Đại hội Thể thao Đông Nam Á

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cờ của Liên đoàn Đông Nam Á Vận Hội

Đại hội Thể thao Đông Nam Á hay Đông Nam Á Vận Hội (tiếng Anh: SEA Games hay Southeast Asian Games), là một sự kiện thể thao tổ chức hai năm một lần với sự tham gia của các vận động viên từ 11 nước khu vực Đông Nam Á hiện nay. Những môn thể thao tổ chức trong đại hội do Liên đoàn thể thao Đông Nam Á điều hành với sự giám sát của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) và Hội đồng Olympic châu Á.

Các nước tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Nước / Tên gọi theo IOC Tham gia lần đầu Ghi chú
BRU Brunei Brunei
Tên gọi theo IOC: Brunei Darussalam
1988 ISO BRN
CAM Campuchia Campuchia
Tên gọi theo IOC: Cambodia
2001 Mã ISO KHM
TLS Đông Timor Đông Timor
Tên gọi theo IOC: Timor-Leste
2003 IOA 2000
INA Indonesia Indonesia 1956 IHO 1952,2011
Mã ISO và FIFA IDN
LAO Lào Lào
Tên gọi theo IOC: Lao People's Democratic Republic
2009
MAS Malaysia Malaysia 1956 Mã ISO MYS
MYA Myanma Myanma 1996 BIR 1948-1992
Mã ISO MMR
PHI Philippines Philippines 2005 Mã ISO PHL
SIN Singapore Singapore 1968 Mã ISO SGP
THA Thái Lan Thái Lan
Tên gọi theo IOC: Thailand
1952, 2007
VIE Việt Nam Việt Nam
Tên gọi theo IOC: Viet Nam
1977 Mã ISO VNM

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 5 năm 1958, các nước Đông Nam Á tham dự Đại hội Thể thao châu Á lần thứ III ở Tokyo, Nhật Bản, Phó Chủ tịch Ủy ban Olympic Thái Lan khi đó là Laung Sukhumnaipradit đã đề xuất và được các nước Đông Nam Á nhất trí thành lập một tổ chức thể thao của Đông Nam Á với tên gọi ban đầu là Liên đoàn Thể thao Bán đảo Đông Nam Á (The South East Asian Peninsular Games Federation hay SEAP Games Federation). Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á sẽ tổ chức hai năm một lần vào năm lẻ một đại hội thể thao khu vực nhằm mục đích:

  1. tăng cường tình hữu nghị, tình đoàn kết và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong khu vực ASEAN.
  2. nâng cao không ngừng thành tích, kỹ thuật, chiến thuật các môn thể thao cho vận động viên để có cơ sở tham gia Đại hội Thể thao Á châuOlympic.

Thái Lan, Myanma, Malaysia, Lào, Việt Nam Cộng Hòa trước đây và Campuchia (Singapore thêm vào sau đó khi tách ra khỏi Malaysia để trở thành quốc gia độc lập vào ngày 9 tháng 5, 1965) là các nước sáng lập. Ủy ban Liên đoàn SEAP Games được thành lập vào tháng 6 năm 1959 tại Bangkok thủ đô Thái Lan. Các nước sáng lập đã thông qua điều lệ của Liên đoàn và bầu ra Ban chấp hành. Ông Parahát Saruxatiara, Chủ tịch Uỷ ban Olympic Thái Lan, được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á đầu tiên.

SEAP Games đầu tiên được tổ chức tại Bangkok từ 12-17 tháng 12, 1959 với hơn 527 vận động viên và quan chức thể thao đến từ Thái Lan, Miến Điện, Malaysia, Singapore, Việt Nam và Lào tham dự trong 12 môn thể thao.

Tại SEAP Games lần thứ 8 tổ chức vào năm 1975, Liên đoàn SEAP đã xem xét kết nạp thêm IndonesiaPhilippines. Hai nước này chính thức được kết nạp năm 1977, cùng năm đó Liên đoàn SEAP đổi tên thành Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á (South East Asian Games Federation, SEAGF), và sự kiện thể thao này cũng đổi tên theo thành Đại hội Thể thao Đông Nam Á. Brunei được kết nạp vào SEA Games thứ 10 tại Jakarta, Indonesia, và Đông Timor được kết nạp tại SEA Games thứ 22 tại Hà Nội, Việt Nam.

Các kì đại hội[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chủ nhà Thành phố chủ nhà 1st 2nd 3rd
Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á
1959 I Thái Lan Bangkok  Thái Lan (35)  Burma (11)  Malaya (8)
1961 II Myanma Rangoon  Burma (35)  Thái Lan (21)  Malaya (16)
1963 III* Campuchia Phnôm Pênh Hủy bỏ
1965 III Malaysia Kuala Lumpur  Thái Lan (38)  Malaysia (33)  Singapore (18)
1967 IV Thái Lan Bangkok  Thái Lan (77)  Singapore (28)  Malaysia (23)
1969 V Myanma Rangoon  Burma (57)  Thái Lan (32)  Singapore (31)
1971 VI Malaysia Kuala Lumpur  Thái Lan (44)  Malaysia (41)  Singapore (32)
1973 VII  Singapore  Thái Lan (47)  Singapore (45)  Malaysia (30)
1975 VIII Thái Lan Bangkok  Thái Lan (80)  Singapore (38)  Burma (28)
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
19771 IX Malaysia Kuala Lumpur  Indonesia (62)  Thái Lan (37)  Philippines (31)
1979 X Indonesia Jakarta  Indonesia (92)  Thái Lan (50)  Burma (26)
1981 XI Philippines Manila  Indonesia (85)  Thái Lan (62)  Philippines (55)
1983 XII  Singapore  Indonesia (64)  Philippines (49)  Thái Lan (49)
1985 XIII Thái Lan Bangkok  Thái Lan (92)  Indonesia (62)  Philippines (43)
1987 XIV Indonesia Jakarta  Indonesia (183)  Thái Lan (63)  Philippines (59)
1989 XV Malaysia Kuala Lumpur  Indonesia (102)  Malaysia (67)  Thái Lan (62)
1991 XVI Philippines Manila  Indonesia (92)  Philippines (90)  Thái Lan (72)
1993 XVII  Singapore  Indonesia (88)  Thái Lan (63)  Philippines (57)
1995 XVIII Thái Lan Chiang Mai2  Thái Lan (157)  Indonesia (77)  Philippines (33)
1997 XIX Indonesia Jakarta  Indonesia (194)  Thái Lan (83)  Malaysia (55)
1999 XX Brunei Bandar Seri Begawan  Thái Lan (65)  Malaysia (57)  Indonesia (44)
2001 XXI Malaysia Kuala Lumpur  Malaysia (111)  Thái Lan (103)  Indonesia (72)
2003 XXII Việt Nam Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh3  Việt Nam (158)  Thái Lan (90)  Indonesia (55)
2005 XXIII Philippines Manila4  Philippines (113)  Thái Lan (87)  Việt Nam (71)
2007 XXIV Thái Lan Nakhon Ratchasima5  Thái Lan (183)  Malaysia (68)  Việt Nam (64)
2009 XXV Lào Viêng Chăn  Thái Lan (86)  Việt Nam (83)  Indonesia (43)
2011 XXVI Indonesia PalembangJakarta6  Indonesia (182)  Thái Lan (109)  Việt Nam (96)
2013 XXVII Myanma Naypyidaw  Thái Lan (107)  Myanmar (86)  Việt Nam (73)
2015 XXVIII  Singapore
2017 XXIX Malaysia Kuala LumpurKuching7[1]
2019 XXX Brunei Bandar Seri Begawan[2]
2021 XXXI Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh[3]
2023 XXXII Campuchia Phnôm Pênh[4]
2025 XXXIII Philippines Bocaue[5]

Huy chương qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2013.
Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á
Quốc gia Gold medal icon.svg Vàng Silver medal icon.svg Bạc Bronze medal icon.svg Đồng Tổng
 Thái Lan
374
254
261
889
 Singapore
204
229
221
654
 Myanmar
198
207
214
619
 Malaya
195
255
316
765
 Việt Nam Cộng hòa2
39
51
65
155
 Cộng hòa Khmer
27
36
41
104
 Lào
0
6
23
29
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
Quốc gia Gold medal icon.svg Vàng Silver medal icon.svg Bạc Bronze medal icon.svg Đồng Tổng
 Indonesia
1667
1497
1507
4670
 Thái Lan
1620
1412
1396
4428
 Philippines
865
1005
1229
3099
 Malaysia
848
810
1144
2802
 Việt Nam
659
626
704
1989
 Singapore
542
588
886
2016
 Myanmar
335
472
664
1471
 Lào
66
77
219
362
 Campuchia
19
37
132
188
 Brunei
11
39
126
176
 Đông Timor
3
4
17
24
Gộp chung
Quốc gia Gold medal icon.svg Vàng Silver medal icon.svg Bạc Bronze medal icon.svg Đồng Tổng
 Thái Lan
1994
1656
1657
5307
 Indonesia
1667
1497
1506
4670
 Malaysia1
1043
1065
1460
3567
 Philippines
865
1005
1229
3099
 Singapore
746
817
1107
2670
 Việt Nam4
698
677
769
2144
 Myanmar5
533
679
879
2091
 Lào
66
81
238
385
 Campuchia3
46
83
173
302
 Brunei
11
39
126
176
 Đông Timor
3
4
17
24
Ghi chú
  • 1 Tranh tài với tư cách Mã Lai tại Đại hội đầu tiên cho tới năm 1961.
  • 2 Cộng hòa Miền nam Việt Nam được giải thể vào ngày 2 tháng 7 năm 1976 và thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để trở thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay (gọi tắt là Việt Nam). Do đó với quốc gia này chỉ tính huy chương đến năm 1975. Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) không quy kí hiệu mã riêng cho các quốc gia này sau khi thống nhất với Bắc Việt Nam.
  • 3 Tranh tài với tư cách là Campuchia và Cộng hòa Khmer.
  • 4 Năm 1989, Việt Nam thống nhất tái gia nhập Đại hội với quốc kỳ và quốc hiệu mới. Huy chương của Việt Nam Cộng hòa đã được cộng vào đây. Xem bảng trên bên trái dành cho Việt Nam Cộng hòa.
  • 5 Tranh tài với tư cách Miến Điện cho tới năm 1985.

Sự kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Xem danh sách các sự kiện thể thao tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1959, Bangkok (Thái Lan)
  2. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1961, Rangoon (Miến Điện)
  3. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1965, Kuala Lumpur (Malaysia)
  4. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1967, Bangkok (Thái Lan)
  5. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1969, Rangoon (Miến Điện)
  6. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1971, Kuala Lumpur (Malaysia)
  7. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1973, Singapore
  8. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1975, Bangkok (Thái Lan)
  9. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1977, Kuala Lumpur (Malaysia)
  10. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1979, Jakarta (Indonesia)
  11. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1981, Manila (Philippines)
  12. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1983, Singapore
  13. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1985, Bangkok (Thái Lan)
  14. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1987, Jakarta (Indonesia)
  15. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1989, Kuala Lumpur (Malaysia)
  16. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1991, Manila (Philippines)
  17. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1993, Singapore
  18. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1995, Chiang Mai (Thái Lan)
  19. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1997, Jakarta (Indonesia)
  20. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1999, Bandar Seri Begawan (Brunei)
  21. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2001, Kuala Lumpur (Malaysia)
  22. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003, Hà Nội (Việt Nam)
  23. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005, Manila, Cebu, BacolodVịnh Subic (Philippines)
  24. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2007, Nakhon Ratchasima (Thái Lan)
  25. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2009, Viêng Chăn (Lào)
  26. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2011, Palembang (Indonesia)
  27. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2013, Naypyidaw (Myanma)
  28. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2015, Singapore (Singapore)
  29. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2017, Kuala LumpurKuching (Malaysia)
  30. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2019, Bandar Seri Begawan (Brunei)
  31. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2021, Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam)
  32. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2023, Phnom Penh (Campuchia)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Malaysia to host 2017 SEA Games”. The Star online. 18 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2012. 
  2. ^ Jason Thomas (18 tháng 7 năm 2012). “SEA GAMES 'Brunei to host 2019 Games'”. Brunei Times. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2012. 
  3. ^ “SEA Games 2021 tổ chức tại TP.HCM”. Today Sport. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  4. ^ “Cambodia's Olympic committee gets new headquarters building”. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013. 
  5. ^ http://www.spin.ph/sports/psc-poc/news/philippines-should-begin-work-on-new-stadium-for-2025-and-beyond-says-poc-official-

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt:

Tiếng Anh: