Đại hội Thể thao Đông Nam Á

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
SEA Games Logo.png
Logo và cờ của Liên đoàn thể thao Đông Nam Á; Mười một vòng tròn tượng trưng cho mười một quốc gia ASEAN

Gọi tắt SEA Games
Đại hội lần đầu Từ ngày 12–17 tháng 12, năm 1959 tại Băng Cốc, Thái Lan
Chu kì tổ chức 2 năm
Đại hội lần cuối Từ ngày 5–16 tháng 6, năm 2015 tại Singapore
Website www.seagames2015.com

Đại hội Thể thao Đông Nam Á hay Đông Nam Á Vận Hội (tiếng Anh: SEA Games hay Southeast Asian Games), là một sự kiện thể thao tổ chức hai năm một lần với sự tham gia của các vận động viên từ 11 nước khu vực Đông Nam Á hiện nay. Những môn thể thao tổ chức trong đại hội do Liên đoàn thể thao Đông Nam Á điều hành với sự giám sát của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) và Hội đồng Olympic châu Á.

Các nước tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia / Định danh theo IOC Lần đầu tham dự IOC Ghi chú
 Brunei (Định danh IOC: Brunei Darussalam)
1977
BRU
 Campuchia
1959
CAM
 Đông Timor
2003
TLS
IOA 2000
 Indonesia
1977
INA
IHO 1952
FIFA-code IDN
 Lào (Định danh IOC: Lao People's Democratic Republic)
1959
LAO
 Malaysia
1959
MAS
 Myanmar
1959
MYA
BIR 1948–1992
 Philippines
1977
PHI
ISO PHL
 Singapore
1959
SIN
 Thái Lan
1959
THA
 Việt Nam¹ (Định danh IOC: Viet Nam)
1959
VIE

¹ − Sau khi Việt Nam Cộng hòa bị giải thể để sáp nhập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tạo thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì Ủy ban Olympic quốc tế đã tính cộng tất cả các thành tính của hai quốc gia trước đây cho thể thao nước Việt Nam thống nhất, thời điểm thể thao Việt Nam tham gia các hoạt động thể thao quốc tế cũng được tính theo mốc sớm nhất mà một trong hai quốc gia trước đó tham dự.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 5 năm 1958, các nước Đông Nam Á tham dự Đại hội Thể thao châu Á lần thứ III ở Tokyo, Nhật Bản, Phó Chủ tịch Ủy ban Olympic Thái Lan khi đó là Laung Sukhumnaipradit đã đề xuất và được các nước Đông Nam Á nhất trí thành lập một tổ chức thể thao của Đông Nam Á với tên gọi ban đầu là Liên đoàn Thể thao Bán đảo Đông Nam Á (The South East Asian Peninsular Games Federation hay SEAP Games Federation). Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á sẽ tổ chức hai năm một lần vào năm lẻ một đại hội thể thao khu vực nhằm mục đích:

  1. Tăng cường tình hữu nghị, tình đoàn kết và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong khu vực ASEAN.
  2. Nâng cao không ngừng thành tích, kỹ thuật, chiến thuật các môn thể thao cho vận động viên để có cơ sở tham gia Đại hội Thể thao châu ÁOlympic.

Thái Lan, Myanma, Malaysia, Lào, Việt Nam Cộng Hòa trước đây và Campuchia (Singapore thêm vào sau đó khi tách ra khỏi Malaysia để trở thành quốc gia độc lập vào ngày 9 tháng 5, 1965) là các nước sáng lập. Ủy ban Liên đoàn SEAP Games được thành lập vào tháng 6 năm 1959 tại Bangkok thủ đô Thái Lan. Các nước sáng lập đã thông qua điều lệ của Liên đoàn và bầu ra Ban chấp hành. Ông Parahát Saruxatiara, Chủ tịch Uỷ ban Olympic Thái Lan, được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á đầu tiên.

SEAP Games đầu tiên được tổ chức tại Bangkok từ 12-17 tháng 12, 1959 với hơn 527 vận động viên và quan chức thể thao đến từ Thái Lan, Miến Điện, Malaysia, Singapore, Việt Nam và Lào tham dự trong 12 môn thể thao.

Tại SEAP Games lần thứ 8 tổ chức vào năm 1975, Liên đoàn SEAP đã xem xét kết nạp thêm IndonesiaPhilippines. Hai nước này chính thức được kết nạp năm 1977, cùng năm đó Liên đoàn SEAP đổi tên thành Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á (South East Asian Games Federation, SEAGF), và sự kiện thể thao này cũng đổi tên theo thành Đại hội Thể thao Đông Nam Á. Brunei được kết nạp vào SEA Games thứ 10 tại Jakarta, Indonesia, và Đông Timor được kết nạp tại SEA Games thứ 22 tại Hà Nội, Việt Nam.

Các kì đại hội[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chủ nhà Thành phố chủ nhà 1st 2nd 3rd
Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á
1959 I Thái Lan Bangkok  Thái Lan (35)  Burma (11)  Malaya (8)
1961 II Myanma Rangoon  Burma (35)  Thái Lan (21)  Malaya (16)
1963 III* Campuchia Phnôm Pênh Hủy bỏ
1965 III Malaysia Kuala Lumpur  Thái Lan (38)  Malaysia (33)  Singapore (18)
1967 IV Thái Lan Bangkok  Thái Lan (77)  Singapore (28)  Malaysia (23)
1969 V Myanma Rangoon  Burma (57)  Thái Lan (32)  Singapore (31)
1971 VI Malaysia Kuala Lumpur  Thái Lan (44)  Malaysia (41)  Singapore (32)
1973 VII  Singapore  Thái Lan (47)  Singapore (45)  Malaysia (30)
1975 VIII Thái Lan Bangkok  Thái Lan (80)  Singapore (38)  Burma (28)
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
19771 IX Malaysia Kuala Lumpur  Indonesia (62)  Thái Lan (37)  Philippines (31)
1979 X Indonesia Jakarta  Indonesia (92)  Thái Lan (50)  Burma (26)
1981 XI Philippines Manila  Indonesia (85)  Thái Lan (62)  Philippines (55)
1983 XII  Singapore  Indonesia (64)  Philippines (49)  Thái Lan (49)
1985 XIII Thái Lan Bangkok  Thái Lan (92)  Indonesia (62)  Philippines (43)
1987 XIV Indonesia Jakarta  Indonesia (183)  Thái Lan (63)  Philippines (59)
1989 XV Malaysia Kuala Lumpur  Indonesia (102)  Malaysia (67)  Thái Lan (62)
1991 XVI Philippines Manila  Indonesia (92)  Philippines (90)  Thái Lan (72)
1993 XVII  Singapore  Indonesia (88)  Thái Lan (63)  Philippines (57)
1995 XVIII Thái Lan Chiang Mai2  Thái Lan (157)  Indonesia (77)  Philippines (33)
1997 XIX Indonesia Jakarta  Indonesia (194)  Thái Lan (83)  Malaysia (55)
1999 XX Brunei Bandar Seri Begawan  Thái Lan (65)  Malaysia (57)  Indonesia (44)
2001 XXI Malaysia Kuala Lumpur  Malaysia (111)  Thái Lan (103)  Indonesia (72)
2003 XXII Việt Nam Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh3  Việt Nam (158)  Thái Lan (90)  Indonesia (55)
2005 XXIII Philippines Manila4  Philippines (113)  Thái Lan (87)  Việt Nam (71)
2007 XXIV Thái Lan Nakhon Ratchasima5  Thái Lan (183)  Malaysia (68)  Việt Nam (64)
2009 XXV Lào Viêng Chăn  Thái Lan (86)  Việt Nam (83)  Indonesia (43)
2011 XXVI Indonesia PalembangJakarta6  Indonesia (182)  Thái Lan (109)  Việt Nam (96)
2013 XXVII Myanma Naypyidaw  Thái Lan (107)  Myanmar (86)  Việt Nam (73)
2015 XXVIII  Singapore  Thái Lan (95)  Singapore (84)  Việt Nam (73)
2017 XXIX Malaysia Kuala Lumpur, Kota KinabaluKuching7[1]

Huy chương qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2015.
Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á
Quốc gia Gold medal icon.svg Vàng Silver medal icon.svg Bạc Bronze medal icon.svg Đồng Tổng
 Thái Lan
374
254
261
889
 Singapore
204
229
221
654
 Myanmar
198
207
214
619
 Malaya
195
255
316
765
 Việt Nam Cộng hòa2
39
51
65
155
 Cộng hòa Khmer
27
36
41
104
 Lào
0
6
23
29
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
Quốc gia Gold medal icon.svg Vàng Silver medal icon.svg Bạc Bronze medal icon.svg Đồng Tổng
 Thái Lan
1715
1485
1465
4665
 Indonesia
1714
1558
1580
4852
 Philippines
894
1041
1295
3230
 Malaysia
910
868
1210
2988
 Singapore
624
661
986
2271
 Việt Nam
733
678
764
2175
 Myanmar
348
491
713
1552
 Lào
66
81
244
391
 Campuchia
20
52
141
213
 Brunei
11
41
132
184
 Đông Timor
3
5
18
26
Gộp chung
Quốc gia Gold medal icon.svg Vàng Silver medal icon.svg Bạc Bronze medal icon.svg Đồng Tổng
 Thái Lan
2089
1742
1727
5558
 Indonesia
1714
1558
1580
4852
 Malaysia1
1109
1120
1533
3762
 Philippines
894
1041
1295
3230
 Singapore
828
881
1189
2898
 Việt Nam4
772
729
829
2330
 Myanmar5
546
697
906
2149
 Lào
66
87
267
420
 Campuchia3
47
88
192
327
 Brunei
11
41
132
184
 Đông Timor
3
5
18
26
Ghi chú
  • 1 Tranh tài với tư cách Mã Lai tại Đại hội đầu tiên cho tới năm 1961.
  • 2 Cộng hòa Miền nam Việt Nam được giải thể vào ngày 2 tháng 7 năm 1976 và thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để trở thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay (gọi tắt là Việt Nam). Do đó với quốc gia này chỉ tính huy chương đến năm 1975. Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) không quy kí hiệu mã riêng cho các quốc gia này sau khi thống nhất với Bắc Việt Nam.
  • 3 Tranh tài với tư cách là Campuchia và Cộng hòa Khmer.
  • 4 Năm 1989, Việt Nam thống nhất tái gia nhập Đại hội với quốc kỳ và quốc hiệu mới. Huy chương của Việt Nam Cộng hòa đã được cộng vào đây. Xem bảng trên bên trái dành cho Việt Nam Cộng hòa.
  • 5 Tranh tài với tư cách Miến Điện cho tới năm 1985.

Sự kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Xem danh sách các sự kiện thể thao tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1959, Bangkok (Thái Lan)
  2. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1961, Rangoon (Miến Điện)
  3. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1965, Kuala Lumpur (Malaysia)
  4. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1967, Bangkok (Thái Lan)
  5. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1969, Rangoon (Miến Điện)
  6. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1971, Kuala Lumpur (Malaysia)
  7. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1973, Singapore
  8. Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1975, Bangkok (Thái Lan)
  9. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1977, Kuala Lumpur (Malaysia)
  10. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1979, Jakarta (Indonesia)
  11. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1981, Manila (Philippines)
  12. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1983, Singapore
  13. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1985, Bangkok (Thái Lan)
  14. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1987, Jakarta (Indonesia)
  15. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1989, Kuala Lumpur (Malaysia)
  16. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1991, Manila (Philippines)
  17. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1993, Singapore
  18. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1995, Chiang Mai (Thái Lan)
  19. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1997, Jakarta (Indonesia)
  20. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1999, Bandar Seri Begawan (Brunei)
  21. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2001, Kuala Lumpur (Malaysia)
  22. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003, Hà Nội & Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam)
  23. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005, Manila, Cebu, BacolodVịnh Subic (Philippines)
  24. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2007, Nakhon Ratchasima (Thái Lan)
  25. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2009, Viêng Chăn (Lào)
  26. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2011, Palembang (Indonesia)
  27. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2013, Naypyidaw (Myanmar)
  28. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2015, Singapore
  29. Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2017, Kuala Lumpur, Kota KinabaluKuching (Malaysia)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Malaysia to host 2017 SEA Games”. The Star online. 18 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: