Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Việt Nam
Vietnam national football team.png
Biệt danhNhững ngôi sao vàng
Những con rồng vàng[1]
Hiệp hộiVFF (Việt Nam)
Liên đoàn châu lụcAFC (châu Á)
Liên đoàn khu vựcAFF (Đông Nam Á)
HLV trưởngPark Hang-seo
Đội trưởngQuế Ngọc Hải
Thi đấu nhiều nhấtLê Công Vinh (85)
Ghi bàn nhiều nhấtLê Công Vinh (51)
Mã FIFAVIE
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 94 Giữ nguyên (19 tháng 12 năm 2019)[2]
Cao nhất84 (tháng 9 năm 1998)
Thấp nhất172 (tháng 12 năm 2006)
Hạng Elo
Hiện tại 104 Tăng 35 (25 tháng 11 năm 2019)[3]
Cao nhất58 (tháng 10 năm 2002)
Thấp nhất175 (tháng 1 năm 1995)
Trận quốc tế đầu tiên
 Hồng Kông 3–2 Quốc Gia Việt Nam Việt Nam Cộng hòa
(Hồng Kông; 20 tháng 4 năm 1947)[4]
 Trung Quốc 5–3 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 
(Trung Quốc; 4 tháng 10 năm 1956)[5]
Trận thắng đậm nhất
 Việt Nam 11–0 Guam 
(TP. HCM, Việt Nam; 23 tháng 1 năm 2000)
Trận thua đậm nhất
 Zimbabwe 6–0 Việt Nam 
(Kuala Lumpur, Malaysia; 26 tháng 2 năm 1997)
 Oman 6–0 Việt Nam 
(Incheon, Hàn Quốc, 29 tháng 12 năm 2003)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam là đội tuyển bóng đá quốc gia đại diện cho Việt Nam tham dự các giải bóng đá nam quốc tế và được Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) quản lý.

Thời điểm Việt Nam bị chia cắt thành hai miền, có hai đội bóng tự nhận là đội bóng quốc gia tồn tại ở mỗi miền và cả hai đều được kiểm soát bởi các Hiệp hội bóng đá Việt Nam tương ứng. Vào cuối những năm 1950, Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa, là một trong bốn đội tiến vào vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á 1956Cúp bóng đá châu Á 1960, đứng thứ tư cả hai lần. Đội cũng đã vô địch Giải Merdeka lần thứ 10 tại Malaysia, 1966. Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1976, Hiệp hội bóng đá Việt Nam được đổi tên thành Liên đoàn bóng đá Việt Nam.

Do những sự kiện lịch sử xảy ra ở nước này trong suốt thế kỷ 20, với sự chiếm đóng của Nhật Bản ở Đông Dương, Chiến tranh Đông Dương, Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh biên giới Việt–Trung, Chiến tranh biên giới Tây Nam, xung đột với Thái Lan, bóng đá Việt Nam có thể được coi là vẫn còn rất sơ khai và chưa được biết đến trên toàn cầu. Mặc dù vậy, Việt Nam ngày càng được chú ý vì là một đội bóng có tinh thần mạnh mẽ, với thành tích vị trí thứ 4 vào năm 1956 và 1960 tại Asian Cup với tư cách Việt Nam Cộng hòa; và mặc dù đội chỉ tham gia hai kỳ Asian Cup vào năm 20072019 với tư cách là một quốc gia thống nhất, đội bóng đã trở thành đội từ Đông Nam Á có thành tích tốt nhất trong cả hai lần, đều lọt vào tứ kết.

Từ những năm 1990 khi Việt Nam gia nhập bóng đá toàn cầu, môn thể thao này sớm trở thành một phần của xã hội Việt Nam và là vũ khí để chống lại danh tiếng tiêu cực của đất nước do chiến tranh Việt Nam và sau đó là xung đột với các nước láng giềng. Điều này làm cho đội tuyển quốc gia trở thành một phần của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Những người hâm mộ bóng đá Việt Nam được mệnh danh là một trong những người hâm mộ cuồng nhiệt nhất, nổi tiếng với những lễ kỷ niệm lớn về thành tích của đội,[6] bất kể đó là đội tuyển quốc gia hay đội tuyển trẻ.[7]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng đá Việt Nam thời kỳ đầu với các cầu thủ Việt và Pháp trong giải Championat Cochinchine, k. 1922–23.

Sự ra đời của bóng đá tại Việt Nam bắt đầu từ năm 1896 trong thời thuộc địa Pháp. Ở giai đoạn đầu, môn thể thao này chỉ được chơi giữa các công chức, thương nhân và binh lính Pháp. Người Pháp sau đó khuyến khích người Việt địa phương chơi bóng đá và một số môn thể thao khác được giới thiệu cho họ để chuyển sự quan tâm của họ khỏi chính trị, dẫn đến môn thể thao này được lan truyền sang các khu vực khác, chủ yếu là miền Bắcmiền Trung. Ngày 20 tháng 7 năm 1908, tờ Lục tỉnh Tân văn đưa tin trận cầu giữa hai đội bóng thuần cầu thủ người Việt đã được diễn ra. Đến năm 1928, một số người đứng ra thành lập Tổng cục Thể thao An Nam tại Sài Gòn, cùng trong năm ấy cử một đội bóng Việt Nam sang thi đấu ở Singapore.[8] Nhiều câu lạc bộ bóng đá địa phương sau đó được thành lập ở cả miền bắc và miền nam Việt Nam mặc dù phải đến sau Thế chiến II, các câu lạc bộ bóng đá trong khu vực mới bắt đầu trở nên có tổ chức hơn. Cùng thời gian đó Việt Nam chơi trận đấu quốc tế đầu tiên trước đội tuyển Hàn Quốc ở Sài Gòn, kết quả thua 2-4.

Thời kỳ chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

South Vietnam
Đội Việt Nam Cộng hòa giành chức vô địch tại Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1959.
North Vietnam
Đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1956.

Sau năm 1954, Việt Nam chia cắt dẫn đến việc có hai đội bóng của hai nước song song tồn tại.

Đội tuyển Việt Nam Cộng hòa đã tham gia hai trận chung kết AFC Asian Cup đầu tiên (AFC Asian Cup 1956 và AFC Asian Cup 1960) và kết thúc ở vị trí thứ tư cả hai lần. Đội tuyển đã vô địch Thế vận hội Đông Nam Á (SEA games) đầu tiên vào năm 1959 tại Thái Lan. Đội cũng đã tham gia vòng loại FIFA World Cup 1974, đánh bại Thái Lan 1-0 để đủ điều kiện tham gia các trận đấu phân loại trước khi thua trận mở màn vòng bảng của họ 0-4 trước Nhật Bản và 0-1 đối với Hồng Kông. Đội tuyển Việt Nam Cộng hòa đã chơi trận cuối cùng với Malaysia năm 1975 khi họ thua 0-3.

Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ít hoạt động hơn, không phải là thành viên của AFC và FIFA, chủ yếu chơi các giải của các nước xã hội chủ nghĩa từ 1956 đến 1966. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chuyến thi đấu quốc tế đầu tiên sang Trung Quốc năm 1956. Trong chuyến du đấu, đội có trận ra mắt thua Trung Quốc 3-5, đá theo sơ đồ 3–2–5 với những gương mặt như Bùi Đức, Đình Te, Bùi Nghẽn, Luyến, Thưởng,...[9] và huấn luyện viên trưởng là Trương Tấn Bửu. Họ đã tham gia giải GANEFO đầu tiên tại Indonesia năm 1962 và Campuchia năm 1966. Cũng trong khoảng thời gian đó, Việt Nam Cộng hòa dự Cúp bóng đá châu Á các năm 1956, 1960, vượt qua vòng bảng Á vận hội 1962 và xếp thứ tư cả ba giải. Đội đoạt huy chương vàng SEA Games khi vô địch kỳ đại hội năm 1959. Đội từng tham gia vòng loại World Cup 1974, vòng loại các kỳ Thế vận hội Mùa hè 1964Thế vận hội Mùa hè 1968.

Cả hai đội tuyển đã không còn tồn tại khi hai miền Bắc và Nam hợp nhất với nhau thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi Việt Nam đã kết thúc chiến tranh, nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn không phải là thành viên của AFCFIFA trước năm 1975. Do Việt Nam Cộng hòa là thành viên của FIFA, đội tuyển Việt Nam thống nhất sau này được FIFA xếp vào danh sách kế thừa của đội tuyển Việt Nam Cộng hòa.

Thời kỳ tái phát triển Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh trong trận chung kết của Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008. Theo chiều kim đồng hồ từ trên xuống: Những fan hâm mộ Việt Nam trong chiến thắng của Việt Nam, đội Việt Nam nhận cúp và đội Việt Nam trước trận đấu cuối cùng của trận lượt về.
Cảnh trong vòng tứ kết của Cúp bóng đá châu Á 2019. Theo chiều kim đồng hồ từ trên xuống: Đội tuyển Việt Nam với Nhật Bản tại vòng tứ kết và người hâm mộ Việt Nam trong trận đấu.

Giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam hay cũng còn được gọi là Giải vô địch bóng đá toàn Việt Nam được ra mắt vào năm 1980 để tái phát triển bóng đá Việt Nam sau một thời gian dài xảy ra chiến tranh. Năm 1989, sau những cải cách đổi mới, một liên đoàn bóng đá mới được thành lập. Thể thao Việt Nam bắt đầu trở lại các sự kiện quốc tế. Sau ba tháng chuẩn bị, tháng 8 năm 1989, Đại hội lần thứ nhất của liên đoàn bóng đá mới đã diễn ra tại Hà Nội, tuyên bố thành lập Liên đoàn bóng đá Việt Nam. Trịnh Ngọc Chữ, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, được bầu làm chủ tịch VFF. Việt Nam tham gia trở lại giải nước ngoài đầu tiên của đội là SEA Games 1991 được tổ chức tại Manila với trận hòa.[10] Lần tập trung dự SEA Games năm đó, do điều kiện ở Nhổn thiếu thốn nên sau một tuần, 11 cầu thủ phía Nam (thành viên Công nhân Quảng Nam-Đà Nẵng, Hải Quan, Cảng Sài Gòn) cùng "đào ngũ".[11]

Năm 1996, Việt Nam tham gia Tiger Cup đầu tiên, nơi họ kết thúc ở vị trí thứ ba và đăng cai Tiger Cup lần thứ hai vào năm 1998, nơi họ thua 0-1 trước Singapore trong trận chung kết.

Việt Nam đăng cai AFC Asian Cup 2007 cùng với Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Ở vòng bảng, Việt Nam đã đánh bại UAE 2-0, hòa 1-1 với một đội bóng vùng Vịnh khác là Qatar, thua 1-4 trước Nhật Bản và là đội Đông Nam Á duy nhất lọt vào tứ kết, nơi họ thua Iraq 0-2.

Kể từ năm 2007, sau hai nỗ lực không thành công trong năm 2011 và 2015, Việt Nam đã đủ điều kiện tham dự AFC Asian Cup một lần nữa khi họ có được bốn trận hòa với Afghanistan và Jordan và hai chiến thắng trước Campuchia trong vòng loại AFC Asian Cup 2019. Cuối năm 2011, Việt Nam tăng 35 bậc, xếp thứ 99, trở lại top 100 FIFA sau 7 năm và dẫn đầu Đông Nam Á lần đầu tiên trong bảng xếp hạng.[12]

Tại các giải khu vực Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình xuất phát của Việt Nam tại trận chung kết lượt về AFF Cup 2008.

Việt Nam tại SEA Games 16 do Vũ Văn TưNguyễn Kim Hằng dẫn dắt giành một điểm, xếp cuối bảng và bị loại ngay từ vòng bảng sau khi hòa Philippines, thua IndonesiaMalaysia. Ảnh hưởng bởi vụ "đào ngũ" tại Nhổn, Vũ Văn Tư từ nhiệm sau 7 ngày dẫn dắt. Để lấp chỗ trống, liên đoàn huy động một số cầu thủ và HLV Thể Công, Nguyễn Sĩ Hiển lên làm nhiệm vụ. Đội bị loại ở vòng bảng SEA Games 17, trình làng những Nguyễn Hồng Sơn, Lê Huỳnh Đức.

Sau hai kỳ SEA Games đầu tiên, liên đoàn bắt đầu thuê thầy ngoại tiên phong với Karl Heinz WeigangEdson Tavares, cử hai đội dự đều vào bán kết Cúp Độc Lập và tập huấn tại châu Âu năm 1995. Đội lọt vào bán kết SEA Games cùng năm, thắng Myanmar hiệp phụ và thua Thái Lan chung kết. Trận hòa Lào vòng bảng Tiger Cup 1996 bị nghi "làm độ" khi Nguyễn Hữu Thắng nhận thẻ đỏ trực tiếp, bị HLV Weigang đòi đuổi còn 4 cầu thủ họ Nguyễn khác cũng dính vào nghi án. Giải này đội thua Thái Lan bán kết và thắng Indonesia trận tranh 3/4.

SEA Games 19, đội thua Thái Lan bán kết, đạt huy chương đồng khi hạ Singapore. Lọt qua bảng 5 đội ở SEA Games 20 và thắng Indonesia bán kết, Alfred Riedl cùng Việt Nam nhìn người Thái đoạt huy chương vàng với thất bại 0-2 ở chung kết. Trước đó, Riedl dẫn đội đăng cai lần đầu một giải quốc tế là Tiger Cup 1998 và nhìn Singapore lên ngôi nhờ cái lưng làm bàn của Sasi Kumar. Vòng bảng Tiger Cup 2000, Việt Nam "đòi nợ" thắng Singapore, thua Indonesia bán kết và thua Malaysia trận tranh 3/4.

Với những tên tuổi mới Minh Phương, Tài Em, Văn Quyến, đội đoạt huy chương đồng Tiger Cup 2002, bị loại ở vòng bảng Tiger Cup 2004, thua Thái Lan bán kết AFF Cup 2007.

Trước AFF Cup 2008, khi Henrique Calisto lần thứ 2 lên dẫn dắt, đội toàn hòa và thua giao hữu. Vào giải, Việt Nam thua Thái Lan, thắng MalaysiaLào ở vòng bảng và vào bán kết đấu Singapore. Lượt đi cả hai đội có trận hòa không bàn thắng thì lượt về, Nguyễn Quang Hải ghi bàn duy nhất giúp Việt Nam vào chung kết, tái đấu Thái Lan thắng 2-1 lượt đi sân khách. Lượt về ngày 28 tháng 12, bị dẫn 1–0 phút bù giờ cuối cùng, cú đá phạt hàng rào của Minh Phương tìm đến Công Vinh, tiền đạo sau đó đã đánh đầu tung lưới Thái Lan giúp cho Việt Nam lần đầu lên ngôi vô địch Đông Nam Á.

Đội hình xuất phát của Việt Nam tại trận chung kết lượt về AFF Cup 2018.

Tuy nhiên hai năm sau, đương kim vô địch thua Malaysia ở bán kết AFF Cup 2010, chia tay Calisto cùng cặp tiền vệ Minh Phương, Tài Em.

Năm 2012, đội dùng thầy nội Phan Thanh Hùng cho AFF Cup 2012 và bị loại từ vòng bảng, hơn Myanmar về hiệu số bàn thắng/bại nên được miễn đấu vòng loại giải lần sau.

Thời kỳ chuyển tiếp AFF Cup 2014, Miura Toshiya tiếp quản đội với các nhân tố mới như Nguyên Mạnh, Minh Tuấn, Hoàng Thịnh,...vào bán kết gặp Malaysia, thắng 2–1 lượt đi nhưng thua đối thủ 2-4 lượt về bởi những pha bóng ngớ ngẩn của hàng phòng ngự, trong đó có một bàn phản lưới nhà của Đinh Tiến Thành.

Trước và trong AFF Cup 2016, Việt Nam thắng giao hữu với Syria, Indonesia và toàn thắng vòng bảng. Ở trận bán kết Việt Nam lại một lần nữa gặp lại Indonesia, đội thua 1-2 bán kết lượt đi, và trận lượt về trên sân Mỹ Đình do pha đỡ bóng nghiệp dư của Trần Đình Đồng "kiến tạo" cho cầu thủ đội bạn sút vào lưới trống và tấm thẻ đỏ trực tiếp tai hại vì đánh nguội cầu thủ Indonesia của thủ môn Trần Nguyên Mạnh khi đã hết quyền thay người, đội thắng 2-1 sau 90 phút do công lần lượt của Văn ThanhMinh Tuấn, nhưng không thể chống đỡ thêm ở hiệp phụ và thua thêm một bàn trên chấm phạt đền khi hậu vệ Quế Ngọc Hải phải làm thủ môn bất đắc dĩ. Chung cuộc đội thua 3-4 và bị loại.

Nòng cốt dự AFF Cup 2018 là những cầu thủ đã đoạt huy chương bạc U-23 châu Á 2018 và đứng hạng tư ASIAD 2018 như Văn Hậu, Quang Hải, Văn Đức, Đức Chinh,...cùng các cựu binh như Huy Hùng, Văn Quyết, Anh ĐứcTrọng Hoàng,...[13]. Việt Nam đứng đầu bảng và vào bán kết, hạ gục Philippines cùng với tỷ số 2-1 hai lượt trận, vào chung kết hòa 2-2 Malaysia ở lượt đi trên sân khách. Lượt về trên sân nhà Mỹ Đình, Anh Đức ghi bàn duy nhất từ một cú vô lê đẹp mắt khi trận đấu mới bắt đầu được 5 phút, đội thắng chung cuộc 3-2 để lần thứ hai đăng quang AFF Cup.

Tại các giải châu lục và thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Việt Nam trước lượt trận thứ hai bảng D Cúp bóng đá châu Á 2019 gặp đội tuyển Iran.

Vòng loại World Cup 1994, do Trần Bình Sự làm huấn luyện viên ở bảng đấu có Triều Tiên, Qatar, IndonesiaSingapore, Việt Nam thắng duy nhất Indonesia loạt trận đầu sau đó thua cả bốn trận lượt về. Lư Đình Tuấn là cầu thủ đầu tiên ghi bàn tại vòng loại World Cup. Việt Nam mất vé Asian Cup 1996 vì thua Hàn Quốc, toàn thua vòng loại World Cup 1998 gặp Tajikistan, TurkmenistanTrung Quốc, mất vé Asian Cup 2000 vì thua Trung Quốc. − Vòng loại World Cup 2002, đội hòa một, thắng ba trận trước Mông CổBangladesh và thua Ả Rập Xê Út cả hai lượt đấu, nhìn đội Tây Á đi tiếp.

Năm 2003, Việt Nam cử đội tuyển U–23 dự vòng loại Cúp bóng đá châu Á, thua Oman với tỷ số kỉ lục 0-6, thua Hàn Quốc và thắng Nepal loạt trận đầu. Loạt trận sau thì thắng tối thiểu Hàn Quốc, Nepal rồi thua tiếp 0-2 Oman.

Năm 2004, Edson Tavares trở lại dẫn dắt đội bị loại ở vòng loại World Cup 2006 trước đó có chiến thắng duy nhất trước Maldives nhờ tạm quyền Nguyễn Thành Vinh.

Lần đầu Việt Nam đồng đăng cai và dự giải châu lục là Asian Cup 2007. Tại vòng bảng, đội hạ UAE nhờ hai bàn thắng của Quang ThanhCông Vinh sau đó hòa Qatar rồi thua ngược Nhật Bản 1-4, lọt vào tứ kết thua Iraq, đội đã vô địch Asian Cup năm đó. Thầy trò Alfred Riedl tái ngộ thua UAE cả hai lượt đi-về vòng loại World Cup 2010 với tổng tỷ số kỷ lục 6-0.

Vòng loại Asian Cup 2011, đội thắng 1, hòa 2 trận khác trước LibanSyria, còn lại toàn thua trong đó thua Trung Quốc 1-6.

Vòng loại World Cup 2014, dưới quyền của HLV Falko Götz, đội đã hạ Ma Cao cả hai lượt trận, thua Qatar sân khách và thắng đối thủ lượt về. Hoàng Văn Phúc đưa đội dự vòng loại Asian Cup 2015 thua 5 trận, thắng trận thủ tục với Hồng Kông.

Trong chiến dịch vòng loại thứ 2 World Cup 2018, Việt Nam thua Thái Lan 0-1 và thắng Đài Loan 2-1 trên sân khách, sau đó hòa Iraq 1-1 và thua 0-3 trong trận tái đấu Thái Lan tại sân Mỹ Đình. Năm 2016, Nguyễn Hữu Thắng lên thay Toshiya Miura, đội đã thắng Đài Loan 4-1 trên sân nhà Mỹ Đình. Iraq trong trận quyết định đã hạ Việt Nam 1-0 trên sân trung lập để đi tiếp. Kết thúc ở vị trí thứ 3, Việt Nam lọt vào vòng 3 vòng loại Asian Cup 2019 đối đầu Afghanistan, Campuchia, và Jordan. Đội thắng Campuchia cả hai lượt trận, hòa 4 trận còn lại trong thời gian mà Hữu Thắng, Mai Đức ChungPark Hang-seo lần lượt thay nhau dẫn dắt.

bảng D Asian Cup 2019, Việt Nam khởi đầu bằng trận thua ngược Iraq 2-3 rồi thua tiếp Iran 0-2 và hạ Yemen 2-0 lượt đấu cuối, đi tiếp ở vị trí cuối top 4 đội đứng thứ 3 có thành tích tốt nhất vì hơn Liban ở chỉ số fair-play. Vòng 16 đội, Việt Nam hòa 1-1 trong 120 phút thi đấu và thắng Jordan 4-2 trong loạt sút luân lưu, vào đến tứ kết thua 0-1 trước Nhật Bản. Mặc dù phải về nước sớm, nhưng đội vẫn nhận được rất nhiều sự quan tâm, yêu mến và khen ngợi, điển hình là dành cho thủ môn Đặng Văn Lâm bởi anh đã có những pha cứu thua không tưởng và rất tuyệt vời cho đội tuyển Việt Nam. Anh chỉ phải vào lưới nhặt bóng đúng 1 lần trong trận đấu và đó chỉ là một cú sút phạt đền thành công của Doan Ritsu sau khi Bùi Tiến Dũng phạm lỗi với anh trong khu vực cấm địa. Văn Lâm đã đổ người đúng hướng và thậm chí còn suýt nữa chạm được tay vào bóng, nhưng định mệnh đã gọi tên Nhật Bản vào bán kết. Thậm chí, một cổ động viên Việt Nam còn nói Văn Lâm "xứng đáng là thủ môn xuất sắc nhất giải đấu" và sự thật anh cũng đã có tên trong danh sách 5 thủ môn xuất sắc nhất Asian Cup 2019. Đội tuyển Việt Nam cũng có thể tự hào về hành trình của họ trên đất UAE khi họ là đội bóng Đông Nam Á đầu tiên vào được đến tứ kết tại Asian Cup và nằm trong danh sách 8 đội mạnh nhất châu Á năm 2019.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Đội chủ yếu thi đấu với Quốc kỳ "Cờ đỏ sao vàng" in trên ngực áo đấu (khác với phần lớn đội tuyển quốc gia thường hay in logo của Liên đoàn hoặc Hiệp hội bóng đá của quốc gia đó). Năm 2016, logo tuyển quốc gia dựa trên loài rồng được thiết kế và được VFF chấp thuận chính thức tháng 12 năm 2017,[14] nhưng vì bị chê "quá xấu", "giống rồng của Bảy viên ngọc rồng" và bị phản đối bởi đa số người dân Việt Nam nên cho đến nay biểu tượng này vẫn không được in lên áo.[15][16][17]

Tài trợ cho đội có Yanmar, Honda[18], Suzuki, Sony và một số nhà tài trợ phụ khác. Từ năm 1996 đến 2004, hãng sản xuất trang phục thi đấu cho đội là Adidas, từ 2005 đến hết 2008 là Li Ning, từ tháng 1 năm 2009, Nike đảm nhiệm vai trò này theo hợp đồng 5 năm.[19] Trang phục giai đoạn cuối năm 2014 đến 2023 do Grand Sport tài trợ.[20]Áo đấu chính của đội thường luôn luôn có màu đỏ tượng trưng cho quốc kỳ Việt Nam, còn áo đấu phụ của đội thường có màu trắng.

Sân nhà của đội trước năm 2003 là sân Hàng Đẫy sau đó chuyển sang sân Mỹ Đình được xây dựng để phục vụ cho SEA Games 2003.

Đội ngũ kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí Họ tên
Trưởng đoàn Việt Nam Nguyễn Sỹ Hiển
Huấn luyện viên trưởng Hàn Quốc Park Hang-seo
Trợ lý huấn luyện viên Hàn Quốc Lee Young-jin
Trợ lý huấn luyện viên Việt Nam Lư Đình Tuấn
Trợ lý huấn luyện viên Việt Nam Lưu Danh Minh
Huấn luyện viên thủ môn Việt Nam Trần Minh Quang
Huấn luyện viên thể lực Hàn Quốc Park Sung-gyun
Bác sĩ Hàn Quốc Choi Ju-young
Bác sĩ Việt Nam Trần Anh Tuấn
Bác sĩ Việt Nam Tuấn Nguyên Giáp
Phiên dịch viên Việt Nam Lê Huy Khoa
Cán bộ đoàn Việt Nam Đoàn Anh Tuấn

Danh sách cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

26 cầu thủ tham dự Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 2022 gặp UAEThái Lan vào các ngày 14 và 19 tháng 11 năm 2019.
Cập nhất kết quả đến ngày 15 tháng 10 năm 2019, sau trận gặp Thái Lan.

0#0 Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bt Câu lạc bộ
23 1TM Đặng Văn Lâm 13 tháng 8, 1993 (26 tuổi) 23 0 Thái Lan Muangthong United
1TM Nguyễn Tuấn Mạnh 31 tháng 7, 1990 (29 tuổi) 4 0 Việt Nam Sanna Khánh Hòa BVN
1TM Phạm Văn Cường 19 tháng 7, 1990 (29 tuổi) 0 0 Việt Nam Quảng Nam

3 2HV Quế Ngọc Hải (Đội trưởng) 15 tháng 5, 1993 (26 tuổi) 46 3 Việt Nam Viettel
4 2HV Bùi Tiến Dũng 2 tháng 10, 1995 (24 tuổi) 24 0 Việt Nam Viettel
2 2HV Đỗ Duy Mạnh 29 tháng 9, 1996 (23 tuổi) 27 1 Việt Nam Hà Nội
5 2HV Đoàn Văn Hậu 19 tháng 4, 1999 (20 tuổi) 23 0 Hà Lan SC Heerenveen
17 2HV Vũ Văn Thanh 14 tháng 4, 1996 (23 tuổi) 18 2 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai
21 2HV Nguyễn Thành Chung 8 tháng 9, 1997 (22 tuổi) 1 0 Việt Nam Hà Nội
2HV Nguyễn Hữu Tuấn 6 tháng 5, 1992 (27 tuổi) 0 0 Việt Nam TP Hồ Chí Minh

8 3TV Nguyễn Trọng Hoàng 14 tháng 4, 1989 (30 tuổi) 69 12 Việt Nam Viettel
3TV Nguyễn Huy Hùng 2 tháng 3, 1992 (27 tuổi) 24 2 Việt Nam Quảng Nam
19 3TV Nguyễn Quang Hải 12 tháng 4, 1997 (22 tuổi) 24 6 Việt Nam Hà Nội
16 3TV Đỗ Hùng Dũng (Đội phó) 8 tháng 9, 1993 (26 tuổi) 19 0 Việt Nam Hà Nội
15 3TV Phạm Đức Huy 20 tháng 1, 1995 (25 tuổi) 11 2 Việt Nam Hà Nội
14 3TV Nguyễn Tuấn Anh 16 tháng 5, 1995 (24 tuổi) 12 1 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai
7 3TV Nguyễn Phong Hồng Duy 13 tháng 6, 1996 (23 tuổi) 11 0 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai
3TV Nguyễn Hoàng Đức 11 tháng 1, 1998 (22 tuổi) 1 0 Việt Nam Viettel

11 4 Nguyễn Anh ĐứcRET 24 tháng 10, 1985 (34 tuổi) 36 12 Việt Nam Becamex Bình Dương
10 4 Nguyễn Công Phượng 21 tháng 1, 1995 (25 tuổi) 35 8 Việt Nam TP Hồ Chí Minh
9 4 Nguyễn Văn Toàn (Đội phó 2) 12 tháng 4, 1996 (23 tuổi) 27 4 Việt Nam Hoàng Anh Gia Lai
22 4 Nguyễn Tiến Linh 20 tháng 10, 1997 (22 tuổi) 12 4 Việt Nam Becamex Bình Dương
4 Hà Minh Tuấn 1 tháng 1, 1991 (29 tuổi) 0 0 Việt Nam Quảng Nam

Từng triệu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
HV Phạm Xuân Mạnh 9 tháng 2, 1996 (24 tuổi) 1 0 Việt Nam Sông Lam Nghệ An v.  UAE, 14 tháng 11 năm 2019 PRE
HV Lê Văn Đại 13 tháng 5, 1996 (23 tuổi) 0 0 Việt Nam Thanh Hóa v.  UAE, 14 tháng 11 năm 2019 PRE
HV Trần Văn Kiên 13 tháng 5, 1996 (23 tuổi) 1 0 Việt Nam Hà Nội v.  UAE, 14 tháng 11 năm 2019 PRE
Nguyễn Việt Phong 22 tháng 7, 1993 (26 tuổi) 2 0 Việt Nam Viettel v.  UAE, 14 tháng 11 năm 2019 PRE
Nguyễn Trọng Hùng 3 tháng 10, 1997 (22 tuổi) 0 0 Việt Nam Thanh Hóa v.  UAE, 14 tháng 11 năm 2019 PRE

Ghi chú:

Lịch thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

2019[sửa | sửa mã nguồn]

Cúp Nhà vua Thái Lan

Vòng loại World Cup 2022 & Vòng loại Asian Cup 2023

2020[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích tại các giải đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới Vòng loại
Năm Kết quả St T H B Bt Bb St T H B Bt Bb
1994 Không vượt qua vòng loại 8 1 0 7 4 18
1998 6 0 0 6 2 21
2002 6 3 1 2 9 9
2006 6 1 1 4 5 9
2010 2 0 0 2 0 6
2014 4 3 0 1 15 5
2018 6 2 1 3 7 8
2022 Chưa xác định Chưa xác định
Tổng cộng - 0 0 0 0 0 0 38 10 3 25 42 76
Cúp bóng đá châu Á Vòng loại
Năm Kết quả St T H B Bt Bb St T H B Bt Bb
1992 Không tham dự Không tham dự
1996 Không vượt qua vòng loại 3 2 0 1 13 5
2000 3 2 0 1 14 2
2004 6 3 0 3 8 13
2007 Tứ kết 4 1 1 2 4 7 Chủ nhà
2011 Không vượt qua vòng loại 6 1 2 3 6 11
2015 6 1 0 5 5 15
2019 Tứ kết 5 1 1 3 5 7 12 4 5 3 16 11
Tổng cộng Tứ kết 9 2 2 5 9 14 36 13 7 16 62 57
Á vận hội
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Nhật Bản 1994 Không tham dự
Thái Lan 1998 Vòng bảng 2 0 0 2 0 6
Tổng cộng Vòng bảng 2 0 0 2 0 6
  • Từ năm 2002 trở đi, môn bóng đá nam tại ASIAD được tổ chức cho các đội U-23 (+) tham dự. Để xem thêm thành tích của đội tuyển bóng đá Việt Nam tại ASIAD, xem thêm mục Đội tuyển bóng đá U-23 quốc gia Việt Nam.
Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
1996 Hạng ba 6 3 2 1 14 10
1998 Á quân 5 3 1 1 8 2
2000 Hạng tư 6 3 1 2 14 6
2002 Hạng ba 6 4 1 1 21 12
2004 Vòng bảng 4 2 1 1 13 5
2007 Bán kết 5 1 3 1 10 3
2008 Vô địch 7 4 2 1 11 6
2010 Bán kết 5 2 1 2 8 5
2012 Vòng bảng 3 0 1 2 2 5
2014 Bán kết 5 3 1 1 12 8
2016 Bán kết 5 3 1 1 8 6
2018 Vô địch 8 6 2 0 15 4
Tổng cộng Vô địch 65 34 17 14 136 72
SEA Games
Năm Kết quả St T H B Bt Bb
Philippines 1991 Vòng bảng 3 0 1 2 3 5
Singapore 1993 Vòng bảng 3 1 0 2 1 3
Thái Lan 1995 Á quân 6 4 0 2 10 8
Indonesia 1997 Hạng ba 6 3 1 2 9 6
Brunei 1999 Á quân 6 4 1 1 14 2
Malaysia 2001 Vòng bảng 3 1 0 2 5 4
Việt Nam 2003 Á quân 5 3 1 1 8 6
Philippines 2005 Á quân 6 4 0 2 13 8
Thái Lan 2007 Hạng tư 5 2 1 2 7 10
Lào 2009 Á quân 6 4 1 1 18 5
Indonesia 2011 Hạng tư 7 4 1 2 17 8
Myanmar 2013 Vòng bảng 4 2 0 2 13 3
Singapore 2015 Hạng ba 7 5 0 2 23 6
Malaysia 2017 Vòng bảng 5 3 1 1 12 4
Philippines 2019 Vô địch 7 6 1 0 24 4
Tổng cộng Vô địch 79 46 9 24 177 82
  • Từ năm 2001, môn bóng đá nam tại các kỳ SEA Games được tổ chức cho các đội U-23(+) tham gia.

Đối đầu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cập nhật lần cuối ngày 19 tháng 11 năm 2019.[21]
Đội tuyển quốc gia St T H B Bt Bb
 Afghanistan 2 0 2 0 1 1
 Albania 1 0 0 1 0 5
 Bahrain 1 1 0 0 5 3
 Bangladesh 2 1 1 0 4 0
 Bosna và Hercegovina 1 0 0 1 0 4
 Campuchia 8 8 0 0 41 5
 Trung Quốc 6 0 0 6 3 20
 Curaçao 1 0 0 1 1 1
 Trung Hoa Đài Bắc 4 3 1 0 11 4
 Estonia 1 1 0 0 1 0
 Guam 2 2 0 0 20 0
 Hồng Kông 7 4 1 2 11 8
 Ấn Độ 2 1 0 1 3 4
 Indonesia 25 6 9 10 30 36
 Iran 1 0 0 1 0 2
 Iraq 4 0 1 3 3 7
 Jamaica 1 1 0 0 3 0
 Nhật Bản 4 0 0 4 1 10
 Jordan 3 1 2 0 2 2
 Kazakhstan 1 1 0 0 2 1
 CHDCND Triều Tiên 13 1 5 7 10 25
 Hàn Quốc 6 1 0 5 2 17
 Kuwait 2 1 0 1 2 3
 Lào 11 10 1 0 47 3
 Liban 4 1 2 1 4 4
 Ma Cao 2 2 0 0 13 1
 Malaysia 20 12 3 5 26 19
 Maldives 2 1 0 1 4 3
 Mozambique 1 1 0 0 1 0
 Mông Cổ 2 2 0 0 5 0
 Myanmar 11 7 3 1 34 10
   Nepal 2 2 0 0 7 0
 Oman 2 0 0 2 0 8
 Palestine 1 0 0 1 1 3
 Philippines 12 9 1 2 26 11
 Qatar 6 2 1 3 5 14
 Ả Rập Xê Út 2 0 0 2 0 9
 Singapore 18 7 7 4 19 15
 Sri Lanka 4 1 3 0 7 6
 Syria 3 1 1 1 2 1
 Tajikistan 2 0 0 2 0 8
 Thái Lan 24 3 6 15 18 41
 Turkmenistan 6 1 0 5 4 12
 UAE 6 2 0 4 4 13
 Uzbekistan 2 0 0 2 1 6
 Yemen 2 1 0 0 11 0
 Zimbabwe 1 0 0 1 0 6
Tổng cộng 237 99 50 88 381 335

Các cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Các huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Từng hoặc đang tại vị Thời gian Trận Thắng Hòa Bại
Hàn Quốc Park Hang-seo 11 tháng 10 năm 2017[22]–nay 22 11 8 3
Việt Nam Mai Đức Chung (quyền) 27 tháng 8 năm 2017[23]–10 tháng 10 năm 2017[22] 2 2 0 0
Việt Nam Nguyễn Hữu Thắng Tháng 3, 2016[24]–Tháng 8, 2017[23] 15 8 5 2
Nhật Bản Miura Toshiya Tháng 5, 2014[25]–Tháng 3, 2016[24] 13 7 3 3
Việt Nam Hoàng Văn Phúc Tháng 1, 2013–Tháng 4, 2014[26] 3 1 0 2
Việt Nam Nguyễn Văn Sỹ (quyền) Tháng 10, 2013–Tháng 11, 2013 4 1 0 3
Việt Nam Phan Thanh Hùng Tháng 8, 2012[25]–Tháng 12, 2012 14 5 5 4
Đức Falko Götz Tháng 6, 2011–Tháng 12, 2011[25] 5 3 0 2
Việt Nam Mai Đức Chung (quyền) 2011[23]
Bồ Đào Nha Henrique Calisto Tháng 3, 2008[25]–Tháng 3, 2011 42 11 11 20
Áo Alfred Riedl 2005–Tháng 12, 2007[25] 23 8 8 7
Việt Nam Trần Văn Khánh (quyền) 2004[27] 1 1 0 0
Brasil Edson Tavares Tháng 3, 2004–Tháng 12, 2004 11 4 1 6
Việt Nam Nguyễn Thành Vinh (quyền) Tháng 1, 2004– Tháng 3, 2004 1 1 0 0
Áo Alfred Riedl Tháng 2, 2003–Tháng 10, 2003 7 3 0 4
Bồ Đào Nha Henrique Calisto Tháng 8, 2002–Tháng 12, 2002 10 5 3 2
Brasil Dido 2001 6 3 1 2
Áo Alfred Riedl Tháng 8, 1998 – 2000 31 16 6 9
Anh Colin Murphy Tháng 10, 1997 6 3 1 2
Việt Nam Lê Đình Chính (quyền) 1997[28] 1 0 0 1
Việt Nam Trần Duy Long 1997[28] 5 0 0 5
Đức Karl-Heinz Weigang 1995–Tháng 6, 1997
Brasil Edson Tavares 1995
Việt Nam Trần Duy Long (quyền) 1994 1 1 0 0
Việt Nam Trần Bình Sự 1993 11 2 0 9
Việt Nam Nguyễn Sỹ Hiển 1991[27] 3 0 1 2
Việt Nam Vũ Văn Tư 1991

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Đối thủ kình địch[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Lan thường được xem là đối thủ kình địch lớn nhất của Việt Nam[30]. Các trận đấu giữa hai đội luôn được ví như trận "siêu kinh điển" của bóng đá Đông Nam Á và rất được truyền thông hai nước cũng như cả khu vực quan tâm. Tính đến sau cuộc đối đầu giữa hai đội ngày 19 tháng 11 năm 2019 ở lượt trận thứ năm vòng loại thứ 2 của World Cup 2022, Việt Nam đã đối đầu với Thái Lan trong 24 trận ở cấp độ đội tuyển quốc gia, và chỉ có 3 chiến thắng, còn lại là 6 trận hòa và 15 trận thua.[31]

Indonesia[sửa | sửa mã nguồn]

Indonesia được xem là một đối thủ nhiều duyên nợ của bóng đá Việt Nam. Trong suốt giai đoạn 20 năm từ 1999-2019, Việt Nam chỉ hòa và thua khi đối đầu với Indonesia tại các giải đấu chính thức.[32] Chuỗi trận không thắng này bắt đầu kể từ sau trận thắng 1-0 trước Indonesia ngày 12 tháng 8 năm 1999 tại bán kết môn bóng đá của SEA Games 1999, và kéo dài 12 trận, với 7 trận hòa và 5 trận thua, và chấm dứt khi Việt Nam thắng 3-1 trên sân của Indonesia ngày 15 tháng 10 năm 2019 tại vòng loại thứ 2 của World Cup 2022. Trong giai đoạn này, Việt Nam chỉ có một lần thắng Indonesia 3-2 trong trận đấu giao hữu trên sân Mỹ Đình ngày 8 tháng 11 năm 2016.

Malaysia[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam áp đảo về thành tích đối đầu trước Malaysia với 12 trận thắng, 3 trận hòa và chỉ 5 lần thất bại trong 20 lần chạm trán với đối thủ này[33]. "Rồng Vàng" cũng đang duy trì mạch trận bất bại trước Malaysia kể từ năm 2014.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “AFF Cup 2018: Giải mã biệt danh các đội bóng Đông Nam Á”. goal.com. Ngày 12 tháng 10 năm 2018. 
  2. ^ “The FIFA/Coca-Cola World Ranking”. FIFA. 19 tháng 12 năm 2019. Truy cập 19 tháng 12 năm 2019. 
  3. ^ Elo rankings change compared to one year ago. “World Football Elo Ratings”. eloratings.net. 25 tháng 11 năm 2019. Truy cập 25 tháng 11 năm 2019. 
  4. ^ “Vietnam matches, ratings and points exchanged”. World Football Elo Ratings: Vietnam. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2016. 
  5. ^ “North Vietnam matches, ratings and points exchanged”. World Football Elo Ratings: Vietnam. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2016. 
  6. ^ Ralph Jennings (19 tháng 12 năm 2018). “Wild Post-Game Street Partying in Vietnam Reveals Surge in Patriotism”. Voice of America. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  7. ^ Tuan Hoang (26 tháng 1 năm 2018). “Vietnamese nationalism & the U23 Asian championship tournament”. Tuanny River. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  8. ^ Dương Trung Quốc. “Một Trăm năm bóng đá Việt Nam”. Vietnamnet. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  9. ^ “Quái chiêu Hà Nội: Tòng "cháy" & tuyệt chiêu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
  10. ^ “BĐVN sau đỉnh AFF Cup: Lối mòn hay lộ trình?”. Vietnamnet. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009. 
  11. ^ “Xung quanh sự cố "mất hộ chiếu" của Hồng Sơn: Lời thì thầm của con gấu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  12. ^ Đại nhảy vọt, Việt Nam vào top 100 BXH FIFA
  13. ^ https://vnexpress.net/the-thao/hlv-park-hang-seo-goi-8-cau-thu-ha-noi-len-tuyen-viet-nam-3821266.html
  14. ^ Fox Sports (2 tháng 12 năm 2017). “VFF thông qua Huy hiệu mới cho các Đội tuyển quốc gia Việt Nam”. foxsports.com.vn. Truy cập 9 tháng 4 năm 2019. 
  15. ^ “Huy hiệu không thay quốc kỳ trên áo đấu tuyển Việt Nam”. Thể thao Văn hoá. 2 tháng 12 năm 2017. 
  16. ^ “VFF không tự ý chốt huy hiệu hình rồng cho các đội tuyển bóng đá Việt Nam”. Tuổi Trẻ. 30 tháng 7 năm 2016. 
  17. ^ “Huy hiệu hình rồng cho các đội tuyển bóng đá Việt Nam bị ‘ném đá’”. Tuổi Trẻ. 29 tháng 7 năm 2016. 
  18. ^ “Honda Vietnam becomes main sponsor for National Team”. VFF. 4 tháng 2 năm 2013. Truy cập 4 tháng 2 năm 2013. 
  19. ^ “Từ tháng 1/2009, ĐTVN sẽ mặc áo đấu Nike”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009. 
  20. ^ “Đội tuyển Việt Nam có trang phục thi đấu mới”. Thanh Niên Online. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2014. 
  21. ^ “Thành tích đối đấu giữa các đội tuyển trên trang chủ của FIFA”. Truy cập 28 tháng 03 năm 2018. 
  22. ^ a ă “Park Hang-seo ra mắt trên cương vị HLV trưởng tuyển Việt Nam”. https://thethao.vnexpress.net. VNE. Truy cập 11 tháng 10 năm 2017. 
  23. ^ a ă â “HLV Mai Đức Chung lần thứ 3 “đóng thế””. SGGP. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2017. 
  24. ^ a ă “HLV Hữu Thắng: “Mourinho cũng bị sa thải, huống hồ tôi””. Báo Tuổi trẻ. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2016. 
  25. ^ a ă â b c Phúc Long (ngày 6 tháng 9 năm 2018). “10 HLV trước ông Park: Một người được gia hạn, 9 người bị sa thải”. zing.vn. 
  26. ^ Quỳnh Cao. “HLV Hoàng Văn Phúc chính thức rời ghế thuyền trưởng ĐTVN”. zing.vn. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014. 
  27. ^ a ă “Các đời HLV nội của tuyển Việt Nam”. ngoisao.net. Ngày 10 tháng 5 năm 2012. 
  28. ^ a ă “Vietnam sacked”. AFP. 31 tháng 10 năm 1997. 
  29. ^ a ă â b c với tư cách là Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa
  30. ^ Thống kê lịch sử đối đầu của Đội tuyển Việt Nam và Đội tuyển Thái Lan
  31. ^ Lịch sử đối đầu Việt Nam vs Thái Lan: Niềm tin từ King's Cup 2019
  32. ^ Đội tuyển Việt Nam chấm dứt 20 năm không thắng Indonesia
  33. ^ https://video.vnexpress.net/tin-tuc/sports-life/lich-su-doi-dau-giua-tuyen-viet-nam-va-malaysia-3994771.html

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]