tập trong suốt thời gian từ 1975 đến 1991. Mãi đến năm 1991 đội tuyển mới bắt đầu tham gia đấu trường quốc tế. Giải đấu quốc tế đầu tiên mà đội tuyển Việt Nam thống nhất tham gia thi đấu là SEA Games 1991 được tổ chức tại Manila.[11] Trong trận đầu tiên đội gặp đối thủ nước chủ nhà Philippines và đã hòa với tỉ số 2–2.

Tuy nhiên, trong lần tập trung đi dự SEA Games lần đó, tình hình đất nước còn rất khó khăn. Các điều kiện tập trung ở Nhổn rất thiếu thốn[12] nên chỉ sau một tuần tập trung, 11 cầu thủ phía Nam (thành viên các đội Công nhân Quảng Nam-Đà Nẵng, Hải Quan, Cảng Sài Gòn) cùng "đào ngũ".[13] Sau năm 1991, đội tuyển Việt Nam bắt đầu được triệu tập thường xuyên hơn để thi đấu các giải đấu chính thức trong khu vực và một số trận giao hữu không chính thức. Trận giao hữu đầu tiên của đội tuyển Việt Nam là trước câu lạc bộ Adelaide City của Úc tại Hà Nội (thắng 1–0).

Tại các kì SEA Games[sửa | sửa mã nguồn]

SEA Games 16[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao Việt Nam hòa nhập lại với thể thao khu vực năm 1989 tại SEA Games 15 tổ chức tại Malaysia. Tuy nhiên, tại SEA Games này, bóng đá không được đoàn Việt Nam đưa vào danh sách tham dự. Đội dự tuyển bóng đá Việt Nam thống nhất lần đầu tiên được triệu tập để tham dự SEA Games 16 (1991). Đội do ông Vũ Văn Tư (huấn luyện viên đội Quảng Nam - Đà Nẵng) và ông Nguyễn Kim Hằng (huấn luyện viên đội Hải Quan) dẫn dắt. Tuy nhiên, trong khi đội tuyển tập trung tại Nhổn (Hà Nội), 11/14 cầu thủ thuộc các đội Cảng Sài Gòn, Đà Nẵng và Hải Quan đã tự động "đào ngũ" khỏi đội tuyển vì điều kiện sinh hoạt, luyện tập thiếu thốn và phải chịu án kỉ luật sau đó. Trong số các cầu thủ đào ngũ, có Phan Thanh Hùng, Lê Văn Sinh, Trần Minh Toàn, Trương Văn Lợi, Bùi Thông Tuân, Phan Công Thìn (Đà Nẵng), Đặng Trần Chỉnh (Cảng Sài Gòn), Trương Văn Dưỡng (Hải quan) v.v... Trong số các cầu thủ miền Nam, chỉ còn Hà Vương Ngầu Nại, Nguyễn Hồng PhẩmLưu Tấn Liêm ở lại. huấn luyện viên Vũ Văn Tư buộc phải từ nhiệm sau 7 ngày dẫn dắt đội[14].

Để lấp chỗ trống, những người có trách nhiệm trong Liên đoàn đã phải huy động thêm một số cầu thủ Thể Công cùng huấn luyện viên của họ là ông Nguyễn Sĩ Hiển lên làm nhiệm vụ. Ngoài ra, hai cầu thủ khác của Cảng Sài Gòn là Lư Đình TuấnĐỗ Văn Minh cũng được gọi bổ sung. Tại SEA Games năm đó, Việt Nam chỉ giành được một điểm sau trận hòa 2–2 với chủ nhà Philippines và để thua Indonesia 0–1, Malaysia 1–2. Ba bàn thắng của Việt Nam đều do công của tiền đạo Nguyễn Văn Dũng (Công nghiệp Hà Nam Ninh). Trận hòa với Philippines là trận đấu quốc tế chính thức đầu tiên của đội tuyển Việt Nam thống nhất.

SEA Games 17[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi dự vòng loại World Cup 1994 với duy nhất một trận thắng trước Indonesia bằng bàn thắng của Hà Vương Ngầu Nại (Cảng Sài Gòn), Đội tuyển Việt Nam giữ gần như nguyên bộ khung đội hình để đá SEA Games 17 tại Singapore dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Trần Bình Sự. Tiền đạo Nguyễn Văn Tám của Tiền Giang được gọi bổ sung trong khi Võ Hoàng Bửu bị chấn thương phải chia tay đội. Ngoài một số cầu thủ đang ở độ chín của phong độ như Nguyễn Mạnh Cường (Câu lạc bộ Quân đội), Hà Vương Ngầu Nại, Lư Đình Tuấn (Cảng Sài Gòn), đội tuyển Việt Nam còn trình làng một số cầu thủ trẻ đầy triển vọng như Nguyễn Hồng Sơn (Câu lạc bộ Quân đội), Lê Huỳnh Đức (CA Thành phố Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, đội tuyển chỉ giành được duy nhất một chiến thắng trước Philippines với tỉ số 1–0 bằng bàn thắng của Nguyễn Văn Long (CLB Quân đội) ghi ở phút thứ 66. Đây cũng là bàn thắng duy nhất mà đội ghi được tại SEA Games này vì trong hai trận còn lại, Việt Nam đều thúc thủ mà không ghi được bàn thắng nào (thua Indonesia 0–1 ở trận đầu ra quân sau khi Chu Văn Mùi bị dính thẻ đỏ và Singapore 0–2). Đội Việt Nam phải dừng bước ngay từ vòng bảng.

SEA Games 18[sửa | sửa mã nguồn]

Sau hai kỳ SEA Games hội nhập lại mà không đạt được thành tích nào, Liên đoàn bóng đá Việt Nam có một quyết định cách mạng khi bắt đầu thuê huấn luyện viên ngoại. Người đầu tiên giúp đội là huấn luyện viên Karl Heinz Weigang, đây là một người quen của bóng đá Việt Nam khi ông chính là huấn luyện viên của đội tuyển Việt Nam Cộng hòa dẫn dắt đội lập kỳ tích giành Cúp Merdeka năm 1966.[15] Ông chấp nhận đến Việt Nam làm việc 5 tháng không lương. Sau 7 tuần dẫn dắt đội, ông trở về Đức, trong khoảng thời gian này, nhờ nhà tài trợ mới của bóng đá Việt Nam là Strata, Liên đoàn bóng đá Việt Nam đã thuê ông Edson Tavares.[15]

Huấn luyện viên người Brasil ngay lập tức đem lại thành công ngoài mong đợi cho bóng đá Việt Nam qua các trận đấu tại Cúp Độc Lập 1995. Tại giải này, Việt Nam tham dự hai đội tuyển và cả hai đều thi đấu thành công, đều vào bán kết giải này. Đặc biệt, đội tuyển Việt Nam giành một thắng lợi "lịch sử" trước đội tuyển Estonia tại vòng bảng bằng bàn thắng của tiền đạo Lê Huỳnh Đức (CATPHCM). Điều làm ngạc nhiên nhất là thể lực của các cầu thủ Việt Nam tăng lên đáng kể và do đó nhiều người nghi ngờ ông Tavares cho các cầu thủ sử dụng các "viên kẹo bí ẩn" [16]. Ngay sau khi đội Việt Nam 1 thua câu lạc bộ Housing Bank ở trận bán kết ngày 12 tháng 1 năm 1995, Tavares tuyên bố từ chức với lý do không nhận được sự hợp tác của Liên đoàn bóng đá Việt Nam.[17] Ông Weigang lại được mời về dẫn dắt đội.[15]

Ông Weigang quyết định cho đội đi tập huấn tại châu Âu. Trong năm 1995, đội thi đấu tổng cộng 34 trận và có rất nhiều tiến bộ.[15] Lứa cầu thủ đó sau này được coi như thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam:[18] gồm thủ môn Nguyễn Văn Cường; trung vệ đội trưởng Nguyễn Mạnh Cường; hậu vệ Trần Công Minh, Lê Đức Anh Tuấn, Nguyễn Chí Bảo, Đỗ Khải, Nguyễn Hữu Thắng; tiền vệ Võ Hoàng Bửu, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Hữu Đang; các tiền đạo Trần Minh Chiến, Lê Huỳnh Đức, Huỳnh Quốc Cường.[18]. Ngoài ra, trong đội hình tham dự SEA Games 18, còn có một số các tên tuổi khác như: Trịnh Tấn Thành (Đồng Tháp), Lư Đình Tuấn (Cảng Sài Gòn), Trần Thanh Nhạc (Đồng Tháp), Nguyễn Liêm Thanh (Công An TPHCM) và Nguyễn Hoàng Anh Dũng (Bình Định). Ngoài ra, tiền vệ Trần Quan Huy (Cảng Sài Gòn) là cầu thủ được đăng kí trong danh sách dự phòng.

Tại SEA Games 18, Việt Nam đã gây sốc trong trận ra quân tại vòng bảng bằng thắng lợi trước Malaysia với tỉ số 2–0 bằng các pha lập công của Huỳnh Quốc CườngVõ Hoàng Bửu (phạt đền). Sau chiến thắng 4–0 trước đội bóng yếu nhất bảng Campuchia, đội Việt Nam đã để thúc thủ trước Thái Lan với tỉ số 1–3, với bàn gỡ do công của Nguyễn Hữu Đang. Trong trận đấu cuối cùng ở vòng bảng, do Indonesia hơn Việt Nam hiệu số bàn thắng nên Việt Nam cần phải thắng được Indonesia để lọt vào bán kết. Đội tuyển Việt Nam cuối cùng đã giành thắng lợi 1–0 bằng bàn thắng của Nguyễn Hữu Đang, sau pha kiến tạo đầy nỗ lực của Trần Công Minh.

Tại vòng bán kết, Việt Nam gặp Myanmar, lúc đó là một trong những đội bóng xuất sắc nhất tại khu vực. Đội tuyển Việt Nam đã để Myanmar dẫn trước 0–1 trước khi Lê Huỳnh Đức san hòa tỉ số sau một lỗi để mất bóng của hậu vệ đội bạn. Sau đó, Myanmar đã phải nhận 2 thẻ đỏ. Trận đấu kết thúc ở hiệp phụ sau khi Trần Minh Chiến ghi bàn thắng vàng cho đội tuyển Việt Nam. Tuy nhiên, trận thắng này cũng gây ra nhiều tổn thất cho đội tuyển Việt Nam: vì nhiều lí do khác nhau như thẻ phạt, chấn thương, nên một số trụ cột của đội đã không thể góp mặt trong trận chung kết gặp lại Thái Lan, trong đó có thể kể đến Lê Huỳnh Đức và Trần Minh Chiến. Đội tuyển Việt Nam nhanh chóng nhận thất bại 0–4 trong trận chung kết.

Tuy nhiên, một thế hệ thành công của bóng đá Việt Nam được hình thành và giúp đội tuyển có được nhiều thành tích trong các giải đấu khu vực sau đó. Mặc dù không hề giành được một chức vô địch nào nhưng nhiều người hâm mộ vẫn gọi đội tuyển Việt Nam giai đoạn 1995 – 1999 là "thế hệ vàng" - thế hệ đã đưa bóng đá Việt Nam trở lại thành một thế lực của khu vực Đông Nam Á. Thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam khởi nguồn từ SEA Games 18 sau này còn có thêm các gương mặt: thủ môn Nguyễn Văn Phụng, Trần Minh Quang; các hậu vệ Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Thiện Quang, Đỗ Mạnh Dũng; các tiền vệ Triệu Quang Hà, Trương Việt Hoàng, Nguyễn Văn Sỹ, Vũ Minh Hiếu; hay tiền đạo Đặng Phương Nam, Văn Sĩ Hùng.[19] Đội tuyển dưới thời ông Weigang đã đem lại hai tấm huy chương đầu tiên cho bóng đá Việt Nam thời tái hội nhập là tấm huy chương bạc SEA Games 1995 và tấm huy chương đồng Tiger Cup 1996.

SEA Games 19[sửa | sửa mã nguồn]

SEA Games 19 được khởi đầu bằng thất bại 0–1 của Đội tuyển Việt Nam trước Malaysia. Tại trận đấu này, hậu vệ phải Trần Công Minh bị dính chấn thương nên không thể tham dự, thay cho anh là Nguyễn Phúc Nguyên Chương. Thử thách tiếp theo là trận đấu gặp đội tuyển chủ nhà Indonesia trên sân vận động Senayan với gần 10 vạn khán giả. Đội tuyển Việt Nam bị dẫn trước sau bàn thắng của Bima Sakti vào phút 18. Tình thế càng khó khăn hơn của Việt Nam khi ngay đầu hiệp 2, đội tuyển Việt Nam phải nhận tổn thất lớn do trung vệ Đỗ Văn Khải bị phạt thẻ đỏ trực tiếp. Tuy nhiên, ngay sau chiếc thẻ đỏ này, đội tuyển Việt Nam bất ngờ gỡ hòa. Văn Sỹ Hùng tung của ngả bàn đèn đẹp mắt từ đường phạt góc của Triệu Quang Hà ở phút 58 đưa hai đội về vạch xuất phát. Tuy nhiên, đội tuyển Indonesia nhanh chóng tận dụng lợi thế hơn người để nâng cách biệt thành 2–1 với bàn thắng của Kurniawan Dwi Yulianto vào phút 65. Một lần nữa, tinh thần thi đấu hết mình của Việt Nam lại được đền đáp. Vào phút 89, Lê Huỳnh Đức cướp bóng của một hậu vệ Indonesia trước khi chọc khe cho Văn Sỹ Hùng hoàn tất cú đúp, gỡ hòa 2–2 cho Việt Nam.

Sau hai trận đầu, đội tuyển Việt Nam chỉ có được một điểm duy nhất và họ phải thắng 2 trận cuối cùng, đồng thời chờ đợi các đối thủ sẩy chân để lọt vào bán kết. Hai điều kiện này đều xảy ra. Đội tuyển Việt Nam vượt qua Lào với tỉ số 2–1 bằng cú đúp của Vũ Minh Hiếu, và Philippines 3–0 nhờ các bàn thắng của Triệu Quang Hà, Lê Huỳnh Đức và tiền đạo Nguyễn Công Vinh. Đồng thời, ở trận đấu cuối cùng, đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam là Malaysia bất ngờ thúc thủ 0–1 trước đội tuyển Lào nhờ bàn thắng của tiền đạo Keolakhone.

Tại vòng bán kết, Việt Nam gặp lại Thái Lan và một lần nữa thúc thủ với tỉ số 1–2. Kiatisuk ghi bàn mở tỉ số. Bàn gỡ hòa 1–1 của Việt Nam do công của Lê Huỳnh Đức sau một lỗi lầm sơ đẳng của hàng phòng ngự đối phương. Tuy nhiên, chỉ ngay sau đó ít phút, đến lượt thủ môn Trần Minh Quang của Việt Nam phạm sai sót khi phát bóng trúng chân của Kiatisuk giúp tiền đạo này hoàn tất cú đúp khiến Việt Nam nhận thất bại.

Đội tuyển Việt Nam nhận được huy chương đồng tại SEA Games này sau chiến thắng muộn màng 1–0 trước Singapore tại trận tranh giải ba. Nguyễn Phúc Nguyên Chương là người đã ghi bàn thắng đẹp mắt từ một cú volley ngoài vòng cấm địa vào phút 90 đem về tấm huy chương thứ hai cho Việt Nam tại đấu trường SEA Games từ thời kì tái hội nhập.

SEA Games 20[sửa | sửa mã nguồn]

SEA Games 20 là kỳ Đại hội Thể thao Đông Nam Á cuối cùng các đội tuyển quốc gia tham dự. Kể từ giải lần sau đại diện cho các quốc gia ở môn bóng đá nam sẽ là các đội tuyển U23. Lần tham dự này, các cầu thủ trẻ nhất đội tuyển Việt Nam là Nguyễn Đức Thắng và Đặng Phương Nam đều sinh năm 1976 (23 tuổi). Do Brunei rút lui nên chỉ còn lại 9 đội tuyển chia làm 2 bảng. Đội tuyển Việt Nam rơi vào bảng 5 đội, cùng bảng với 2 đối thủ chính là Thái Lan và Myanmar. Trận khai mạc của bảng, Việt Nam giành chiến thắng đậm đà 9-0 trước Lào. Trung phong Lê Huỳnh Đức ghi bàn rất sớm và anh hoàn thành cú poker (4 bàn) ngay trong hiệp 1. Văn Sỹ Hùng cũng lập hattrick trong trận này. Khi gặp Myanmar, bàn thắng của Trương Việt Hoàng từ chấm penalty và bàn thắng của tiền đạo Đặng Phương Nam giúp Việt Nam chiến thắng 2-0. Bước vào trận tranh ngôi đầu với Thái Lan, Việt Nam nhập cuộc tự tin và Phương Nam có một pha bay người đánh đầu tung lưới Thái Lan. Tuy nhiên bàn thắng không được công nhận do anh rơi vào tư thế việt vị. Kết thúc trận đấu Việt Nam được 1 điểm với trận hòa 0 bàn thắng. Trận thủ tục cuối cùng vòng bảng gặp Phillipines, Việt Nam đã giành thắng lợi nhờ cú đúp của Đặng Phương Nam.

Tại bán kết, Việt Nam gặp Indonesia, trận đấu kịch tính trải qua hơn 80 phút. Khi hầu như tất cả mọi người đều chuẩn bị tâm lý cho hiệp phụ thì bất ngờ hậu vệ trái Đức Thắng có đường chuyền dài cho Nguyễn Hồng Sơn, sau một nhịp tiếp bóng bằng ngực anh tung chân đá volley vào góc xa, ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu. Tại giải lần này, Hồng Sơn chỉ ghi được 1 bàn thắng, nhưng đó là bàn thắng đưa Việt Nam vào trận chung kết.

Việt Nam tái ngộ đối thủ đầy duyên nợ - Thái Lan. Trước trận đấu này thủ môn Trần Minh Quang đang giữ kỷ lục giữ sạch lưới lâu nhất với 450 phút. Tuy nhiên, một lần nữa huấn luyện viên Alfred Riedl cùng Việt Nam ngậm ngùi nhìn người Thái đoạt bộ huy chương vàng với thắng lợi 2-0.

Cũng tại kỳ đại hội này, nhạc sĩ Trần Tiến đã sáng tác ca khúc "Tôi yêu bóng đá" dành tặng cho Việt Nam.

Tại các giải vô địch Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Tiger Cup 1996[sửa | sửa mã nguồn]

Giải bóng đá vô địch Đông Nam Á lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1996 với tên gọi Tiger Cup. Đội dự tuyển Việt Nam với bộ khung gồm các cầu thủ từng tham gia SEA Games 18 đã đi tập huấn dài ngày ở Đức và có một số trận giao hữu không chính thức với một số CLB như Juventus (Italia), Middlesex Wanderers (Đội bóng nghiệp dư của Anh). Một số gương mặt mới được tăng cường như Nguyễn Hồng Hải (Lâm Đồng), Nguyễn Thiện Quang (CATPHCM), Nhan Thiện Nhân (An Giang), Ngô Quang Trường (SLNA), Nguyễn Văn Phụng (Cảng Sài Gòn), Đặng Phương Nam (CLBQĐ), Nguyễn Phan Hoài Linh (CATPHCM), Bùi Hữu Lợi (CAHN), Ngô Việt Trung (Lâm Đồng), Nguyễn Phúc Nguyên Chương (Cảng Sài Gòn), Trần Tấn Lợi (An Giang), Nguyễn Văn Hùng (Đồng Tháp), v.v... Một số cựu binh cũng được gọi lại như Chu Văn Mùi (CATPHCM). Tuy nhiên sau khi danh sách dự Tiger Cup được gút lại, chỉ còn Nguyễn Hồng Hải, Nguyễn Thiện Quang, Ngô Quang Trường, Đặng Phương Nam, Nguyễn Phan Hoài Linh, Nguyễn Văn Phụng được giữ lại. Các cầu thủ từng dự SEA Games 18 là Nguyễn Liêm Thanh, Trần Thanh Nhạc, Trịnh Tấn Thành, Lư Đình Tuấn, Nguyễn Hoàng Anh Dũng không còn có tên trong danh sách đội tuyển.

Trong một buổi tập của đội trên sân Thống Nhất, tiền đạo Trần Minh Chiến tái phát chấn thương và cũng phải chia tay với đội và chia tay luôn với bóng đá đỉnh cao.

Đội tuyển Việt Nam bước vào chiến dịch Tiger Cup 1996 bằng trận thắng 3–1 trước đối thủ yếu Campuchia vào ngày quốc khánh 2/9 bằng ba bàn thắng của Trần Công Minh, Lê Huỳnh Đức và một quả phạt đền của Võ Hoàng Bửu. Campuchia cũng gỡ được một bàn do công của Sony.

Tại trận đấu thứ 2, Việt Nam có một trận hòa vất vả trước Lào với tỉ số 1–1. Đây là một trận đấu bị tình nghi "làm độ" khi trung vệ Nguyễn Hữu Thắng đã có một pha vào bóng thô bạo không cần thiết với cầu thủ đội Lào để phải nhận một thẻ đỏ trực tiếp. Đội bạn tận dụng ưu thế hơn người để ghi bàn trước ở phút thứ 72 do công của Chalana Luang-Amath trước khi Lê Huỳnh Đức sút phạt san hòa tỉ số ở phút 85. Sau trận đấu, ông Weigang đã đòi đuổi trung vệ Nguyễn Hữu Thắng khỏi đội tuyển do nghi ngờ bán độ. 4 cầu thủ họ Nguyễn khác trong đội tuyển cũng bị dính vào nghi án này.

Ở trận đấu phải thắng trước Myanmar trong lượt trận thứ 3, các cầu thủ Việt Nam đã hoàn thành được nhiệm vụ này. Do hai đội đều chuẩn bị trang phục trắng cho trận đấu nên rốt cuộc, Myanmar phải "mượn" một bộ quần áo xanh lam nhạt lạ lẫm trước khi trở lại với trang phục đỏ trong hiệp 2. Việt Nam vươn lên dẫn trước ở phút thứ 6 sau pha sút cận thành của Hữu Đang. Tuy nhiên, đến phút 24, Maung Maung Htay đã sút xa gỡ hòa cho Myanmar. Thế dẫn trước của Việt Nam được xác lập ngay trong hiệp 1 với pha đánh đầu thành bàn của Lê Huỳnh Đức. Sang hiệp hai, Việt Nam ghi liên tiếp hai bàn nữa do công của Trần Công MinhNguyễn Hồng Sơn. Trong đó, bàn thắng của Trần Công Minh ở phút 48 là một trong những bàn thắng đẹp nhất giải. Việt Nam kết thúc trận đấu với chiến thắng 4–1.

Tại trận cuối cùng của vòng bảng, Việt Nam cầm hòa Indonesia 1–1. Bàn thắng của Việt Nam do công của Võ Hoàng Bửu từ một cú phạt đền ở phút 77 sau khi Kurniawan giúp Indonesia dẫn trước ở phút 43.

Việt Nam tái ngộ Thái Lan ở trận bán kết. Cũng như trận chung kết SEA Games một năm trước, Thái Lan nhanh chóng chiếm lĩnh thế trận vào ghi liên tiếp 4 bàn thắng, trong đó có một cú đúp của tiền đạo Natipong và một bàn của Kiatisuk. Tuy nhiên, Việt Nam cũng gỡ được 2 bàn do công của Võ Hoàng Bửu (Phạt đền) và Nguyễn Hồng Sơn sau một pha chọc khe của Lê Huỳnh Đức.

Việt Nam gặp lại Indonesia trong trận tranh hạng 3. Ngay ở phút thứ 8, Nguyễn Hồng Sơn đi bóng lắt léo bên biên trái, trước khi chuyền sệt vào để Huỳnh Quốc Cường tung cú đánh gót mở tỉ số. Trong một nỗ lực khác của Nguyễn Hồng Sơn, hậu vệ Yeyen đã tự đưa bóng về lưới nhà ở phút 27. Tuy nhiên, Indonesia gỡ được một bàn do công của Kurniawan ở phút 66. Tỉ số được nâng lên 3–1 cho Việt Nam với bàn thắng của từ chấm phạt 11 mét của Võ Hoàng Bửu trước khi trung vệ Tecuari gỡ một bàn nữa cho Indonesia ở phút 85. Kết quả cuối cùng, Việt Nam thắng Indonesia 3–2 và giành huy chương đồng. Thủ môn Nguyễn Văn Phụng được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.

Tiger Cup 1996 là giải đấu khẳng định một lần nữa sự trở lại của đội tuyển Việt Nam với tư cách là một đội bóng mạnh trong khu vực. Tuy nhiên, giải đấu này cũng để lại nhiều khuất tất sau nghi án trong trận đấu với Lào. Với 4 bàn thắng đều từ chấm phạt đền, Võ Hoàng Bửu là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất của Việt Nam. 3 trong số 4 quả phạt đền đó được tạo ra sau các pha đi bóng của tiền đạo mới 20 tuổi Đặng Phương Nam.

Tiger Cup 1998[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên Việt Nam được đăng cai một giải bóng đá tầm cỡ quốc tế, độ nóng của giải đấu không chỉ tồn tại ở Hà Nội hay TPHCM mà còn lan tỏa đến tất cả các địa phương nhỏ trên toàn quốc. 8 đội tuyển vượt qua vòng loại chia thành 2 bảng. Việt Nam nằm ở bảng B với Singapore, Malaysia, Lào thi đấu tại sân vận động Hàng Đẫy, Hà Nội.

Trận ra quân bảng B, đội tuyển Việt Nam dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên mới Alfred Riedl gặp Lào và có chiến thắng 4–1, Nguyễn Hồng Sơn là cầu thủ mở tỉ số sau tình huống xoay người và khứa bóng vào góc xa điệu nghệ, 3 bàn thắng còn lại được ghi do công của Nguyễn Văn SỹLê Huỳnh Đức (2 bàn). Sau trận hoà 0-0 với Singapore trong cơn mưa nặng hạt, Việt Nam dẫn đầu bảng B, hơn Singapore về hiệu số bàn thắng. Các quan chức của LĐBĐ Việt Nam trù tính rằng Việt Nam sẽ đứng nhất bảng A. Do muốn đội tuyển Việt Nam được đá trên sân Thống Nhất một trận để phục vụ người dân miền Nam nên Ban tổ chức Tiger Cup Việt Nam đã thay đổi luật một cách vô lí ngay sau lượt trận thứ 2. Thay vì giữ thông lệ đội nhất bảng không phải di chuyển, họ đã yêu cầu đội nhất mỗi bảng đấu phải bay ra Hà Nội và TPHCM để thi đấu bán kết, còn đội nhì bảng được ở lại sân mà họ đã thi đấu vòng bảng. Tuy nhiên, ở trận đấu cuối cùng gặp Malaysia tại bảng B, Việt Nam mặc dù rất nỗ lực, cũng chỉ thắng 1-0, chứ không phải hai bàn cách biệt để có thể dẫn đầu bảng trong khi Singapore thắng Malaysia 4–1 và dẫn đầu bảng. Các trù tính của Ban Tổ chức đã không theo kế hoạch.

Trận bán kết, Việt Nam của huấn luyện viên Riedl đã chơi một trận cầu thăng hoa vượt sức tưởng tượng. Tiền vệ Trương Việt Hoàng ghi bàn thắng để đời với một cú volley ngoài vòng cấm địa, mở tỷ số cho Việt Nam. Sang hiệp 2, Hồng Sơn và Văn Sỹ Hùng ghi liên tiếp 2 bàn nữa để nhận chìm đương kim vô địch Thái Lan với tỷ số 3–0. Tuy nhiên, ở cuối trận, Văn Sỹ Hùng nhận thẻ đỏ và không được tham dự trận chung kết.

Nhưng khi giấc mơ đến thật gần, đội tuyển Việt Nam đã chơi trận chung kết dưới sức khi gặp lại Singapore. Thiếu vắng Văn Sỹ Hùng, thay vì tiền đạo trẻ Nguyễn Tuấn Thành, lão tướng 35 tuổi Nguyễn Văn Dũng (khi đó là vua phá lưới giải vô địch quốc gia) được tin cậy xung trận cùng Lê Huỳnh Đức trên hàng công nhưng không để lại ấn tượng gì. Bàn thắng được ghi do lưng của hậu vệ Sasi Kumar đã đánh bại thủ thành Trần Tiến Anh, qua đó đem chiếc Cup vàng rời khỏi Việt Nam trong sự chết lặng của các cổ động viên trên sân Hàng Đẫy.

Tiger Cup 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Giải bóng đá của thiên niên kỷ mới lần này được tổ chức trên đất Thái Lan. Việt Nam nằm cùng bảng với 2 đối thủ chính: Singapore và Malaysia. Sau trận đầu hòa không bàn thắng trước Malaysia, Việt Nam đã "đòi được món nợ" trước Singapore với chiến thắng 1–0 do pha đánh đầu cận thành của Lê Huỳnh Đức. Đương kim vô địch Singapore chính thức bị loại sau trận hòa 1–1 với Malaysia.

Tại bán kết, Việt Nam gặp Indonesia, Nguyễn Hồng Sơn gỡ hòa 1–1 cho Việt Nam ở cuối hiệp 1. Khi trận đấu gần kết thúc, Indonesia vượt lên dẫn trước 2–1, lúc này hầu như toàn bộ đội hình Việt Nam đều dâng sang phần sân đối phương nhằm tìm cơ hội trong những phút ít ỏi còn lại, và tiền đạo Vũ Công Tuyền đã làm tất cả vỡ òa với tình huống gỡ hòa của mình, 2 đội bước vào hiệp phụ. Thời điểm đó, do luật Bàn Thắng Vàng còn tồn tại nên khi bị thủng lưới, Việt Nam không còn cơ hội gỡ hòa và đành chấp nhận thất bại cay đắng, 3–2 nghiêng về Indonesia là kết quả cuối cùng.

Trận tranh hạng 3 với Indonesia, Việt Nam đã không còn tinh thần thi đấu nên dễ dàng để thua Malaysia 0–3. Trong khi đó, Thái Lan một lần nữa thể hiện sức mạnh vượt trội của đội tuyển mạnh nhất Đông Nam Á khi đè bẹp Indonesia 4–1 và đăng quang ngay trên sân nhà. Các cầu thủ thuộc thế hệ vàng Việt Nam sau giải đấu này đã chia tay khá nhiều.

Tiger Cup 2002[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên giải được tổ chức ở trên 2 quốc gia, đó là Indonesia đăng cai bảng A và Singapore bảng B. Việt Nam không được đánh giá cao do đội hình chắp vá, gồm nhiều cầu thủ mới được tham dự lần đầu, và thời gian để huấn luyện viên Calisto nắm quyền là rất ngắn. Tuy nhiên, các cầu thủ đã thi đấu rất tốt và đạt được thành tích ngoài mong đợi. Đây là thời kỳ chuyển giao thế hệ, những tên tuổi mới được phát hiện và đa số sau đó đều trở thành trụ cột của đội tuyển quốc gia: Nguyễn Minh Phương, Phan Văn Tài Em, Trần Trường Giang, Trịnh Xuân Thành, lão tướng Huỳnh Hồng Sơn, Phạm Văn Quyến...

Sau trận mở màn giành chiến thắng tương đối dễ trước Campuchia (9–2), Việt Nam gặp chủ nhà Indonesia và bị dẫn trước 1–0. Trong vòng vài phút, Việt Nam đã lội ngược dòng nhờ 2 tình huống tỏa sáng cá nhân: Tài Em có cú sút ngoài vòng cấm địa bằng chân trái gỡ hòa 1–1, Lê Huỳnh Đức sút nối rất đẹp sau pha dứt điểm của Minh Phương nâng tỷ số lên 2–1, tuy nhiên 2–2 mới là kết quả cuối cùng của trận đấu này do pha bóng mất tập trung của hàng hậu vệ Việt Nam lúc sắp hết giờ. Việt Nam tiếp tục chiến thắng Philippines 4–1 (khi đó có tiền đạo Gonzales đang chơi bóng ở châu Âu). Trận đấu gặp Myanmar mới là trận chung kết sớm thực sự, bởi nếu thua, Việt Nam sẽ xách vali về nước sớm và thực lực đội tuyển Myanmar vẫn còn khá bí ẩn. Myanmar có pha mở tỉ số từ sớm, sau đó Xuân Thành có tình huống sút xa gỡ hòa 1–1 cho Việt Nam trước khi hiệp 1 khép lại. Đặng Phương Nam được tung vào sân và trong thời gian ngắn ngủi trên sân, anh ghi 2 bàn thắng và mang về 1 quả penalty - pha phạm lỗi của cầu thủ đội bạn khiến anh rời sân vì bị chấn thương. Chiến thắng 4–2 giúp Việt Nam đứng đầu bảng và sẽ đối đầu đương kim vô địch Thái Lan tại bán kết.

Thái Lan do thua Malaysia 1–3 nên xếp nhì bảng, phải đối đầu một Việt Nam đang thăng hoa, nhưng cuối cùng Thái Lan đã trả "món nợ" cách đây 4 năm khi ghi 4 bàn không gỡ vào lưới thủ môn Trần Minh Quang.

Hai bàn thắng của Trường Giang và Minh Phương giúp Việt Nam đánh bại Malaysia 2–1 và đoạt huy chương đồng, đánh dấu một giải đấu thành công vượt hơn mong đợi của Việt Nam, hơn nữa một thế hệ mới đã xuất hiện và người hâm mộ kỳ vọng rất nhiều vào những chàng trai này trong tương lai.

Tiger Cup 2004[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu hàng đầu khu vực đã trở lại Việt Nam, nhưng lần này tại vòng bán kết và chung kết sẽ diễn ra theo thể thức lượt đi - lượt về trên sân của 2 đội đó. Việt Nam dưới thời huấn luyện viên Edson Tavarez đang chơi 1 lối chơi rất khác so với những năm trước, đội hình 3 tiền đạo gồm: Lê Huỳnh Đức chơi lùi, Lê Công Vinh bên cánh trái, Thạch Bảo Khanh cánh phải đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các đối thủ mạnh tại vòng loại World Cup 2006 như Hàn Quốc, Liban... Được giới chuyên môn đánh giá rất cao, Việt Nam hy vọng sẽ "lật đổ" được Thái Lan.

Nhưng đây là giải đấu tồi tệ nhất của cả Việt Nam và Thái Lan trong sân chơi khu vực. Lần đầu tiên cả 2 bị loại ngay từ vòng bảng. Việt Nam hòa Singapore 1–1 trong ngày khai mạc, sau đó thắng Campuchia 9–2, thua Indonesia 0–3 tại SVĐ Mỹ Đình, thắng Lào 3–0.

AFF Cup 2007[sửa | sửa mã nguồn]

Do Đại hội Thể thao châu Á tổ chức ở Qatar diễn ra vào tháng 12 nên Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF) quyết định hoãn giải đấu lại một tháng (khởi tranh vào tháng 1, 2007 thay vì lịch cũ là tháng 12, 2006 theo đúng quy trình 2 năm 1 lần) để tạo điều kiện cho các đội tuyển Olympic thuộc khu vực tham gia sân chơi châu Á. Hãng bia Tiger cũng ngừng tài trợ nên giải được đổi tên theo tên của liên đoàn: AFF Cup. Kể từ lần này, AFF Cup sẽ có vòng loại, chọn ra 8 đội mạnh nhất chia làm 2 bảng (các đội tuyển yếu của khu vực là Lào, Phillipines, CampuchiaBrunei thi đấu với nhau, chọn 2 đội cùng với 6 đội tuyển mạnh miễn vòng loại là: Thái Lan, Việt Nam, Singapore, Indonesia, Malaysia, Myanmar tham dự giải). Có 2 quốc gia được đăng cai làm chủ nhà vòng bảng, sau đó vòng bán kết và chung kết sẽ diễn ra với thể thức lượt đi - lượt về, 2 đội thua bán đồng hạng 3. Cách thức tổ chức như vậy kể từ giải này sẽ trở thành truyền thống và thông lệ cho các giải lần sau.

Việt Nam hòa 1–1 với Indonesia ở trận khai mạc, hòa 0–0 sau đó với chủ nhà Singapore. Do đó, muốn chắc suất lọt vào bán kết, Việt Nam cần thắng đậm Lào, đề phòng trường hợp Singapore hòa Indonesia, khi đó cả 3 đội đều có 5 điểm và hiệu số bàn thắng bại là yếu tố quyết định 2 cái tên đi tiếp. Thực tế diễn ra với đúng với kịch bản dự đoán, 3 đội bằng điểm nhau và Singapore nhất bảng, Việt Nam xếp thứ nhì nhờ trận thắng Lào 9–0.

Tại bán kết, Việt Nam gặp đội nhất bảng kia là Thái Lan, lượt đi diễn ra trên sân Thái Lan và họ giành chiến thắng 2–0 nhờ màn tỏa sáng của Datsakorn Thonglao. Lượt về trên sân Mỹ Đình, 2 đội hòa nhau mà không có bàn thắng nào được ghi. Việt Nam đồng hạng 3 cùng Malaysia.

AFF Cup 2008[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Lan đăng cai bảng A Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008 với sự góp mặt của Việt Nam, Malaysia, Lào; Indonesia làm chủ nhà bảng B đối đầu ĐKVĐ Singapore, Myanmar và Phillipines. Việt Nam ở giải lần này không được đánh giá cao, từ khi huấn luyện viên Henrique Calisto nắm đội, đội tuyển toàn hòa và thua trong các trận giao hữu trước đó. Nghi ngờ càng tăng sau trận khai mạc khi Việt Nam thua 0–2 trước Thái Lan tại Phuket, khiến họ buộc phải thắng đối thủ trực tiếp là Malaysia mới có cơ hội đi tiếp. Tài năng trẻ Phạm Thành Lương là người mở tỉ số cho Việt Nam bằng cú sút xa rất đẹp mắt, sang hiệp 2, khi tỉ số đang là 1–1, tiền vệ vào sân thay người Nguyễn Vũ Phong có tình huống ngoặt bóng và dứt điểm nâng tỷ số lên 2–1, sau đó các cầu thủ áo đỏ lui về cố thủ bên sân nhà. Do rơi vào thế đường cùng, Malaysia phải dâng cao và có bàn thắng gỡ hòa khi trận đấu chỉ còn vài phút là kết thúc. Tuy nhiên Vũ Phong thêm một lần tỏa sáng khi đường chuyền vượt tuyến bên sân nhà lên cho Lê Công Vinh của anh vô tình chạm đất và nảy qua đầu thủ môn đội bạn dang băng lên, ấn định chiến thắng 3–2 cho Việt Nam. Trận cuối vòng bảng, Việt Nam thắng Lào 4–0 và lọt vào vòng bán kết có phần may mắn. Bảng đối diện, Singapore đứng đầu bảng sau 3 trận toàn thắng, trong đó có chiến thắng 2–0 trước chủ nhà Indonesia đầy thuyết phục ở trận cuối.

Đối đầu nhà vô địch Singapore đang có phong độ cực tốt tại bán kết, Việt Nam đã lột xác hoàn toàn. Trận đấu lượt đi 2 đội hòa nhau 0–0. Lượt về tại Singapore, Công Vinh có màn đột phá táo bạo trước khi chuyền vào cho Nguyễn Quang Hải đối mặt lưới trống, dứt điểm tung lưới đối phương và ghi bàn thắng duy nhất giúp Việt Nam lọt vào chung kết. Gặp lại Thái Lan tại trận chung kết lượt đi trên sân khách, Việt Nam gây bất ngờ khi dẫn trước 2–0 trong hiệp một bằng bàn thắng của Vũ Phong và Công Vinh. Mặc dù để đội chủ nhà gỡ lại một bàn nhưng kết quả 2–1 vẫn giúp Việt Nam có thêm nhiều tự tin trước trận đấu cuối cùng tại Mỹ Đình.

Trong trận chung kết lượt về ngày 28 tháng 12 năm 2008, khi bị dẫn trước 1–0 đến phút bù giờ cuối cùng, tiền vệ Nguyễn Minh Phương vào sân thay Nguyễn Minh Châu. Anh đứng trước quả đá phạt ở khoảng cách 30m, cú đá bóng xoáy của anh tìm đến Công Vinh, người nhô cao đánh đầu ngược làm tung lưới Thái Lan, mang về chức vô địch Đông Nam Á lần đầu tiên cho Việt Nam.

AFF Cup 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Việt Nam trong trận bán kết lượt đi AFF Suzuki Cup 2010 gặp đội tuyển Malaysia.

Lần thứ 3 Việt Nam có vinh dự được đăng cai một bảng đấu khu vực, gồm Singapore, Myanmar và Phillipnes. Vào lúc này, trình độ các đội tuyển quốc gia tại Đông Nam Á đã xích lại gần nhau hơn. Nhà đương kim vô địch có màn ra mắt các cổ động viên nhà rất ấn tượng khi chiến thắng đậm đà 7–1 trước Myanmar, dù không có sự phục vụ của tiền đạo chủ lực Lê Công Vinh. Nguyễn Anh Đức (2 bàn), Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Trọng Hoàng (2 bàn), Lê Tấn Tài, Nguyễn Vũ Phong là những người lập công. Lượt trận thứ 2, Việt Nam bất ngờ bị Phillipines dội gáo nước lạnh khi thất thủ 0–2. Vì vậy, Việt Nam (hiện đang có 3 điểm) buộc phải thắng Singapore (4 điểm) để giành chiếc vé tiếp theo vào bán kết sau Myanmar. Trận đấu diễn ra kịch tính suốt 90 phút, trong đó Vũ Phong ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu từ đường chuyền của Phạm Thành Lương sau tình huống phản công nhanh.

Tại bán kết Việt Nam thua Malaysia, đội về sau lên ngôi vô địch với tổng tỷ số 0–2 sau 2 lượt trận. Việt Nam chia tay cặp tiền vệ xuất sắc Minh Phương - Tài Em, để lại nhiều sự nuối tiếc cho người hâm mộ vì Minh Phương chỉ mới bước qua độ tuổi 30, còn Tài Em chỉ mới 28.

AFF Cup 2012[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Việt Nam lần đầu sử dụng huấn luyện viên nội tham gia đấu trường khu vực. Huấn luyện viên Phan Thanh Hùng của câu lạc bộ Hà Nội T&T là người có được vinh dự này. Nằm tại bảng đấu với đối thủ mạnh Thái Lan, lại thi đấu ngay trên sân của họ, Việt Nam lại thiếu mất nhiều trụ cột nên kết quả là bị loại sau vòng đấu bảng. Việt Nam hòa Myanmar 1–1, thua Phillipines 0–1 và thua Thái Lan 1–3. Kết thúc giải chỉ với 1 điểm có được, Việt Nam may mắn hơn Myanmar về hiệu số bàn thắng/bại nên được miễn đấu vòng loại để tham gia giải lần sau.

AFF Cup 2014[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ chuyển tiếp rõ rệt tại đội tuyển Việt Nam khi huấn luyện viên người Nhật Bản Miura Toshiya đến tiếp quản. Các trụ cột trên lý thuyết đang ở độ tuổi chín muồi của sự nghiệp như: Huỳnh Quang Thanh, Nguyễn Vũ Phong, Huỳnh Quốc Anh, Nguyễn Minh Đức, Dương Hồng Sơn... đều bị loại hoặc không được gọi. Thay vào đó những gương mặt trẻ lại được tín nhiệm: Trần Nguyên Mạnh, Quế Ngọc Hải, Vũ Minh Tuấn, Võ Huy Toàn, Nguyễn Hải Anh, Ngô Hoàng Thịnh... Đội tuyển Việt Nam chọn cách chơi bóng bổng, bóng dài, tích cực chuyền xa và thể lực được cải thiện đáng kể. Tại vòng bảng, đội tuyển Việt Nam lần thứ 4 được chơi trên sân nhà và họ đã thể hiện bộ mặt tích cực khi hòa đội tuyển Indonesia của huấn luyện viên Alfred Riedl tỉ số 2–2, thắng đội tuyển Lào 3–0 và đặc biệt thăng hoa trước đội tuyển Phillipines với cách biệt 3–1, bước vào vòng bán kết với vị thế đội nhất bảng.

Đối thủ của đội tuyển Việt Nam ở bán kết là đội tuyển Malaysia. Mặc dù thắng với tỉ số 2–1 ở trận bán kết lượt đi trên sân đối phương, nhưng đáng tiếc ở trận bán kết lượt về tại Mỹ Đình, đội tuyển Việt Nam phải nhận trận thua 2–4 trước Malaysia (chung cuộc 4–5) và nhường tấm vé vào chơi chung kết cho đối thủ.

Tại các giải châu lục và thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại World Cup 1994[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại World Cup 1994 là giải đấu đầu tiên đội tuyển Việt Nam tái hòa nhập với giải đấu hàng đầu thế giới. Tại vòng loại này, Việt Nam ở cùng bảng đấu với các đội CHDCND Triều Tiên, Qatar, IndonesiaSingapore. Đội tuyển Việt Nam do ông Trần Bình Sự làm huấn luyện viên trưởng. Trong đội hình Việt Nam khi đó, có một số cầu thủ tiêu biểu như: các thủ môn: Trương Văn Lợi, Phạm Văn Hùng; các hậu vệ: Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Phương Trung, Chu Văn Mùi, Nguyễn Mạnh Cường, Hồ Văn Tam...; các tiền vệ: Bùi Thông Tân, Lư Đình Tuấn, Võ Hoàng Bửu, Đinh Thế Nam, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Hồng Sơn, Phan Thanh Hùng...; các tiền đạo: Nguyễn Xuân Thanh, Hà Vương Ngầu Nại, Lê Huỳnh Đức, Đinh Thanh Hải, Phạm Đức Hợp. Các trận đấu lượt đi diễn ra tại Qatar. Trong trận đấu đầu tiên của đội tuyển Việt Nam thống nhất tại vòng loại World Cup vào ngày 9 tháng 4 năm 1993, Việt Nam đã để thua trắng CHDCND Triều Tiên 0–3 tại sân Khalifa (Doha). Trong trận tiếp theo, Việt Nam tiếp tục thua trắng chủ nhà Qatar 0–4.

Ngày 13 tháng 4 năm 1993, Việt Nam để thua Singapore 2–3 trong một trận cầu đầy nuối tiếc. Với bàn mở tỉ số ở phút 14, Lư Đình Tuấn trở thành cầu thủ đầu tiên của Việt Nam ghi bàn tại vòng loại World Cup. Tuy nhiên, Singapore đã nhanh chóng ghi liên tiếp 3 bàn ở các phút 19, 35 và 73 do công của Fandi Ahmad, Steven Tan (phạt đền) và Sundram Moorthy. Bàn còn lại của Việt Nam trong trận đấu này do công của Phan Thanh Hùng (phút 77).

Ngày 16 tháng 4 năm 1993, trong trận đấu cuối cùng của lượt đi với Indonesia, Việt Nam đã giành được thắng lợi đầu tiên tại vòng loại World Cup với tỉ số 1–0. Bàn thắng duy nhất được ghi vào phút 61 do công của tiền đạo Hà Vương Ngầu Nại (Cảng Sài Gòn). Sau đó Việt Nam tiếp tục để thua cả 4 trận đấu lượt về diễn ra tại Singapore (0–1 trước CHDCND Triều Tiên, 0–4 trước Qatar, 0–1 trước Singapore và 1–2 trước Indonesia). Bàn thắng duy nhất của lượt về được ghi do công của Nguyễn Hồng Sơn (phút 30 trong trận thua Indonesia 1–2). Với duy nhất một trận thắng, đội tuyển Việt Nam xếp cuối bảng với 2 điểm sau 8 trận, ghi được 4 bàn thắng.

Vòng loại World Cup 1998[sửa | sửa mã nguồn]

Tại vòng loại World Cup 1998, đội tuyển Việt Nam ở cùng bảng với các đội Trung Quốc, TajikistanTurkmenistan. Đội tuyển mở đầu vòng loại vào ngày 4 tháng 4 năm 1997 tại sân Pamir (Dushanbe) bằng thất bại 0–4 trước đội chủ nhà Tajikistan. Ở trận thứ 2, trên sân Turkmenistan, đội thua tiếp với tỉ số 1–2 với bàn gỡ duy nhất của tuyển thủ Nguyễn Công Vinh (Đường sắt Việt Nam) ở phút 71. Tại trận đấu thứ 3 trên sân Thống Nhất trước Trung Quốc, đội tuyển Việt Nam để thua 1–3. Bàn gỡ của Việt Nam do công của Lê Huỳnh Đức ghi sau một pha đánh gót chuyền bóng của Nguyễn Liêm Thanh ở phút 38. Ba trận đấu còn lại của lượt về đều có tỷ số thua 0–4 cho đội tuyển Việt Nam. Đội tuyển Việt Nam xếp cuối bảng vòng loại sau cả 6 thất bại. Những kết quả yếu kém này làm dấy nên những nghi ngờ về việc bán độ và dàn xếp tỉ số của một số tuyển thủ Việt Nam, trong đó nổi lên là trung vệ Lã Xuân Thắng khi cầu thủ này đã đánh đầu phản lưới nhà vào phút 24 trong trận đấu với Tajikistan trên sân vận động Thống Nhất.

Vòng loại Asian Cup 2004[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2003, trên danh nghĩa đội tuyển quốc gia tham dự vòng loại Cúp bóng đá châu Á, LĐBĐ Việt Nam đã cử đội tuyển U–23 thi đấu nhằm cọ xát tích lũy kinh nghiệm, chuẩn bị cho SEA Games 22. Tuy không vượt qua được vòng loại, nhưng với một đội hình trẻ, Việt Nam đã tạo nên một kỳ tích khi giành chiến thắng 1–0 trước đội tuyển quốc gia Hàn Quốc - đội tuyển vừa đứng thứ 4 vòng chung kết World Cup 2002 một năm trước đó. Người ghi bàn thắng duy nhất đó chính là tiền đạo Phạm Văn Quyến, người sau đó tỏa sáng ở SEA Games 22.

Vòng loại World Cup 2006[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2004, huấn luyện viên Edson Tavares trở lại Việt Nam dẫn dắt đội tuyển thi đấu ở vòng loại thứ nhất World Cup 2006 cùng bảng với Liban, Hàn Quốc và Maldives. Trước đó, huấn luyện viên tạm quyền Nguyễn Thành Vinh đã giúp Việt Nam có được chiến thắng đầu tiên 4–0 trước đối thủ Maldives vào ngày 18 tháng 2. Phan Văn Tài Em là người mở tỉ số, ngôi sao mới nổi Nguyễn Minh Hải ghi bàn thắng từ tình huống đánh đầu đẳng cấp nâng tỉ số lên 2–0, sang hiệp 2 Việt Nam ghi thêm 2 bàn nữa do công Tài Em và Phạm Văn Quyến từ chấm penalty. Tuy nhiên sau đó Việt Nam lại thất thủ 0–2 trước Liban trên sân Thiên Trường. Trong trận lượt về với Hàn Quốc tại sân Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam dẫn trước Hàn Quốc 1–0 nhờ tình huống đá bóng xoáy của Tài Em, tuy nhiên Hàn Quốc giành chiến thắng chung cuộc 2–1. Việt Nam kết thúc vòng loại với trận hòa 0–0 tại Liban.

Vòng chung kết Asian Cup 2007[sửa | sửa mã nguồn]

Liên đoàn bóng đá châu Á thay đổi quy trình tổ chức từ năm chẵn sang năm lẻ, vì vậy Cúp bóng đá châu Á 2007 được diễn ra thay vì năm 2008 như chu kỳ cũ. Lần này 4 quốc gia Đông Nam Á là Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Indonesia sẽ được đăng cai 4 bảng đấu và vòng tứ kết, trận đấu bán kết diễn ra ở Kuala Lumpur, Malaysia và Jarkarta, Indonesia. Trận chung kết tổ chức ở Indonesia. Đây là lần đầu tiên Việt Nam được vinh dự đăng cai một giải đấu bóng đá quy mô tầm cỡ châu lục, do được miễn vòng loại nên Việt Nam cũng lần đầu được tham dự. Nằm cùng bảng với đương kim vô địch giải lần trước Nhật Bản, đương kim vô địch Asiad 2006 Qatar, đương kim vô địch giải Tây Á Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Việt Nam dường như được xem là đội lót đường.

Thực tế đã diễn ra hoàn toàn khác, Việt Nam đã gây nên cú sốc lớn khi lần đầu tham dự đã lọt vào đến vòng tứ kết. Trận đấu đầu tiên, Việt Nam xuất sắc vượt qua UAE 2–0 nhờ bàn thắng của Huỳnh Quang Thanh và Lê Công Vinh, tuy nhiên cả 2 bàn đó đều mang dấu ấn kiến tạo của Nguyễn Minh Phương. Chưa dừng lại ở đó, Việt Nam còn dẫn trước Qatar ở trận đấu tiếp theo, Phan Thanh Bình là người tỏa sáng, kết qủa cuối cùng 2 đội hòa nhau 1–1. Ở lượt trận cuối Việt Nam thậm chí còn mở tỷ số trước khi đối đầu với Nhật Bản dù sau đó bị đối thủ ghi lại bốn bàn. Tuy thua Nhật 4–1 nhưng Việt Nam vẫn đứng thứ 2 bảng đấu và vào tứ kết với 4 điểm, trở thành đội duy nhất của Đông Nam Á lọt vào tứ kết năm đó. Tại tứ kết, Việt Nam thất thủ với tỷ số 0–2 trước Iraq, đội sau đó đã lên ngôi vô địch giải.

Trang phục thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Màu áo thi đấu chính của đội tuyển là bộ trang phục toàn đỏ, màu áo phụ là bộ trang phục toàn trắng. Từ năm 1999 đến năm 2003, tài trợ trang phục thi đấu cho đội tuyển Việt Nam là hãng thời trang Adidas, từ 2005 đến hết năm 2008, hãng cung cấp trang phục thi đấu cho đội tuyển Việt Nam là Li Ning, từ tháng 01 năm 2009, Nike đảm nhiệm vai trò này theo một hợp đồng 5 năm.[20][21] Trang phục thi đấu cho đội tuyển trong giai đoạn 2015-2019 do hãng Grand Sport tài trợ[22]

Trang phục chính
1995
1998
2005–2008
2009–2010
2010–2012
2012-2014[23]
2014–
Trang phục phụ
2005–2008
2009–2010
2010–2012
2012-2014
2014-

Các nhà tài trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà tài trợ chính cho đội tuyển gồm Yanmar, Grand SportHonda Việt Nam.[24]. Ngoài ra còn một số nhà tài trợ phụ khác.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả St T H B Bt Bb St T H B Bt Bb
Uruguay 1930 Không tham dự Không tham dự
Ý 1934
Pháp 1938
Brasil 1950
Thụy Sĩ 1954
Thụy Điển 1958
Chile 1962
Anh 1966
México 1970
Tây Đức 1974
Argentina 1978
Tây Ban Nha 1982
México 1986
Ý 1990
Hoa Kỳ 1994 Không vượt qua vòng loại 8 1 0 7 4 18
Pháp 1998 6 0 0 6 2 21
Hàn QuốcNhật Bản 2002 6 3 1 2 9 9
Đức 2006 6 1 1 4 5 9
Cộng hòa Nam Phi 2010 2 0 0 2 0 6
Brasil 2014 4 3 0 1 15 5
Nga 2018 5 2 1 2 7 7
Qatar 2022 Chưa diễn ra Chưa diễn ra
Tổng cộng 0 0 0 0 0 0 35 9 3 23 38 71

Cấp châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Cúp bóng đá châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả St T H B Bt Bb St T H B Bt Bb
Hồng Kông 1956 Không tham dự Không tham dự
Hàn Quốc 1960
Israel 1964
Iran 1968
Thái Lan 1972
Iran 1976
Kuwait 1980
Singapore 1984
Qatar 1988
Nhật Bản 1992
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 1996 Không vượt qua vòng loại 3 2 0 1 13 5
Liban 2000 3 2 0 1 14 2
Trung Quốc 2004 6 3 0 3 8 13
IndonesiaMalaysiaThái LanViệt Nam 2007 Tứ kết 4 1 1 2 4 7 Chủ nhà
Qatar 2011 Không vượt qua vòng loại 6 1 2 3 6 11
Úc 2015 6 1 0 5 5 15
Tổng cộng Tốt nhất: Tứ kết 4 1 1 2 4 7 24 9 2 13 46 46

Đại hội Thể thao châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1998)
Thành tích tại Á vận hội
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Ấn Độ 1951 Không tham dự
Philippines 1954
Nhật Bản 1958
Indonesia 1962
Thái Lan 1966
Thái Lan 1970
Iran 1974
Thái Lan 1978
Ấn Độ 1982
Hàn Quốc 1986
Trung Quốc 1990
Nhật Bản 1994
Thái Lan 1998 Vòng bảng 2 0 0 2 0 6
Tổng cộng Tốt nhất: Vòng bảng 2 0 0 2 0 6

Cấp khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Việt Nam trước trận chung kết AFF Cup 2008 lượt về với Thái Lan
Thành tích tại Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Singapore 1996 Hạng ba 5 3 2 1 13 8
Việt Nam 1998 Á quân 5 3 1 1 8 2
Thái Lan 2000 Hạng tư 6 3 1 2 14 5
Indonesia Singapore 2002 Hạng ba 6 4 1 1 21 15
Malaysia Việt Nam 2004 Vòng 1 4 2 1 1 13 4
Singapore Thái Lan 2007 Bán kết 5 1 2 1 10 3
Indonesia Thái Lan 2008 Vô địch 7 4 2 1 11 6
Indonesia Việt Nam 2010 Bán kết 5 2 1 2 8 5
Thái Lan Malaysia 2012 Vòng bảng 3 0 1 2 2 5
Việt Nam Singapore 2014 Bán kết 4 3 1 1 12 8
Tổng cộng Tốt nhất: Vô địch 51 25 14 13 113 62

Đại hội Thể thao Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1999)
Thành tích tại SEA Games
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Thái Lan 1959 Không tham dự
Myanmar 1961
Malaysia 1965
Thái Lan 1967
Myanmar 1969
Malaysia 1971
Singapore 1973
Thái Lan 1975
Malaysia 1977
Indonesia 1979
Philippines 1981
Singapore 1983
Thái Lan 1985
Indonesia 1987
Malaysia 1989
Philippines 1991 Vòng bảng 3 0 1 2 3 5
Singapore 1993 Vòng bảng 3 1 0 2 1 3
Thái Lan 1995 Á quân 6 4 0 2 10 8
Indonesia 1997 Hạng ba 6 3 1 2 9 6
Brunei 1999 Á quân 6 4 1 1 14 2
Tổng cộng Tốt nhất: Á quân 24 12 3 9 37 24

Cúp VFF[sửa | sửa mã nguồn]

  • (Đội tuyển Việt Nam và đội tuyển U-23 Việt Nam luân phiên nhau từng năm làm đại diện nước chủ nhà.)
Cúp VFF
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Việt Nam Cúp Agribank 2004 Á quân 3 2 0 1 4 3
Việt Nam Cúp Agribank 2006 Á quân 3 2 1 0 5 2
Việt Nam Cúp T&T 2008 Á quân 2 0 2 0 2 2
Việt Nam Cúp VFF Sơn Hà 2010 Hạng tư 3 0 1 2 1 5
Việt Nam Cúp VFF 2012 Hạng ba 3 1 1 1 5 2
Tổng cộng Tốt nhất: Á quân 13 5 5 4 17 14

Kết quả thi đấu năm 2016[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả thời gian được liệt kê là UTC+07:00

      Thắng       Hòa       Thua

Vòng loại World Cup 2018 khu vực châu Á (Vòng 2)
Giao hữu
Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2016

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đội tuyển quốc gia tập trung chuẩn bị tham dự trận đấu giao hữu gặp Syria vào ngày 31 tháng 5 và AYA Bank Cup 2016.

Số lần khoác áo và số bàn thắng cập nhật mới nhất ngày 6 tháng 6 năm 2016, sau trận gặp Singapore.

0#0 Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bt Câu lạc bộ


1TM Trần Nguyên Mạnh 20 tháng 12, 1991 (24 tuổi) 16 0 Việt Nam Sông Lam Nghệ An
1TM Đặng Văn Lâm 13 tháng 8, 1993 (23 tuổi) 0 0 Việt Nam Hải Phòng
1TM Phí Minh Long 11 tháng 2, 1995 (21 tuổi) 0 0 Việt Nam Hà Nội T&T

2HV Vũ Ngọc Thịnh 8 tháng 7, 1992 (24 tuổi) 3 0 Việt Nam Hải Phòng
2HV Đinh Tiến Thành 24 tháng 1, 1991 (25 tuổi) 13 1 Việt Nam XSKT Cần Thơ
2HV Trần Đình Đồng 20 tháng 5, 1987 (29 tuổi) 16 0 Việt Nam FLC Thanh Hóa
2HV Quế Ngọc Hải 15 tháng 5, 1993 (23 tuổi) 15 1 Việt Nam Sông Lam Nghệ An
2HV Âu Văn Hoàn 1 tháng 10, 1989 (26 tuổi) 11 0 Việt Nam Becamex Bình Dương
2HV Trần Đình Hoàng 8 tháng 12, 1991 (24 tuổi) 7 0 Việt Nam Sông Lam Nghệ An
2HV Vũ Văn Thanh 14 tháng 4, 1996 (20 tuổi) 3 0 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai
2HV Bùi Tiến Dũng 2 tháng 10, 1995 (20 tuổi) 1 0 Việt Nam Viettel

Sầm Ngọc Đức age 1995 5 18 Hàn Nội T & T

3TV Nguyễn Huy Hùng 2 tháng 3, 1992 (24 tuổi) 10 1 Việt Nam QNK Quảng Nam
3TV Phạm Thành Lương 10 tháng 9, 1988 (28 tuổi) 68 6 Việt Nam Hà Nội T&T
3TV Đinh Thanh Trung 24 tháng 1, 1988 (28 tuổi) 9 1 Việt Nam QNK Quảng Nam
3TV Trần Phi Sơn 14 tháng 3, 1992 (24 tuổi) 2 1 Việt Nam Sông Lam Nghệ An
3TV Lương Xuân Trường 28 tháng 4, 1995 (21 tuổi) 6 0 Hàn Quốc Incheon United
3TV Nguyễn Tuấn Anh 16 tháng 5, 1995 (21 tuổi) 6 0 Nhật Bản Yokohama
3TV Lê Hoàng Thiên 25 tháng 12, 1990 (25 tuổi) 2 0 Việt Nam SHB Đà Nẵng

4 Lê Công Vinh (c) 10 tháng 12, 1985 (30 tuổi) 75 46 Việt Nam Becamex Bình Dương
4 Nguyễn Văn Quyết 1 tháng 7, 1991 (25 tuổi) 35 10 Việt Nam Hà Nội T&T
4 Lê Văn Thắng 8 tháng 2, 1990 (26 tuổi) 3 0 Việt Nam Hải Phòng
4 Nguyễn Văn Toàn 12 tháng 4, 1996 (20 tuổi) 6 2 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai
4 Nguyễn Công Phượng 21 tháng 1, 1995 (21 tuổi) 4 0 Nhật Bản Mito HollyHock

Gọi tên gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Các cầu thủ từng được gọi vào đội tuyển Việt Nam trong vòng 12 tháng qua.

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Huỳnh Tuấn Linh 17 tháng 4, 1991 (25 tuổi) 0 0 Việt Nam Than Quảng Ninh v  Iraq (Vòng loại World Cup 2018)
TM Lê Văn Hưng 12 tháng 12, 1987 (28 tuổi) 0 0 Việt Nam SHB Đà Nẵng v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
TM Nguyễn Thanh Diệp 6 tháng 9, 1991 (25 tuổi) 0 0 Việt Nam Đồng Nai v Manchester City (giao hữu)
TM Nguyễn Hoài Anh 10 tháng 3, 1993 (23 tuổi) 0 0 Việt Nam Than Quảng Ninh v  Iraq (Vòng loại World Cup 2018)
TM Tô Vĩnh Lợi 22 tháng 4, 1985 (31 tuổi) 3 0 Việt Nam FLC Thanh Hóa v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
TM Nguyễn Tuấn Mạnh 31 tháng 7, 1990 (26 tuổi) 8 0 Việt Nam Sanna Khánh Hoà BVN v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
TM Bùi Tấn Trường 19 tháng 2, 1986 (30 tuổi) 7 0 Việt Nam Becamex Bình Dương Đơt tập trung đầu tiên của năm 2016

HV Nguyễn Tiến Duy 29 tháng 4, 1991 (25 tuổi) 2 0 Việt Nam Than Quảng Ninh v  Iraq (Vòng loại World Cup 2018)
HV Võ Hoàng Quảng INJ 2 tháng 5, 1987 (29 tuổi) 2 0 Việt Nam SHB Đà Nẵng v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
HV Huỳnh Tấn Tài 17 tháng 8, 1994 (22 tuổi) 0 0 Việt Nam Đồng Tâm Long An v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
HV Michal Nguyễn 4 tháng 12, 1989 (26 tuổi) 2 0 Việt Nam Becamex Bình Dương v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
HV Phạm Mạnh Hùng 3 tháng 3, 1993 (23 tuổi) 1 0 Việt Nam Sông Lam Nghệ An v Manchester City (giao hữu)
HV Trần Chí Công 25 tháng 8, 1983 (33 tuổi) 7 0 Việt Nam Đồng Tâm Long An v Manchester City (giao hữu)
HV Nguyễn Minh Tùng 9 tháng 8, 1992 (24 tuổi) 2 0 Việt Nam Than Quảng Ninh v  Trung Hoa Đài Bắc (Vòng loại World Cup 2018)
HV Dương Thanh Hào INJ 23 tháng 6, 1991 (25 tuổi) 0 0 Việt Nam Hà Nội T&T v  Iraq (Vòng loại World Cup 2018)
HV Nguyễn Văn Biển INJ 27 tháng 4, 1985 (31 tuổi) 27 2 Việt Nam Hà Nội T&T v  Iraq (Vòng loại World Cup 2018)
HV Nguyễn Huy Cường 8 tháng 11, 1986 (29 tuổi) 4 0 Việt Nam Than Quảng Ninh v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
HV Đặng Văn Robert 27 tháng 8, 1984 (32 tuổi) 0 0 Việt Nam Becamex Bình Dương v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
HV Mai Tiến Thành 16 tháng 3, 1986 (30 tuổi) 12 1 Việt Nam Becamex Bình Dương v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
HV Nguyễn Xuân Thành INJ 22 tháng 3, 1985 (31 tuổi) 9 0 Việt Nam Becamex Bình Dương Đơt tập trung đầu tiên của năm 2016
HV Nguyễn Thanh Hiền 16 tháng 4, 1993 (23 tuổi) 7 0 Việt Nam Than Quảng Ninh Đơt tập trung đầu tiên của năm 2016

TV Đỗ Duy Mạnh 29 tháng 9, 1996 (20 tuổi) 4 0 Việt Nam Hà Nội T&T v  Iraq (Vòng loại World Cup 2018)
TV Nguyễn Hữu Dũng 28 tháng 8, 1995 (21 tuổi) 0 0 Việt Nam FLC Thanh Hóa v  Trung Hoa Đài Bắc (Vòng loại World Cup 2018)
TV Nguyễn Minh Châu 9 tháng 1, 1985 (31 tuổi) 29 0 Việt Nam Hải Phòng v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
TV Vương Quốc Trung 29 tháng 5, 1990 (26 tuổi) 1 0 Việt Nam Hải Phòng v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
TV Hồ Ngọc Thắng 10 tháng 2, 1994 (22 tuổi) 0 0 Việt Nam SHB Đà Nẵng v  Iraq (Vòng loại World Cup 2018)
TV Nguyễn Trọng Hoàng 14 tháng 4, 1989 (27 tuổi) 38 11 Việt Nam Becamex Bình Dương v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
TV Đặng Khánh Lâm 23 tháng 1, 1984 (32 tuổi) 2 0 Việt Nam Hải Phòng v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
TV Võ Huy Toàn 15 tháng 3, 1993 (23 tuổi) 8 1 Việt Nam SHB Đà Nẵng v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
TV Vũ Minh Tuấn INJ 19 tháng 9, 1990 (26 tuổi) 8 2 Việt Nam Than Quảng Ninh Đơt tập trung đầu tiên của năm 2016
Mạc Hồng Quân 1 tháng 1, 1992 (24 tuổi) 11 2 Việt Nam Than Quảng Ninh Đơt tập trung đầu tiên của năm 2016

Hoàng Đình Tùng 24 tháng 8, 1988 (28 tuổi) 5 0 Việt Nam FLC Thanh Hóa v  Iraq (Vòng loại World Cup 2018)
Nguyễn Hải Anh 15 tháng 9, 1987 (29 tuổi) 8 4 Việt Nam Đồng Nai v  Thái Lan (Vòng loại World Cup 2018)
Nguyễn Anh Đức 24 tháng 10, 1985 (30 tuổi) 23 5 Việt Nam Becamex Bình Dương Đơt tập trung đầu tiên của năm 2016

Chú thích:

  • SUS Cầu thủ bỏ cuộc
  • INJ Cầu thủ rút khỏi đội hình do chấn thương.
  • RET Từ giã đội tuyển quốc gia.
  • WD Cầu thủ rút khỏi đội hình vì những lý do không liên quan đến chấn thương.

Thành phần ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí Họ tên
Phó chủ tịch Việt Nam Trần Quốc Tuấn
Trưởng đoàn Việt Nam
Giám đốc kỹ thuật Đức Hans-Jürgen Gede
Huấn luyện viên Việt Nam Nguyễn Hữu Thắng
Trợ lý huấn luyện viên Việt Nam Đào Quang Hùng (SHB Đà Nẵng)
Trợ lý huấn luyện viên Việt Nam Dương Minh Ninh (HAGL)
Trợ lý huấn luyện viên Việt Nam Võ Văn Hạnh (PVF)
Trợ lý ngôn ngữ Việt Nam Trần Hùng Cường (Lâm Đồng)
Bác sĩ 1 Nhật Bản Shinichi Kubo
Bác sĩ 2 Việt Nam Tuấn Nguyên Giáp
Bác sĩ 3 Việt Nam Nguyễn Trọng Thủy

Huấn luyện viên trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách huấn luyện viên tính từ năm 1991

Huấn luyện viên Thời gian Trận Thắng Hòa Bại Thành tích
Việt Nam Nguyễn Hữu Thắng Tháng 3, 2016[25] 5 3 1 1 Vô địch AYA Bank Cup 2016
Nhật Bản Miura Toshiya Tháng 5, 2014[26]–Tháng 3, 2016[25] 13 7 3 3 Hạng 3 AFF Championship 2014
Việt Nam Hoàng Văn Phúc Tháng 1, 2013[27]–Tháng 4, 2014[28] 3 1 0 2
Việt Nam Nguyễn Văn Sỹ (quyền) Tháng 10, 2013–Tháng 11, 2013 4 1 0 3
Việt Nam Phan Thanh Hùng Tháng 8, 2012[29]–Tháng 12, 2012[30] 14 5 5 4
Đức Falko Götz Tháng 6, 2011[31]–Tháng 12, 2011[32] 5 3 0 2
Việt Nam Mai Đức Chung (quyền) 2011[33]
Bồ Đào Nha Henrique Calisto Tháng 6, 2008[34]–Tháng 3, 2011[35] 42 11 11 20 Hạng 3 AFF Championship 2010
Vô địch AFF Championship 2008
Á quân T&T Cup 2008
Áo Alfred Riedl 2005–Tháng 10, 2007[36] 23 8 8 7 Hạng 3 AFF Championship 2007
Tứ kết Cúp bóng đá châu Á 2007
Á quân Agribank Cup 2006
Á quân Cúp Nhà vua 2006
Việt Nam Trần Văn Khánh (quyền) 2004[37] 1 1 0 0
Brasil Edson Tavares Tháng 2, 2004–Tháng 12, 2004 11 4 1 6 Á quân Agribank Cup 2004
Việt Nam Nguyễn Thành Vinh (quyền) Tháng 1, 2004–Tháng 3, 2004[38] 1 1 0 0
Áo Alfred Riedl Tháng 2, 2003–Tháng 10, 2003 7 3 0 4
Bồ Đào Nha Henrique Calisto Tháng 8, 2002–Tháng 12, 2002 10 5 3 2 Hạng 3 AFF Championship 2002
Brasil Dido 2001 6 3 1 2
Áo Alfred Riedl Tháng 8, 1998 – 2000 32 16 6 9 Á quân AFF Championship 1998
Anh Colin Murphy Tháng 10, 1997 6 3 1 2
Việt Nam Lê Đình Chính (quyền) 1997[39] 1 0 0 1
Việt Nam Trần Duy Long 1997[39] 5 0 0 5
Đức Karl-Heinz Weigang 1995–Tháng 6, 1997 Hạng 3 AFF Championship 1996
Brasil Edson Tavares 1995
Việt Nam Trần Duy Long (quyền) 1994–1994 1 1 0 0
Việt Nam Trần Bình Sự 1993[40] 11 2 0 9
Việt Nam Nguyễn Sỹ Hiển 1991[41] 3 0 1 2
Việt Nam Vũ Văn Tư 1991[12]

Thứ hạng trong bảng xếp hạng của FIFA[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ thứ hạng của đội tuyển Việt Nam trong bảng xếp hạng của FIFA[1]

Thành tích đối đầu với từng quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cập nhật lần cuối ngày 06 tháng 06 năm 2016.[42]
Đội tuyển St T H B Bt Bb
 Albania 1 0 0 1 0 5
 Bahrain 1 1 0 0 5 3
 Bangladesh 2 1 1 0 4 0
 Bosna và Hercegovina 1 0 0 1 0 4
 Campuchia 5 5 0 0 31 4
 Trung Quốc 6 0 0 6 3 20
 Trung Hoa Đài Bắc 3 3 0 0 10 3
 Estonia 1 1 0 0 1 0
 Guam 2 2 0 0 20 0
 Hồng Kông 7 4 1 2 11 8
 Ấn Độ 2 1 0 1 3 4
 Indonesia 18 4 7 7 17 22
 Iraq 3 0 1 2 1 4
 Jamaica 1 1 0 0 3 0
 Nhật Bản 3 0 0 3 1 9
 Kazakhstan 1 1 0 0 2 1
 Triều Tiên 6 0 3 3 1 7
 Hàn Quốc 6 1 0 5 2 17
 Kuwait 2 1 0 1 2 3
 Lào 10 9 1 0 44 3
 Liban 4 1 2 1 4 4
 Ma Cao 2 2 0 0 13 1
 Malaysia 15 8 2 5 19 17
 Maldives 2 1 0 1 4 3
 Mozambique 1 1 0 0 1 0
 Mông Cổ 2 2 0 0 5 0
 Myanmar 9 7 1 1 33 9
   Nepal 2 2 0 0 7 0
 Oman 2 0 0 2 0 8
 Palestine 1 0 0 1 1 3
 Philippines 9 6 1 2 18 7
 Qatar 6 2 1 3 5 14
 Ả Rập Saudi 2 0 0 2 0 9
 Singapore 19 7 8 4 19 15
 Sri Lanka 4 1 3 0 7 6
 Syria 3 1 1 1 2 1
 Tajikistan 2 0 0 2 0 8
 Thái Lan 21 3 4 14 17 41
 Turkmenistan 6 1 0 5 4 12
 UAE 5 1 0 4 3 13
 Uzbekistan 2 0 0 2 1 6
 Zimbabwe 1 0 0 1 0 6
Tổng cộng 199 80 36 85 319 298

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

1 Vô địch (1): 2008
2 Á quân (1): 1998
3 Hạng ba (2): 1996, 2002, 2007, 2010, 2014
Bạc Huy chương bạc (5): 1995, 1999
Đồng Huy chương đồng (2): 1997
  • Danh hiệu khác:
AYA Bank Cup: 2016

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă (tiếng Anh) “Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA - Việt Nam”. fifa.com. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2016. 
  2. ^ “Việt Nam lọt vào top 10 sự kiện bóng đá châu Á”. VnExpress. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009. 
  3. ^ “2008 qua 10 sự kiện do độc giả VietNamNet bình chọn”. Vietnamnet. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009. 
  4. ^ Đại nhảy vọt, Việt Nam vào top 100 BXH FIFA
  5. ^ Falah Abdullah (30 tháng 11 năm 2012). “Thailand - Vietnam: The Golden Star need to secure a win at all costs” (bằng tiếng Anh). goal.com. Truy cập 7 tháng 9 năm 2015. 
  6. ^ “VIETNAM READY TO FACE ANY TEAM, SAYS MIURA” (bằng tiếng Anh). footballchannel.asia. 16 tháng 4 năm 2015. Truy cập 7 tháng 9 năm 2015. 
  7. ^ Phạm Tấn (25 tháng 5 năm 2015). “Đi tìm biệt danh cho các đội tuyển Việt Nam”. Thể thao & Văn hóa. Truy cập 7 tháng 9 năm 2015. 
  8. ^ Dương Trung Quốc. “Một Trăm năm bóng đá Việt Nam”. Vietnamnet. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  9. ^ “Lịch sử hình thành CLB Bóng đá Thể Công”. www.thecong.vn. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  10. ^ “Quái chiêu Hà Nội: Tòng "cháy" & tuyệt chiêu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
  11. ^ “BĐVN sau đỉnh AFF Cup: Lối mòn hay lộ trình?”. Vietnamnet. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009. 
  12. ^ a ă “Sông Hàn tràn lên… tuyển”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009. 
  13. ^ “Xung quanh sự cố "mất hộ chiếu" của Hồng Sơn: Lời thì thầm của con gấu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  14. ^ Các ông thầy nội trong lịch sử BĐVN
  15. ^ a ă â b Đức Phong. “3 giờ trò chuyện cùng HLV K.H.Weigang”. Báo Bóng Đá. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  16. ^ "Ông hãy đưa giúp tôi thuốc này đến các cầu thủ, nếu họ hỏi thì bảo đó là doping"
  17. ^ Tôi không tin vào sự hợp tác của Liên đoàn bóng đá Việt Nam.
  18. ^ a ă HOÀI LÊ - SĨ HUYÊN. "Thế hệ vàng" của bóng đá Việt Nam”. Tuổi trẻ Online. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  19. ^ N. Khôi. “Chương trình trận đấu chia tay "Thế hệ vàng": Có gì hấp dẫn?”. Tuổi trẻ Online. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  20. ^ “Từ tháng 1/2009, ĐTVN sẽ mặc áo đấu Nike”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009. 
  21. ^ “Hôm nay, ĐTVN thay áo mới”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009. 
  22. ^ “Đội tuyển Việt Nam có trang phục thi đấu mới”. Thanh Niên Online. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2014. 
  23. ^ Đức Nguyễn. “Ra mắt mẫu áo đấu "tuyệt đẹp" của ĐT Việt Nam”. Báo Bóng đá. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  24. ^ “Honda Vietnam becomes main sponsor for National Team”. VFF. 4 tháng 2 năm 2013. Truy cập 4 tháng 2 năm 2013. 
  25. ^ a ă “HLV Hữu Thắng: “Mourinho cũng bị sa thải, huống hồ tôi””. Báo Tuổi trẻ. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016. 
  26. ^ Lâm Thỏa. “Ông Toshiya Miura trở thành tân HLV trưởng ĐT Việt Nam”. 
  27. ^ “HLV Hoàng Văn Phúc chính thức trở thành HLV trưởng ĐTQG và ĐT U23 QG”. vff.org.vn. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013. 
  28. ^ Tuấn Thành. “VFF kết thúc hợp đồng với HLV Hoàng Văn Phúc”. bongdaplus.vn. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014. 
  29. ^ HLV Phan Thanh Hùng dẫn dắt đội tuyển Việt Nam
  30. ^ HLV Phan Thanh Hùng từ chức sau thảm bại
  31. ^ HLV Falko Goetz ký hợp đồng với VFF chiều 6/6
  32. ^ VFF chính thức cắt hợp đồng với HLV Falko Goetz
  33. ^ Tuấn Linh. “HLV Mai Đức Chung tạm ngồi "ghế nóng" ĐTVN”. Vietnamnet. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011. 
  34. ^ Ông Calisto chính thức trở thành HLV trưởng Đội tuyển Việt Nam
  35. ^ HLV Calisto họp báo công bố việc từ chức
  36. ^ HLV trưởng Alfred Riedl chính thức từ chức
  37. ^ “...chỉ định HLV thủ môn Trần Văn Khánh.”. Vnexpress.net. 12 tháng 12 năm 2004. 
  38. ^ “HLV Tavares sẽ dẫn dắt tuyển VN từ trận gặp Lebanon”. Thể thao Tuổi trẻ. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2009. 
  39. ^ a ă “Vietnam sacked”. AFP. 31 tháng 10 năm 1997. 
  40. ^ “...bệnh ê kíp.”. Nguyễn Nguyên. 6 tháng 2 năm 1997. 
  41. ^ “Bơi khỏi ao làng”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010. 
  42. ^ “Thành tích đối đấu giữa các đội tuyển trên trang chủ của FIFA”. Truy cập 18 tháng 5 năm 2015. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]