Bóng rổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bóng rổ
Basketball pictogram.svg
Cơ quan điều hành
cấp cao nhất
FIBA
Thi đấu tại Olympic từ Thế vận hội Berlin 1936
Đương kim vô địch thế giới Nam Mars symbol.svg  Hoa Kỳ
Nữ Venus symbol.svg  Hoa Kỳ
Giải bóng rổ các trường Đại Học Mỹ. Hình: Các cầu thủ của Học viện Hải quân Hoa Kỳ đang tấn công.

Bóng rổ là môn thể thao thi đấu đối kháng trực tiếp giữa 2 đội, mỗi đội có năm người trên sân. Mục đích của trận đấu là nhằm ghi nhiều điểm bằng cách cố gắng đưa bóng vào rổ đối phương một cách đúng luật và hạn chế không cho đối phương ném bóng vào rổ mình. Bóng rổ là một trong những môn thể thao thịnh hành và được ưa chuộng nhất ở Hoa Kỳ, Trung Quốc, Canada, Philippines,…

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng rổ ra đời năm 1891 do tiến sĩ James Naismith (1861-1936) – một giáo viên môn giáo dục thể chất ở học viện Springfield thuộc bang Massachusetts (Hoa Kỳ) sáng tạo ra.

Vào thời gian đó các môn thể thao, trò chơi vận động chủ yếu được thực hiện ngoài trời. Do vậy, trong suốt mùa đông các sinh viên đã không thể tập luyện hay thi đấu được. Các giáo viên thể dục rất băn khoăn, lo lắng và không ngừng tìm tòi, suy nghĩ để tìm ra một môn chơi mới. Bóng rổ ban đầu chỉ là trò chơi vận động cho sinh viên trong thời tiết xấu.

Ban đầu Naismith tính xây dựng dựa trên môn bóng đá Mỹ - American Football và lacrosse nhưng ý tưởng đó đã sớm bị loại bỏ vì ông cho rằng bóng đá Mỹ quá thô bạo, còn môn kia chủ yếu dựa trên khả năng sức mạnh tốc độ, không có tính nghệ thuật.

Điều kiện để hình thành môn mới này là phải được chơi trong nhà thể dục, phải giới hạn bởi nhiều luật lệ nhưng đơn giản và dễ hiểu, không được dùng que gậy vì dễ gây nguy hiểm và không được thô bạo hay có những động tác truy cản theo kiểu môn bóng đá Mỹ. Do đó, ông đã chọn quả bóng đá và sử dụng tay để chuyền, bắt và ném

Bảng và rổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trái bóng rổ
Kích thước sân bóng rổ

Về hình thành "rổ" và "bảng" như hiện nay, đã có nhiều tài liệu đề cập và giải thích.

Ví dụ như trong sách bóng rổ của Iu. M. Portnova thì cho rằng Naismith (ông) đã ứng dụng môn chơi Pok-Tapok – ném bóng vào một vòng tròn bằng đá được đính trên tường cao của bộ lạc Inka va Maia sống tại Mehico và môn chơi nổi tiếng Ollamalituli của người Astek cũng với mục đích ném bóng cao su vào một chiếc vòng làm bằng đá.

Nhưng theo sách "Basketball" của Joe Hutton và Vern B. Hoffman đã giải thích theo luận lý của vấn đề là ông dự định làm cầu môn theo môn Lacrosse nhưng nếu các cầu thủ tập trung trước cầu môn để tranh cướp và ném bóng sẽ dẫn đến thô bạo, do vậy ông đặt hai cái hộp ở 2 đầu sân và bóng sẽ được ném vào đó. Nhưng điều này lại nảy sinh một vấn đề khác là hàng phòng thủ đứng tụm quanh hộp để chặn bóng. Do vậy ông quyết định treo hai cái hộp trên đầu các đấu thủ sao cho họ không thể với tới được. Điều này ép họ phải bung rộng ra khống chế các quả ném từ vòng ngoài. Vào thời đó ông cho treo hai cái giỏ đựng đào trên ban công của nhà thể dục Sprìngfield ở độ cao 10feet (3,05m) tính từ mặt sân tới cạnh trên của vòng rổ (độ cao được giữ đến bây giờ).

Bảng rổ được hình thành trong quá trình thi đấu sau này vì khi thi đấu, các cổ động viên cuồng nhiệt đứng trên bao lơn đã cố gắng giúp đỡ đội mình bằng cách phụ hất bóng vào rổ đối phương. Do đó ông đã zcho đặt thêm bảng (1895) ở phía sau nhằm mục đích bảo vệ. Điều tiếp theo là cách thức để bắt đầu một trận đấu, ông đã dựa trên môn bóng bầu dục Anh – khi có tranh chấp, trọng tài sẽ ném bóng vào giữa 2 hàng cầu thủ để họ lao vào tranh cướp. Luật này tuy thô bạo nhưng công bằng cho cả hai bên. Do đó các vòng tròn nhảy tranh bóng được lập ra. Tiếp theo Ông viết 13 điều luật cơ bản.

Ngay sau đó toàn bộ giáo viên và sinh viên trong trường đã ngưng hoạt động để xem lớp của ông thi đấu trận bóng rổ đầu tiên trên thế giới. Tên môn chơi là "Basketball" (bóng rổ) được học sinh lớp ông đề nghị đã được chấp nhận.

Các loại "rổ" được sử dụng trong môn bóng rổ hiện nay bao gồm rổ được đặt cố định với bảng và người chơi không thể điều chỉnh được độ cao thấp. Hệ thống bảng rổ này được sử dụng trong nhà thi đấu, khoảng trống rộng rãi ở ngoài trời. Ngoài ra, còn có thêm hệ thống rổ và bảng giúp người chơi có thể điều chỉnh được để đáp ứng tối đa nhu cầu của mọi lứa tuổi, giúp người chơi trải nghiệm tối đa chơi bóng, cải thiện kỹ năng chơi bóng rổ.

Các thành phần của sân[sửa | sửa mã nguồn]

Sân có 2 phần cho 2 đội, 1 đường kẻ ở giữa để phân chia 2 phần sân. Mỗi phần có 1 cung tròn lớn, xung quanh cột rổ, còn gọi là vạch 3 điểm. Ở trong vạch 3 điểm là 1 hình thang cân, dùng làm ranh giới cho các cầu thủ khi phải ném phạt, ngoài ra còn vòng tròn ném phạt, để cầu thủ ném phạt căn được vị trí ném.

Cách chơi hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lan rộng ra các nước trên thế giới, bóng rổ bắt đầu trở thành môn thể thao quốc tế. Ngày nay, bóng rổ thường được chơi theo 2 dạng:

  • Bóng rổ đường phố: mỗi đội 3 người và một bảng rổ, hoặc
  • Bóng rổ thi đấu: mỗi đội 5 người và hai bảng rổ (có 2 hệ thống là NBAFIBA).

Điểm được ghi bằng cách đưa bóng vào rổ một cách đúng luật. Đội nào nhiều điểm hơn khi kết thúc trận đấu là đội thắng. Nếu hai đội hòa nhau trong các hiệp đấu chính, thì trận đấu sẽ được tiếp tục bằng các hiệp phụ cho đến khi có tỉ số cách biệt. Có nhiều luật trong môn bóng rổ này.

Ngày nay giải bóng rổ nổi tiếng nhất là giải NBA, tập trung nhiều đội bóng như là New York Knicks, Washington Wizards, Miami Heat, Boston Celtics, Los Angeles Laker,..

Thuật ngữ (tiếng Anh)[sửa | sửa mã nguồn]

  • block: dùng tay chặn trái bóng, ngăn cản không cho đối thủ đưa bóng vào rổ mà không có tình huống phạm lỗi.
  • steal: dùng tay cướp quả bóng từ tay đối phương
  • rebound: bắt bóng bật bảng
  • double-team: 2 người cùng kèm người giữ bóng của đối phương
  • 3-pointer: Người chuyên ném 3 điểm
  • pick and roll: một loại chiến thuật phối hợp giữa hai cầu thủ tấn công.
  • box out: cản không cho đối phương đến gần rổ để "rebound"
  • dunk: úp rổ
  • lay-up: lên rổ
  • go over the back: kỹ thuật đưa bóng qua lưng
  • turnover: mất bóng
  • one-point game: trận đấu chỉ chênh lệch một điểm
  • alley-oop: nhảy lên bắt bóng và cho luôn vào rổ (thường thấy khi có 1 trái missed hoặc airball)
  • out of bound: bóng ngoài sân
  • starting at center: vị trí trung phong
  • Point guard: hậu vệ kiểm soát bóng
  • starting shooting guard: hậu vệ chuyên ghi điểm
  • 3 point from the corner: ném 3 điểm ngoài góc
  • intentional foul: cố ý phạm lỗi (mang tính chiến thuật)
  • time out: hội ý

Các vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

  • C: Center - Trung phong: Thường là cầu thủ cao to nhất đội, có khả năng ném rổ ở cự ly gần. Tầm di chuyển hẹp, yêu cầu bắt bóng bật bảng, cản phá các pha tấn công của đối phương, bù đối phương mở đường cho đồng đội lên rổ. Người chơi ở vị trí này thường là có thể hình khổng lồ, ngoài ra không cần kĩ năng điêu luyện như các vị trí khác.
  • PF: Power Forward - trung phong phụ/tiền vệ chính: được coi là người mạnh mẽ nhất trong tranh bóng và phòng thủ của trận đấu, họ chơi ở những vị trí cố định được huấn luyện viên xác định theo đúng chiến thuật đặt ra. Phần lớn là canh để ghi điểm gần rổ hay tranh bóng gần rổ, nhiệm vụ người chơi ở vị trí này là ghi càng nhiều điểm càng tốt, thường là người chơi gần nhất với Trung phong (center).
  • SF: Small Forward - tiền đạo: Các cầu thủ có khả năng linh hoạt cao và có khả năng ghi điểm ở cự ly trung bình.
  • SG - PG: Shooting Guard - Point Guard - hậu vệ: Các cầu thủ không cần cao to, nhưng có khả năng nhồi bóng tốt để kiểm soát và thiết kế tổ chức tấn công. Có thể ghi điểm ở cự ly xa 3 điểm.

Các loại hình phòng thủ phổ biến nhất[sửa | sửa mã nguồn]

  • man-to-man defense: phòng thủ 1 kèm 1
  • box one defense: 1 người kèm 1 người ném rổ chính còn 4 người còn lại phòng thủ theo khu vực
  • zone defense: phòng thủ khu vực
  • triangle defense: phòng thủ tam giác

Các lỗi/luật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Arm-push violation/Shooting foul: lỗi đánh tay (khi đối phương đang ném, chỉ được giơ tay ra phía trước để block, không được đẩy tay hoặc kéo tay đối phương).
  • Jumping violation: lỗi nhảy (đang cầm bóng lên, nhảy nhưng không chuyền hoặc ném).
  • Traveling violation: lỗi chạy bước (cầm bóng chạy từ 3 bước trở lên).
  • Double dribbling: 2 lần dẫn bóng (đang dẫn bóng mà cầm bóng lên, rồi lại tiếp tục nhồi bóng).
  • Backcourt violation: lỗi bóng về sân nhà (sau khi đã đem bóng sang sân đối phương, không được đưa bóng trở lại sân nhà).
  • Offensive 3-second violation: cầu thủ của đội đang kiểm soát bóng sống ở phần sân trước không được đứng quá 3 giây trong khu vực hình thang/chữ nhật dưới rổ đối phương (kể cả hai chân hay 1 chân trong 1 chân ngoài).
  • Defensive 3-second violation: cầu thủ của đội đang phòng ngự không được đứng quá 3 giây trong khu vực hình thang/chữ nhật dưới rổ (kể cả hai chân hay 1 chân trong 1 chân ngoài) nếu không kèm người (chỉ ở NBA).
  • 5 seconds violation: lỗi 5 giây (cầm bóng quá 5 giây khi bị đối phương kèm sát (khoảng cách 1 cánh tay) mà không nhồi bóng, chuyền bóng hay ném rổ).
  • 8 seconds violation: lỗi 8 giây (khi giành được quyền kiểm soát bóng ở phần sân nhà, trong vòng 8 giây phải đưa bóng sang sân đối phương)
  • 24 seconds violation/shooting time: lỗi 24 giây (khi 1 đội giành được quyền kiểm soát bóng trong 24 giây phải ném rổ).
  • Personal foul: lỗi cá nhân.
  • Team foul: lỗi đồng đội (với NBA là 6 lỗi, và các giải khác, bình thường là 5 lỗi; sau đó với bất kỳ lỗi nào, đối phương đều được ném phạt).
  • Technical foul: lỗi kỹ thuật/cố ý phạm lỗi (1 lỗi nặng sẽ được tính = 2 lỗi bình thường - personal foul, khi cầu thủ có những hành vi quá khích trên sân).
  • Fouled out: đuổi khỏi sân (khi đã phạm 5-6 lỗi thường - tùy quy định).
  • Free throw: ném tự do/ném phạt (khi cầu thủ bị lỗi trong tư thế tấn công rổ sẽ được ném phạt - 1 trái ném phạt chỉ tính 1 điểm).
  • Charging foul: tấn công phạm quy
  • Goaltending: Bắt bóng trên rổ (khi đối phương ném bóng đã vào khu vực bảng rổ mà đội kia chặn không cho bóng vào rổ thì đối phương vẫn được phép ghi điểm dựa vào vị trí ném bóng).

Thuật ngữ về cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jump shot: ném rổ (nhảy lên và ném bóng).
  • Fade away: ném ngửa người về sau.
  • Hook shot: giơ cao và ném bằng một tay.
  • Layup: lên rổ (chạy đến gần rổ, nhảy lên và ném bóng bật bảng).
  • Dunk/Slam dunk: úp rổ.
  • Alley-oop: nhận đường chuyền trên không và ghi điểm (trực tiếp, cũng trên không).
  • Dribble: dẫn bóng.
  • Rebound: bắt bóng bật bảng.
  • Block: chắn bóng trên không.
  • Steal: cướp bóng.
  • Break ankle: cầu thủ cầm bóng đang dẫn về một phía bỗng đổi hướng đột ngột làm người phòng thủ mất thăng bằng và ngã.
  • Tip in: khi bóng không vào rổ mà bật ra, thay vì bắt bóng bật bảng, cầu thủ dùng tay đẩy bóng ngược trở lại vào rổ.
  • Post move: cách đánh dùng vai để lấn từ từ tiến vào sát rổ (thường bị lỗi tấn công nếu không cẩn thận). Cách đánh này thường thấy ở các vị trí Center (Trung phong) và Power Foward (Tiền phong chính).

Thuật ngữ các kiểu chuyền bóng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Assistance/Assist: hỗ trợ - pha chuyền bóng khi ngay sau khi nhận bóng của đồng đội, cầu thủ nhận bóng ghi được điểm - cú chuyền đó được gọi là một pha hỗ trợ.
  • Direct pass/Chest pass: chuyền thẳng vào ngực.
  • Bounce pass: chuyền đập đất.
  • Overhead pass: chuyền bóng qua đầu cầu thủ phòng ngự.
  • Outlet pass: sau khi đội phòng thủ bắt được bóng (rebound) pha chuyền bóng ngay sau được gọi là outlet pass - hiếm khi nghe thấy.
  • No look pass: chuyền chính xác mà không cần nhìn thấy đồng đội ở đâu (thường do thi đấu ăn ý).

Thuật ngữ khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Three-point play": khi bị phạm lỗi trong tư thế tấn công trong khu vực 2 điểm mà pha bóng vẫn thành công, cầu thủ được ném phạt 1 lần. 2 điểm ăn + 1 điểm ném phạt nếu thành công.
  • "Four-point play" cũng giống như thế nhưng trong trường hợp ném 3 điểm. 3 điểm ăn + 1 điểm ném phạt nếu thành công. Trường hợp này rất hiếm khi xảy ra.
  • Spin move: cách xoay người để thoát khỏi đối phương.
  • Euro step: kĩ thuật di chuyển zic-zac khi lên rổ để tránh sự truy cản của đối phương
  • Crossover Dribble: kỹ thuật thoát khỏi đối phương khi chuyển hướng đập bóng từ trái sang phải hoặc ngược lại, thường kết hợp với động tác dưới.
  • Behind the Back & Between the Legs Crossover: kỹ thuật đập bóng qua sau lưng và qua háng/hai chân.
  • Fast break: phản công nhanh (trường hợp này cần phải có tốc độ cao và chuyền bóng rất tốt). Thường trong các pha phản công nhanh, phần sân bên đối thủ chỉ có từ 1 đến 2 cầu thủ phòng thủ, và cầu thủ tấn công thường dùng các kĩ thuật như slam dunk để thực hiện được cú ghi điểm với khả năng ghi điểm cao nhất).

Cách tính điểm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nếu một cầu thủ bị phạm lỗi trong khi cố gắng ghi điểm và không thành công, cầu thủ đó được ném phạt với số lần bằng giá trị điểm có thể ghi được. Một cầu thủ bị phạm lỗi trong khi cố gắng ghi 2 điểm sẽ được hai lần ném phạt. Một cầu thủ bị phạm lỗi trong khi cố gắng ghi 3 điểm sẽ được ba lần ném phạt.
  • "Three-point play": khi bị phạm lỗi trong tư thế tấn công trong khu vực 2 điểm mà pha bóng vẫn thành công, cầu thủ được ném phạt và cũng thành công. 2 điểm ăn + 1 điểm ném phạt.
  • "Four-point play" cũng giống như thế nhưng trong trường hợp ném 3 điểm. Trường hợp này rất hiếm khi xảy ra.
  • Cú ném trong vòng 3 điểm: 2 điểm.
  • Cú ném ngoài vòng 3 điểm: 3 điểm.
  • Cú ném phạt: 1 điểm.

Một số điều luật thay đổi[sửa | sửa mã nguồn]

Một số thay đổi của điều luật năm 2008 tại Thụy Sĩ và bắt đầu được thực hiện ngày 1/10/2009. Tất cả các giải thi đấu bóng rổ tại Việt Nam đã được áp dụng các điều luật này.

Tất cả có năm điều thay đổi:

  • Về đồng phục: Vận động viên (VĐV) không được mặc áo có tay phía bên trong áo thi đấu, kể cả áo đó có cùng màu với áo thi đấu.
  • Bóng được tính là bóng lên sân trên khi người dẫn bóng có cả hai chân chạm vào mặt sân trên và bóng cũng chạm vào mặt sân trên (front count).
  • Một VĐV nhảy từ phía sân trên và bắt được bóng trên không sau đó rơi trở lại phía sân sau thì pha bóng đó hợp lệ.
  • Chạy bước: Một VĐV trong quá trình thi đấu cầm bóng trượt trên sân (khách quan) sẽ không bị phạm luật chạy bước (điều này khác với điều luật quy định về việc VĐV cầm bóng và lăn trên sân).
  • Lỗi kỹ thuật (Technical foul): một VĐV cố tình đánh cùi chỏ sẽ bị phạt lỗi kỹ thuật (nếu không xảy ra va chạm).
  • Lỗi phản tinh thần thể thao (Unsportmanlike Foul): Một VĐV phòng thủ sẽ bị phạt lỗi phản tinh thần thể thao nếu đẩy VĐV tấn công đang phản công từ phía sau hoặc phía bên mà trước mặt VĐV tấn công đó không còn VĐV phòng thủ nào, sau đó pha phạm lỗi đó có thể gây ra chấn thương (FIBA ASIA).

Chiều cao[sửa | sửa mã nguồn]

Ở trình độ chuyên nghiệp, phần lớn nam giới chơi đều cao trên 1,91 m và hầu hết phụ nữ cao trên 1,70 m. Hậu vệ, người mà sự phối hợp thể chất và kỹ năng xử lý bóng là rất quan trọng, có xu hướng là những cầu thủ nhỏ nhất. Hầu như tất cả các tiền đạo trong các giải đấu hàng đầu của nam giới đều cao 1,98 m hoặc cao hơn. Hầu hết các trung phong lớn hơn 2,08 m. Theo một cuộc khảo sát cho tất cả các đội NBA, chiều cao trung bình của tất cả các cầu thủ NBA chỉ dưới 2,01 m, với trọng lượng trung bình là gần 101 kg. Các cầu thủ cao nhất trước giờ ở giải NBAManute BolGheorghe Mureşan, cả hai đều cao 2,31 m. Người chơi NBA cao nhất hiện nay là Sim Bhullar, người cao 2,26 m. Với chiều cao 2,18 m, Margo Dydek là cầu thủ cao nhất trong lịch sử của WNBA. Người chơi thấp nhất trong NBA là Muggsy Bogues ở chiều cao 1,60 m. Các cầu thủ có chiều cao khiêm tốn khác đã phát triển mạnh ở cấp độ chuyên nghiệp. Anthony "Spud" Webb đã được chỉ cao 1.70 m, nhưng đã có bước nhảy cao 1,1 m thẳng đứng, cho anh ta chiều cao đáng kể khi nhảy. Trong khi người chơi thấp hơn thường vào thế bất lợi trong một số khía cạnh của trò chơi, khả năng của họ để di chuyển một cách nhanh chóng thông qua khu vực đông đúc của sân và ăn cắp bóng bằng cách tiếp cận những điểm yếu.

Các biến thể của bóng rổ[sửa | sửa mã nguồn]

Các biến thể của bóng rổ là các hoạt động dựa trên môn bóng rổ, nó sử dụng các kỹ năng và thiết bị bóng rổ thông thường (chủ yếu là quả bóng và rổ). Một số biến thể chỉ là những thay đổi về bề mặt, trong đó một số khác biệt là các mức độ chơi khác nhau của bóng rổ. Các biến thể khác bao gồm các trò chơi dành cho trẻ em, các cuộc thi hoặc hoạt động nhằm giúp người chơi tăng cường kỹ năng.

Các thể thao bóng rổ chính với các biến thể dựa trên môn bóng rổ bao gồm bóng rổ xe lăn, bóng rổ nước, bóng rổ trên biển, Slamball, bóng rổ đường phố và bóng rổ trên xe đạp một bánh. Một phiên bản bóng rổ trước đó, chủ yếu là do phụ nữ và trẻ em gái, là bóng rổ sáu - trên - sáu. Horseball là một trò chơi được chơi trên lưng ngựa nơi một quả bóng được xử lý và ghi điểm bằng cách bắn bóng thông qua một lưới cao (khoảng 1.5m x 1.5m). Thậm chí còn có một hình thức chơi trên những con lừa được gọi là bóng rổ Donkey, nhưng phiên bản đó đã bị các nhóm quyền động vật lên án.

Thi đấu một nửa sân

Có lẽ biến thể phổ biến nhất của bóng rổ là trận đấu nửa sân, chơi trong môi trường không chính thức mà không có trọng tài hoặc các quy tắc nghiêm ngặt. Chỉ có một giỏ được sử dụng, và quả bóng phải được "lấy lại" hoặc "dọn dẹp" - chuyền hoặc rong ruổi ngoài đường ba điểm mỗi lần sở hữu quả bóng thay đổi từ đội này sang đội kia. Các trò chơi nửa dãi đòi hỏi sức chịu đựng tim mạch ít hơn, vì người chơi không cần chạy trốn tràn trề. Trận nửa sân tăng số cầu thủ có thể sử dụng sân nhà hoặc ngược lại, có thể được chơi nếu không có đủ số lượng để tạo thành đội 5-trên-5.

Bóng rổ ảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng rổ ảo đã được phổ biến trong những năm 1990 sau sự ra đời của Internet. Trò chơi được phổ biến bởi ESPN Fantasy Sports, NBA.com và Yahoo! Fantasy Sports. Các trang web thể thao khác cung cấp cùng một định dạng biến trò chơi trở nên thú vị với những người tham gia thực sự sở hữu những cầu thủ cụ thể.

Bóng rổ Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Liên đoàn Bóng rổ Quốc tế (FIBA) được thành lập năm 1932 bởi 8 nước sáng lập: Argentina, Tiệp Khắc, Hy Lạp, Ý, Latvia, Bồ Đào Nha, RumaniThụy Sỹ. Vào thời điểm ấy, tổ chức chỉ giám sát các cầu thủ nghiệp dư. Từ viết tắt của nó, có nguồn gốc từ Liên đoàn Bóng rổ Pháp, là "FIBA". Bóng rổ của nam giới lần đầu tiên được đưa vào Thế vận hội mùa hè Berlin 1936, mặc dù giải đấu được tổ chức vào năm 1904. Hoa Kỳ đánh bại Canada trong trận chung kết đầu tiên, chơi ở ngoài trời. Sự cạnh tranh này được chiếm ưu thế bởi Hoa Kỳ, đội của họ đã giành được tất cả danh hiệu, trừ ba. Việc đầu tiên xảy ra trong một trận chung kết gây tranh cãi ở Munich năm 1972 thi đấu với Liên Xô, trong đó trận đấu kết thúc được chơi lại 3 lần cho đến khi Liên Xô chiến thắng. Vào năm 1950, giải vô địch bóng rổ thế giới đầu tiên của FIBA ​​dành cho nam giới, được biết đến như là Giải Bóng rổ FIBA, được tổ chức tại Argentina. Ba năm sau, giải vô địch bóng rổ thế giới lần thứ I dành cho phụ nữ, được biết đến như là Giải bóng rổ nữ của FIBA, được tổ chức tại Chile. Bóng rổ nữ đã được bổ sung vào Thế vận hội năm 1976, được tổ chức tại Montréal, Québec, Canada với các đội như Liên Xô, BrazilÚc đối đầu với đội tuyển Hoa Kỳ.

Vào năm 1989, FIBA đã cho phép những người chơi NBA chuyên nghiệp tham gia Thế vận hội lần đầu tiên. Trước Thế vận hội mùa hè 1992, chỉ có các đội châu ÂuNam Mỹ mới được phép tham gia vào các kỳ thi Thế vận hội. Sự thống trị của Hoa Kỳ tiếp tục với việc giới thiệu của Dream Team. Trong Thế vận hội Athens năm 2004, Hoa Kỳ có trận thua lần đầu tiên trong khi sử dụng cầu thủ chuyên nghiệp, rơi xuống Puerto Rico (mất 19 điểm) và Lithuania trong các trận đấu nhóm, và bị loại tại bán kết bởi Argentina. Nó cuối cùng đã giành huy chương đồng giành Lithuania, kết thúc sau Argentina và Italy. Đội nhận thưởng, giành huy chương vàng tại Thế vận hội 2008, và đội B, giành huy chương vàng tại Giải vô địch bóng đá thế giới năm 2010 ở Thổ Nhĩ Kỳ mặc dù không có cầu thủ nào từ đội hình năm 2008. Hoa Kỳ tiếp tục thống trị khi họ giành huy chương vàng tại Thế vận hội 2012, FIBA World Cup 2014 và Thế vận hội 2016.

Các giải đấu bóng rổ trên toàn thế giới được tổ chức dành cho nam và nữ ở tất cả các độ tuổi. Sự phổ biến toàn cầu của môn thể thao này được phản ánh trong các quốc tịch đại diện trong NBA. Người chơi từ cả sáu lục địa đang sinh sống hiện đang chơi ở NBA. Các cầu thủ quốc tế hàng đầu bắt đầu tham gia vào NBA vào giữa những năm 1990, bao gồm Croatia Dražen PetrovićToni Kukoč, Vlade Divac của Serbia, Lithuania Arvydas Sabonis, Šarūnas Marčiulionis, Dutchman Rik SmitsDetlef Schrempf của Đức.

Tại Philippines, trận đấu đầu tiên của Hiệp hội bóng rổ Philippines được diễn ra vào ngày 9 tháng 4 năm 1975 tại Araneta ColiseumCubao, thành phố Quezon, Philippines. Nó được thành lập như là một cuộc trỗi dậy của một số đội từ Hiệp hội Thể thao Thương mại và Công nghiệp Manila đã bị quản lý chặt chẽ bởi Hiệp hội Bóng rổ Philippines (nay đã ngừng hoạt động), hiệp hội quốc gia sau đó được FIBA ​​công nhận. Chín đội từ MICAA đã tham gia vào mùa giải đầu tiên của giải đấu khai mạc vào ngày 9 tháng 4 năm 1975.

NBL là giải bóng rổ chuyên nghiệp của nam Úc. Giải đấu bắt đầu vào năm 1979, chơi một mùa đông (tháng 4-9) và đã làm như vậy cho đến khi kết thúc mùa giải thứ 20 năm 1998. Mùa giải 1998-99 chỉ bắt đầu vài tháng sau đó là mùa đầu tiên sau khi chuyển sang mùa hè hiện tại (tháng 10 đến tháng 4). Sự thay đổi này là một nỗ lực để tránh cạnh tranh trực tiếp với các bộ luật bóng đá khác nhau của Úc. Nó có 8 đội từ khắp nước Úc và một ở New Zealand. Một vài người chơi bao gồm Luc Longley, Andrew Gaze, Shane Heal, Chris AnsteyAndrew Bogut đã làm cho nó trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới, trở thành poster cho thể thao ở Úc. Liên đoàn Bóng rổ Nữ quốc gia bắt đầu vào năm 1981.

Bóng rổ Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, sự ủng hộ của Nhà nước và người hâm mộ dành cho bộ môn này vẫn còn khiêm tốn. Bóng rổ ở Việt Nam ít có sự đầu tư từ nhà nước. Việc thành lập Liên đoàn Bóng rổ Việt Nam vào năm 1992 được xem là động thái tích cực nhằm phát triển bóng rổ trở thành môn thể thao phổ biến thứ 2 sau bóng đá. Trước đó, vào năm 1952 Đội tuyển bóng rổ quốc gia Việt Nam đã được thành lập và chính thức gia nhập FIBA.

Giải bóng rổ chuyên nghiệp Việt Nam là giải bóng rổ chuyên nghiệp đầu tiên tại Việt Nam đang được phổ biến. Sau sự thành công tại mùa giải 2016, VBA tiếp tục tổ chức tiếp tại mùa giải năm 2017 với đông đảo các ứng viên đến từ nhiều tỉnh thành tham gia.

Ngoài giải chuyên nghiệp VBA thì còn nhiều giải bóng rổ phong trào, tự phát tại khắp các tỉnh thành Việt Nam như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh.

Việt Nam cũng góp mặt một đội bóng rổ đi thi đấu ở Giải bóng rổ nhà nghề Đông Nam Á.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Bóng rổ