Đại hội Thể thao Đông Nam Á

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
SEA Games Logo.png
Logo và cờ của Liên đoàn thể thao Đông Nam Á; Mười một vòng tròn tượng trưng cho mười một quốc gia ASEAN

Gọi tắt SEA Games
Đại hội lần đầu Từ ngày 10–15 tháng 1, năm 1960 tại Băng Cốc, Thái Lan
Chu kì tổ chức 2 năm
Đại hội lần cuối Từ ngày 21–31 tháng 7, năm 2015 tại Singapore
Website www.seagames2015.com

Đại hội Thể thao Đông Nam Á hay Đông Nam Á Vận Hội (tiếng Anh: SEA Games hay Southeast Asian Games), là một sự kiện thể thao tổ chức hai năm một lần với sự tham gia của các vận động viên từ 11 nước khu vực Đông Nam Á hiện nay. Những môn thể thao tổ chức trong đại hội do Liên đoàn thể thao Đông Nam Á điều hành với sự giám sát của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) và Hội đồng Olympic châu Á.

Các nước tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia / Định danh theo IOC Lần đầu tham dự IOC Ghi chú
 Brunei (Định danh IOC: Brunei Darussalam)
1977
BRU
 Campuchia
1959
CAM
 Đông Timor
2003
TLS
IOA 2000
 Indonesia
1977
INA
IHO 1952
FIFA-code IDN
 Lào (Định danh IOC: Lao People's Democratic Republic)
1959
LAO
 Malaysia
1959
MAS
 Myanmar
1959
MYA
BIR 1948–1992
 Philippines
1977
PHI
ISO PHL
 Singapore
1959
SIN
 Thái Lan
1959
THA
 Việt Nam¹ (Định danh IOC: Viet Nam)
1959
VIE

¹ − Sau khi Việt Nam Cộng hòa bị giải thể để sáp nhập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tạo thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì Ủy ban Olympic quốc tế đã tính cộng tất cả các thành tính của hai quốc gia trước đây cho thể thao nước Việt Nam thống nhất, thời điểm thể thao Việt Nam tham gia các hoạt động thể thao quốc tế cũng được tính theo mốc sớm nhất mà một trong hai quốc gia trước đó tham dự.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 5 năm 1958, các nước Đông Nam Á tham dự Đại hội Thể thao châu Á lần thứ III ở Tokyo, Nhật Bản, Phó Chủ tịch Ủy ban Olympic Thái Lan khi đó là Laung Sukhumnaipradit đã đề xuất và được các nước Đông Nam Á nhất trí thành lập một tổ chức thể thao của Đông Nam Á với tên gọi ban đầu là Liên đoàn Thể thao Bán đảo Đông Nam Á (The South East Asian Peninsular Games Federation hay SEAP Games Federation). Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á sẽ tổ chức hai năm một lần vào năm lẻ một đại hội thể thao khu vực nhằm mục đích:

  1. Tăng cường tình hữu nghị, tình đoàn kết và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong khu vực ASEAN.
  2. Nâng cao không ngừng thành tích, kỹ thuật, chiến thuật các môn thể thao cho vận động viên để có cơ sở tham gia Đại hội Thể thao châu ÁOlympic.

Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Lào, Việt Nam Cộng Hòa trước đây và Campuchia (Singapore thêm vào sau đó khi tách ra khỏi Malaysia để trở thành quốc gia độc lập vào ngày 9 tháng 5, 1965) là các nước sáng lập. Ủy ban Liên đoàn SEAP Games được thành lập vào tháng 6 năm 1959 tại Bangkok thủ đô Thái Lan. Các nước sáng lập đã thông qua điều lệ của Liên đoàn và bầu ra Ban chấp hành. Ông Prabhas Charustiara, Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc gia Thái Lan, được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á đầu tiên.

SEAP Games đầu tiên được tổ chức tại Bangkok từ 12-17 tháng 12, 1959 với hơn 527 vận động viên và quan chức thể thao đến từ Thái Lan, Miến Điện, Malaysia, Singapore, Việt Nam và Lào tham dự trong 12 môn thể thao.

Tại SEAP Games lần thứ 8 tổ chức vào năm 1975, Liên đoàn SEAP đã xem xét kết nạp thêm IndonesiaPhilippines. Hai nước này chính thức được kết nạp năm 1977, cùng năm đó Liên đoàn SEAP đổi tên thành Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á (South East Asian Games Federation, SEAGF), và sự kiện thể thao này cũng đổi tên theo thành Đại hội Thể thao Đông Nam Á. Brunei được kết nạp vào SEA Games thứ 10 tại Jakarta, Indonesia, và Đông Timor được kết nạp tại SEA Games thứ 22 tại Hà Nội, Việt Nam.

Tính đến thời điểm này, Thái LanMalaysia là hai quốc gia có số lần tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á nhiều nhất với sáu lần. Singapore, IndonesiaPhilippines xếp thứ hai với bốn lần tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á. Myanmar xếp thứ ba với ba lần tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á. Quốc gia có hai lần tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á là Việt Nam. Những quốc gia có một lần tổ chức bao gồm: Brunei, LàoCampuchia.

Các kì đại hội[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia chủ nhà của Đại hội Thể thao Đông Nam Á
Kỳ đại hội Năm diễn ra Quốc gia đăng cai Tuyên bố khai mạc Ngày diễn ra Số môn thể thao Số nội dung thi đấu Quốc gia tham dự Số lượng vận động viên Đoàn thể thao dẫn đầu Ghi chú
Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á
I 1959 Thái Lan Bangkok, Thái Lan Quốc vương Bhumibol Adulyadej 12–17 tháng 12 12 N/A 6 518  Thái Lan [1]
II 1961 Myanmar Yangon, Myanmar Tổng thống Win Maung 11–16 tháng 12 13 N/A 7 623  Myanmar [2]
III 1963 Ban đầu diễn ra ở Campuchia, tuy nhiên sau đó bị hủy bỏ do trong nước xảy ra chiến tranh
III 1965 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Ismail Nasiruddin 14–21 tháng 12 14 N/A 6 963  Thái Lan [3]
IV 1967 Thái Lan Bangkok, Thái Lan Quốc vương Bhumibol Adulyadej 9–6 tháng 12 16 N/A 6 984  Thái Lan [4]
V 1969 Myanmar Yangon, Myanmar Tổng thống Ne Win 6–13 tháng 12 15 N/A 6 920  Myanmar [5]
VI 1971 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Abdul Halim 6–13 tháng 12 15 N/A 7 957  Thái Lan [6]
VII 1973 Singapore Singapore Tổng thống Benjamin Sheares 1–8 September 16 N/A 7 1632  Thái Lan [7]
VIII 1975 Thái Lan Bangkok, Thái Lan Quốc vương Bhumibol Adulyadej 9–16 tháng 12 18 N/A 4 1142  Thái Lan [8]
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
IX 1977 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Yahya Petra 19–26 tháng 11 18 N/A 7 N/A  Indonesia [9]
X 1979 Indonesia Jakarta, Indonesia Tổng thống Suharto 21–30 tháng 9 18 N/A 7 N/A  Indonesia [10]
XI 1981 Philippines Manila, Philippines Tổng thống Ferdinand Marcos 6–15 tháng 12 18 N/A 7 ≈1800  Indonesia [11]
XII 1983 Singapore Singapore Tổng thống Devan Nair 28 tháng 5 – 6 tháng 6 18 N/A 8 N/A  Indonesia [12]
XIII 1985 Thái Lan Bangkok, Thái Lan Quốc vương Bhumibol Adulyadej 8–17 tháng 12 18 N/A 8 N/A  Thái Lan [13]
XIV 1987 Indonesia Jakarta, Indonesia Tổng thống Suharto 9–20 tháng 9 26 N/A 8 N/A  Indonesia [14]
XV 1989 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Azlan Shah 20–31 tháng 8 24 N/A 9 ≈2800  Indonesia [15]
XVI 1991 Philippines Manila, Philippines Tổng thống Corazon Aquino 24 tháng 11 – 3 tháng 12 28 N/A 9 N/A  Indonesia [16]
XVII 1993 Singapore Singapore Tổng thống Hoàng Kim Huy 12–20 tháng 6 29 N/A 9 ≈3000  Indonesia [17]
XVIII 1995 Thái Lan Chiang Mai, Thái Lan Thái tử Vajiralongkorn 9–17 tháng 12 28 N/A 10 3262  Thái Lan [18]
XIX 1997 Indonesia Jakarta, Indonesia Tổng thống Suharto 11–19 tháng 10 36 490 10 5179  Indonesia [19]
XX 1999 Brunei Bandar Seri Begawan, Brunei Quốc vương- Hassanal Bolkiah 7–15 tháng 8 21 490 10 ≈5000  Thái Lan [20]
XXI 2001 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Salahuddin 8–17 tháng 9 32 490 10 4165  Malaysia [21]
XXII 2003 Việt Nam Hà Nội & Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Thủ tướng Phan Văn Khải 5–13 tháng 12 33 N/A 11 ≈5000  Việt Nam [22]
XXIII 2005 Philippines Manila, Philippines Tổng thống Gloria Arroyo 27 tháng 11 – 5 tháng 12 40 393 11 5336  Philippines [23]
XXIV 2007 Thái Lan Nakhon Ratchasima, Thái Lan Thái tử Vajiralongkorn 6–15 tháng 12 43 436 11 5282  Thái Lan [24]
XXV 2009 Lào Viêng Chăn, Lào Chủ tịch Choummaly Sayasone 9–18 tháng 12 29 372 11 3100  Thái Lan [25]
XXVI 2011 Indonesia Jakarta & Palembang, Indonesia Tổng thống Susilo Bambang 11–22 tháng 11 44 545 11 ≈5000  Indonesia [26]
XXVII 2013 Myanmar Naypyidaw, Myanmar Phó Tổng thống Nyan Tun 11–22 tháng 12 37 460 11 4730  Thái Lan [27]
XXVIII 2015 Singapore Singapore Tổng thống Trần Khánh Viêm 5–16 tháng 6 36 402 11 4370  Thái Lan [28]
XXIX 2017 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Chưa diễn ra
XXX 2019 Philippines Thành phố Davao & Tubod, Philippines Chưa diễn ra
XXXI 2021 Việt Nam Hà Nội, Việt Nam Chưa diễn ra
XXXII 2023 Campuchia Phnôm Pênh, Campuchia Chưa diễn ra
XXXIII 2025 Thái Lan TBA, Thái Lan Chưa diễn ra

Huy chương qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2015.
Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á
Quốc gia Gold medal icon.svg Vàng Silver medal icon.svg Bạc Bronze medal icon.svg Đồng Tổng
 Thái Lan
374
254
261
889
 Singapore
204
229
221
654
 Myanmar
198
207
214
619
 Malaya
195
255
316
765
 Việt Nam Cộng hòa2
39
51
65
155
 Cộng hòa Khmer
27
36
41
104
 Lào
0
6
23
29
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
Quốc gia Gold medal icon.svg Vàng Silver medal icon.svg Bạc Bronze medal icon.svg Đồng Tổng
 Thái Lan
1715
1485
1465
4665
 Indonesia
1714
1558
1580
4852
 Philippines
894
1041
1295
3230
 Malaysia
910
868
1210
2988
 Singapore
624
661
986
2271
 Việt Nam
733
678
764
2175
 Myanmar
348
491
713
1552
 Lào
66
81
244
391
 Campuchia
20
52
141
213
 Brunei
11
41
132
184
 Đông Timor
3
5
18
26
Gộp chung
Quốc gia Gold medal icon.svg Vàng Silver medal icon.svg Bạc Bronze medal icon.svg Đồng Tổng
 Thái Lan
2089
1742
1727
5558
 Indonesia
1714
1558
1580
4852
 Malaysia1
1109
1120
1533
3762
 Philippines
894
1041
1295
3230
 Singapore
828
881
1189
2898
 Việt Nam4
772
729
829
2330
 Myanmar5
546
697
906
2149
 Lào
66
87
267
420
 Campuchia3
47
88
192
327
 Brunei
11
41
132
184
 Đông Timor
3
5
18
26
Ghi chú
  • 1 Tranh tài với tư cách Mã Lai tại Đại hội đầu tiên cho tới năm 1961.
  • 2 Cộng hòa Miền nam Việt Nam được giải thể vào ngày 2 tháng 7 năm 1976 và thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để trở thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay (gọi tắt là Việt Nam). Do đó với quốc gia này chỉ tính huy chương đến năm 1975. Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) không quy kí hiệu mã riêng cho các quốc gia này sau khi thống nhất với Bắc Việt Nam.
  • 3 Tranh tài với tư cách là Campuchia và Cộng hòa Khmer.
  • 4 Năm 1989, Việt Nam thống nhất tái gia nhập Đại hội với quốc kỳ và quốc hiệu mới. Huy chương của Việt Nam Cộng hòa đã được cộng vào đây. Xem bảng trên bên trái dành cho Việt Nam Cộng hòa.
  • 5 Tranh tài với tư cách Miến Điện cho tới năm 1985.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: