Đại hội Thể thao Đông Nam Á

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
SEA Games Logo.png
Logo và cờ của Liên đoàn thể thao Đông Nam Á; Mười một vòng tròn tượng trưng cho mười một quốc gia ASEAN

Gọi tắt SEA Games
Đại hội lần đầu Từ ngày 10–15 tháng 1, năm 1960 tại Băng Cốc, Thái Lan
Chu kì tổ chức 2 năm
Đại hội lần cuối Từ ngày 19–31 tháng 8, năm 2017 tại Malaysia
Website www.seagames2017.com

Đại hội Thể thao Đông Nam Á (tiếng Anh: SEA Games hay South East Asian Games), là một sự kiện thể thao tổ chức hai năm một lần vào giữa chu kỳ Đại hội Olympic và Đại hội Thể thao châu Á, với sự tham gia của các vận động viên từ 11 nước trong khu vực Đông Nam Á hiện nay. Những môn thể thao tổ chức trong đại hội do Liên đoàn thể thao Đông Nam Á điều hành với sự giám sát của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) và Hội đồng Olympic châu Á.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội Thể thao Đông Nam Á khi đó gọi là Đại hội Thể thao bán đảo Đông Nam Á (SEAP Games), được tổ chức ở Bangkok năm 1959. Đây là lần đầu tiên đại hội được tổ chức sau khi Liên đoàn Thể thao bán đảo Đông Nam Á (SEAP Games Federation) được thành lập vào năm 1958. Ngày 22 tháng 5 năm 1958, đại biểu đến từ các nước ở bán đảo Đông Nam Á tham dự Đại hội Thể thao châu Á 1958 tại Tokyo, Nhật Bản đã họp và thống nhất thành lập một Đại hội thể thao. Tên gọi SEAP Games khi đó được đặt bởi ông Luang Sukhum Nayaoradit, người mà sau đó làm Phó Chủ tịch Ủy ban Olympic Thái Lan. Lý do đề nghị đưa ra thành lập một đại hội thể thao khu vực sẽ giúp thúc đẩy sự hợp tác, sự hiểu biết và sự gắn kết các mối quan hệ giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Đại hội thể thao Bán Đảo Đông Nam Á (khi đó được gọi tắt là SEAP Games) lần đầu tiên được tổ chức từ ngày 12 đến 17 tháng 12 năm 1959 tại Bangkok, Thái Lan. Đại hội lần đầu chỉ có số thành viên tham dự tương đương số lượng của một đoàn thể thao của một nước ngày nay, 527 quan chức và vận động viên. Tham dự đại hội có 6 nước thành viên của Liên đoàn Thể thao bán đảo Đông Nam Á: Myanmar, Malaysia, Lào, Singapore, Thái Lan, miền Nam Việt Nam. Số lượng môn thi đấu cũng rất khiêm tốn, chỉ có 12 môn.

SEAP Games lần thứ hai ở Myanmar được tổ chức rất tưng bừng từ ngày 11 đến 16/12/1961. Số lượng người tham dự đại hội đã đông hơn lần đầu, 800 vận động viên thi đấu ở 13 môn thể thao.

Việc đăng cai tổ chức SEA Games được trao cho các nước thành viên theo thứ tự vần chữ cái, nên tới năm 1963, Campuchia đến lượt đăng cai. Tuy nhiên quốc gia này không đủ điều kiện để làm chủ nhà. Lào, nước tiếp theo trong danh sách, cũng khó khăn về tài chính nên SEAP Games 3 được trao cho Malaysia tổ chức vào năm 1965.

Sau khi Campuchia tiếp tục khước từ đăng cai SEAP Games 4 năm 1967, Bangkok đã lần thứ hai trở thành chủ nhà của đại hội. Lúc này, số môn thi đã được tăng lên 16.

Theo thứ tự, miền Nam Việt Nam phải là chủ nhà của SEAP Games kế tiếp, nhưng đã thoái thác vì những lý do nội bộ. Rangoon (Myanmar) đã tổ chức thành công SEAP Games 5 với 15 môn thi vào năm 1969.

SEAP Games 6 diễn ra tại Kuala Lumpur (Malaysia) vào năm 1971. Năm 1973, Singapore đăng cai SEAP Games 7 với sự tham gia của gần 1.000 quan chức và vận động viên.

Năm 1975, những biến động về chính trị ở bán đảo Đông Dương đã khiến cho SEAP Games 8, được tổ chức ở Thái Lan, chỉ hội tụ được 4 quốc gia thành viên. Trước tình hình này, Liên đoàn Thể thao bán đảo Đông Nam Á quyết định mở rộng thành phần bằng cách kết nạp thêm một số thành viên mới: Indonesia, Philippines và Brunei. Kể từ năm 1977, đại hội tổ chức tại Kuala Lumpur (Malaysia) được mang tên SEA Games lần thứ 9.

Với cơ sở vật chất dồi dào và lực lượng vận động viên hùng hậu, thành viên mới Indonesia nhanh chóng đảm nhận việc đăng cai tổ chức SEA Games 10 tại Jakarta từ 21 đến 30/9/1979. Tiếp đó, Philippines giữ vai trò chủ nhà SEA Games 11 vào năm 1981.

SEA Games 12 được tổ chức tại Singapore, từ 18/5 đến 6/6/1983, với nhiều kỷ lục mới trong đó có hai kỷ lục châu Á về chạy tiếp sức 4 x 100 m nam và bơi 800 m tự do nữ. SEA Games 13 trở lại Bangkok (Thái Lan).

Số lượng môn thi tăng vọt lên con số 28 tại SEA Games 14 ở Jakarta, Indonesia, và lượng người tham dự cũng đạt con số kỷ lục, so với các kỳ đại hội trước đó: 3.000 quan chức và vận động viên.

SEA Games 15 được tổ chức từ 20 đến 31/8/1989 tại Kuala Lumpur (Malaysia) với 9/10 quốc gia tham dự và được coi là Đại hội Thể thao Đông Nam Á lớn nhất cho tới thời điểm đó. Sự tham gia trở lại của Lào và Việt Nam sau 16 năm gián đoạn đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực. SEA Games 15 đồng thời cũng là một điển hình của sự thành công về mặt tài chính. Theo quy định, toàn bộ lợi nhuận và tài chính thu được từ việc tổ chức SEA Games thuộc về nước đăng cai đại hội. Ban tổ chức SEA Games 15, Malaysia, đã rút kinh nghiệm từ Olympic Los Angeles 1984 và thu lợi 4,5 triệu ringgit. Đây cũng là đại hội lần tiên có tổ chức rước đuốc.

Philippines là chủ nhà của SEA Games 16, diễn ra từ 24/11 đến 5/12/1991, với số lượng người tham dự là 4.037 và số môn thi đấu là 28.

Với cơ sở hạ tầng hàng đầu châu Á và trình độ tổ chức tuyệt vời, Singapore đã đăng cai SEA Games 17 rất thành công với những con số kỷ lục: 29 môn thể thao, 4.511 người tham dự, hơn 2.000 phóng viên báo chí theo dõi và đưa tin. Sự hiện đại hoá các địa điểm thi đấu, mạng lưới thông tin liên lạc hoàn hảo, lễ khai mạc, bế mạc độc đáo và đầy ấn tượng đã nâng cao uy tín của quốc đảo này trong lịch sử tổ chức SEA Games.

Lần đầu tiên SEA Games không được tổ chức tại thành phố thủ đô của nước đăng cai là SEA Games 18. Đại hội đã diễn ra ở Chiang Mai, một thành phố có 700 tuổi đời ở phía Bắc Thái Lan. Đây cũng là lần đầu tiên cả 10 quốc gia ASEAN cùng tham dự với 4.306 quan chức và vận động viên tham dự 28 môn thi đấu.

SEA Games 19 diễn ra tại Indonesia với sự tham dự của cả 10 quốc gia Đông Nam Á, 34 môn thể thao và 440 bộ huy chương. Nước chủ nhà dẫn đầu chung cuộc với 194 huy chương vàng.

SEA Games 20, đại hội thể thao khu vực cuối cùng của thế kỷ 20 được tổ chức tại Brunei, quốc gia nhỏ nhất Đông Nam Á, nên quy mô của nó cũng nhỏ hơn nhiều so với các kỳ đại hội trước, chỉ có 2.336 vận động viên với 21 môn thi.

Các nước tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia / Định danh theo IOC Lần đầu tham dự IOC Ghi chú
 Brunei (Định danh IOC: Brunei Darussalam)
1977
BRU
 Campuchia
1959
CAM
 Đông Timor
2003
TLS
IOA 2000
 Indonesia
1977
INA
IHO 1952
FIFA-code IDN
 Lào (Định danh IOC: Lao People's Democratic Republic)
1959
LAO
 Malaysia
1959
MAS
 Myanmar
1959
MYA
BIR 1948–1992
 Philippines
1977
PHI
ISO PHL
 Singapore
1959
SIN
Cờ Thái Lan Thái Lan
1959
THA
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam¹ (Định danh IOC: Viet Nam)
1959
VIE

¹ − Sau khi Việt Nam Cộng hòa bị giải thể để sáp nhập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tạo thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì Ủy ban Olympic quốc tế đã tính cộng tất cả các thành tính của hai quốc gia trước đây cho thể thao nước Việt Nam thống nhất, thời điểm thể thao Việt Nam tham gia các hoạt động thể thao quốc tế cũng được tính theo mốc sớm nhất mà một trong hai quốc gia trước đó tham dự.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 5 năm 1958, các nước Đông Nam Á tham dự Đại hội Thể thao châu Á lần thứ III ở Tokyo, Nhật Bản, Phó Chủ tịch Ủy ban Olympic Thái Lan khi đó là Laung Sukhumnaipradit đã đề xuất và được các nước Đông Nam Á nhất trí thành lập một tổ chức thể thao của Đông Nam Á với tên gọi ban đầu là Liên đoàn Thể thao Bán đảo Đông Nam Á (The South East Asian Peninsular Games Federation hay SEAP Games Federation). Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á sẽ tổ chức hai năm một lần vào năm lẻ một đại hội thể thao khu vực nhằm mục đích:

  1. Tăng cường tình hữu nghị, tình đoàn kết và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong khu vực ASEAN.
  2. Nâng cao không ngừng thành tích, kỹ thuật, chiến thuật các môn thể thao cho vận động viên để có cơ sở tham gia Đại hội Thể thao châu ÁOlympic.

Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Lào, Việt Nam Cộng Hòa trước đây và Campuchia (Singapore thêm vào sau đó khi tách ra khỏi Malaysia để trở thành quốc gia độc lập vào ngày 9 tháng 5, 1965) là các nước sáng lập. Ủy ban Liên đoàn SEAP Games được thành lập vào tháng 6 năm 1959 tại Bangkok thủ đô Thái Lan. Các nước sáng lập đã thông qua điều lệ của Liên đoàn và bầu ra Ban chấp hành. Ông Prabhas Charustiara, Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc gia Thái Lan, được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á đầu tiên.

SEAP Games đầu tiên được tổ chức tại Bangkok từ 12-17 tháng 12, 1959 với hơn 527 vận động viên và quan chức thể thao đến từ Thái Lan, Miến Điện, Malaysia, Singapore, Việt Nam và Lào tham dự trong 12 môn thể thao.

Tại SEAP Games lần thứ 8 tổ chức vào năm 1975, Liên đoàn SEAP đã xem xét kết nạp thêm IndonesiaPhilippines. Hai nước này chính thức được kết nạp năm 1977, cùng năm đó Liên đoàn SEAP đổi tên thành Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á (South East Asian Games Federation, SEAGF), và sự kiện thể thao này cũng đổi tên theo thành Đại hội Thể thao Đông Nam Á. Brunei được kết nạp vào SEA Games thứ 10 tại Jakarta, Indonesia, và Đông Timor được kết nạp tại SEA Games thứ 22 tại Hà Nội, Việt Nam.

Tính đến thời điểm này, Thái LanMalaysia là hai quốc gia có số lần tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á nhiều nhất với sáu lần. Singapore, IndonesiaPhilippines xếp thứ hai với bốn lần tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á. Myanmar xếp thứ ba với ba lần tổ chức Đại hội Thể thao Đông Nam Á. Những quốc gia có một lần tổ chức bao gồm: Việt Nam, Brunei, LàoCampuchia.

Các kì đại hội[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội Thể thao Đông Nam Á trên bản đồ Đông Nam Á
1, 4, 8, 13
1, 4, 8, 13
2, 5
2, 5
3, 6, 9, 15, 21, 29
3, 6, 9, 15, 21, 29
7, 12, 17, 28
7, 12, 17, 28
10, 14, 19, 26
10, 14, 19, 26
11, 16, 23, 30
11, 16, 23, 30
18
20
22, 31
22
24
25
26
27
32
Các quốc gia chủ nhà của Đại hội Thể thao Đông Nam Á
Kỳ đại hội Năm diễn ra Quốc gia đăng cai Tuyên bố khai mạc Ngày diễn ra Số môn thể thao Số nội dung thi đấu Quốc gia tham dự Số lượng vận động viên Đoàn thể thao dẫn đầu Ghi chú
Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á
I 1959 Thái Lan Bangkok, Thái Lan Quốc vương Bhumibol Adulyadej 12–17 tháng 12 12 N/A 6 518  Thái Lan (Lần đầu tiên) [1]
II 1961 Myanmar Yangon, Myanmar Tổng thống Win Maung 11–16 tháng 12 13 N/A 7 623  Myanmar (Lần đầu tiên) [2]
III 1963 Ban đầu diễn ra ở Campuchia, tuy nhiên sau đó bị hủy bỏ do trong nước xảy ra chiến tranh
III 1965 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Ismail Nasiruddin 14–21 tháng 12 14 N/A 6 963  Thái Lan (Lần thứ hai) [3]
IV 1967 Thái Lan Bangkok, Thái Lan Quốc vương Bhumibol Adulyadej 9–6 tháng 12 16 N/A 6 984  Thái Lan (Lần thứ ba) [4]
V 1969 Myanmar Yangon, Myanmar Tổng thống Ne Win 6–13 tháng 12 15 N/A 6 920  Myanmar (Lần thứ hai) [5]
VI 1971 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Abdul Halim 6–13 tháng 12 15 N/A 7 957  Thái Lan (Lần thứ tư) [6]
VII 1973 Singapore Singapore Tổng thống Benjamin Sheares 1–8 September 16 N/A 7 1632  Thái Lan (Lần thứ năm) [7]
VIII 1975 Thái Lan Bangkok, Thái Lan Quốc vương Bhumibol Adulyadej 9–16 tháng 12 18 N/A 4 1142  Thái Lan (Lần thứ sáu) [8]
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
IX 1977 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Yahya Petra 19–26 tháng 11 18 N/A 7 N/A  Indonesia (Lần đầu tiên) [9]
X 1979 Indonesia Jakarta, Indonesia Tổng thống Suharto 21–30 tháng 9 18 N/A 7 N/A  Indonesia (Lần thứ hai) [10]
XI 1981 Philippines Manila, Philippines Tổng thống Ferdinand Marcos 6–15 tháng 12 18 N/A 7 ≈1800  Indonesia (Lần thứ ba) [11]
XII 1983 Singapore Singapore Tổng thống Devan Nair 28 tháng 5 – 6 tháng 6 18 N/A 8 N/A  Indonesia (Lần thứ tư) [12]
XIII 1985 Thái Lan Bangkok, Thái Lan Quốc vương Bhumibol Adulyadej 8–17 tháng 12 18 N/A 8 N/A  Thái Lan (Lần thứ bảy) [13]
XIV 1987 Indonesia Jakarta, Indonesia Tổng thống Suharto 9–20 tháng 9 26 N/A 8 N/A  Indonesia (Lần thứ năm) [14]
XV 1989 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Azlan Shah 20–31 tháng 8 24 N/A 9 ≈2800  Indonesia (Lần thứ sáu) [15]
XVI 1991 Philippines Manila, Philippines Tổng thống Corazon Aquino 24 tháng 11 – 3 tháng 12 28 N/A 9 N/A  Indonesia (Lần thứ bảy) [16]
XVII 1993 Singapore Singapore Tổng thống Hoàng Kim Huy 12–20 tháng 6 29 N/A 9 ≈3000  Indonesia (Lần thứ tám) [17]
XVIII 1995 Thái Lan Chiang Mai, Thái Lan Thái tử Vajiralongkorn 9–17 tháng 12 28 N/A 10 3262  Thái Lan (Lần thứ tám) [18]
XIX 1997 Indonesia Jakarta, Indonesia Tổng thống Suharto 11–19 tháng 10 36 490 10 5179  Indonesia (Lần thứ chín) [19]
XX 1999 Brunei Bandar Seri Begawan, Brunei Quốc vương- Hassanal Bolkiah 7–15 tháng 8 21 490 10 ≈5000  Thái Lan (Lần thứ chín) [20]
XXI 2001 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Salahuddin 8–17 tháng 9 32 490 10 4165  Malaysia (Lần đầu tiên) [21]
XXII 2003 Việt Nam Hà Nội & Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Thủ tướng Phan Văn Khải 5–13 tháng 12 33 N/A 11 ≈5000  Việt Nam (Lần đầu tiên) [22]
XXIII 2005 Philippines Manila, Philippines Tổng thống Gloria Arroyo 27 tháng 11 – 5 tháng 12 40 393 11 5336  Philippines (Lần đầu tiên) [23]
XXIV 2007 Thái Lan Nakhon Ratchasima, Thái Lan Thái tử Vajiralongkorn 6–15 tháng 12 43 436 11 5282  Thái Lan (Lần thứ mười) [24]
XXV 2009 Lào Viêng Chăn, Lào Chủ tịch Choummaly Sayasone 9–18 tháng 12 29 372 11 3100  Thái Lan (Lần thứ mười một) [25]
XXVI 2011 Indonesia Jakarta & Palembang, Indonesia Tổng thống Susilo Bambang 11–22 tháng 11 44 545 11 ≈5000  Indonesia (Lần thứ mười) [26]
XXVII 2013 Myanmar Naypyidaw, Myanmar Phó Tổng thống Nyan Tun 11–22 tháng 12 37 460 11 4730  Thái Lan (Lần thứ mười hai) [27]
XXVIII 2015 Singapore Singapore Tổng thống Trần Khánh Viêm 5–16 tháng 6 36 402 11 4370  Thái Lan (Lần thứ mười ba) [28]
XXIX 2017 Malaysia Kuala Lumpur, Malaysia Quốc vương Muhammad V 19–31 tháng 8 38 404 11 4646  Malaysia (Lần thứ hai) [29]
XXX 2019 Philippines Manila, Philippines Tổng thống Rodrigo Duterte Chưa diễn ra
XXXI 2021 Việt Nam Hà Nội, Việt Nam Chưa diễn ra
XXXII 2023 Campuchia Phnôm Pênh, Campuchia Chưa diễn ra
XXXIII 2025 Thái Lan TBA, Thái Lan Chưa diễn ra
XXXIV 2027 TBA Chưa diễn ra

Huy chương qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2017.
Gộp chung
Quốc gia Gold medal icon.svg Vàng Silver medal icon.svg Bạc Bronze medal icon.svg Đồng Tổng
 Thái Lan
2149
1814
1802
5765
 Indonesia
1714
1558
1580
4852
 Malaysia1
1109
1120
1533
3762
 Philippines
894
1041
1295
3230
 Singapore
828
881
1189
2898
 Việt Nam4
782
729
829
2340
 Myanmar5
546
697
906
2149
 Lào
66
87
267
420
 Campuchia3
47
88
192
327
 Brunei
11
41
132
184
 Đông Timor
3
5
18
26
Ghi chú
  • 1 Tranh tài với tư cách Mã Lai tại Đại hội đầu tiên cho tới năm 1961.
  • 2 Cộng hòa Miền nam Việt Nam được giải thể vào ngày 2 tháng 7 năm 1976 và thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để trở thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay (gọi tắt là Việt Nam). Do đó với quốc gia này chỉ tính huy chương đến năm 1975. Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) không quy ký hiệu mã riêng cho các quốc gia này sau khi thống nhất với Bắc Việt Nam.
  • 3 Tranh tài với tư cách là Campuchia và Cộng hòa Khmer.
  • 4 Năm 1989, Việt Nam thống nhất tái gia nhập Đại hội với quốc kỳ và quốc hiệu mới. Huy chương của Việt Nam Cộng hòa đã được cộng vào đây. Xem bảng trên bên trái dành cho Việt Nam Cộng hòa.
  • 5 Tranh tài với tư cách Miến Điện cho tới năm 1985.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: