Đại học McGill

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
McGill University
250px
150px
Tên bản địa Université McGill  (tiếng Pháp)
Tên Latinh Universitas McGill
Tên cũ McGill College or University of McGill College (1821–1885)
Khẩu hiệu Grandescunt Aucta Labore (Latin)
Nhờ lao động, mọi thứ đều tiến lên và phát triển[1]
Thông tin chung
Loại hình Đại học công lập
Thành lập 1821 (1821)
Thành viên AAU, ACU, AUCC, AUF, ATS, CARL, CBIE, CREPUQ, CUSID, GULF, Universitas 21, UArctic, UNAI, U15, URA
Ngôn ngữ English and French
Tài trợ 1.63 tỷ C$[2]
Ngân sách 1.26 tỷ C$[3]
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởng danh dự Michael Meighen
Hiệu trưởng Suzanne Fortier
Giảng viên 1,684[4]
Nhân viên 3,457[4]
Sinh viên 40,971[5]
Sinh viên đại học 27,526[5]
Sinh viên sau đại học 9,704[5]
Thông tin khác
Khuôn viên Urban
Downtown: 32 ha (80 mẫu Anh)[6]
Macdonald Campus: 650 ha (1.600 mẫu Anh)[6]
Vị trí Montreal, Québec, Canada
Màu đỏ tươi và trắng         
Biệt danh McGill Redmen and Martlets
Linh vật Marty the Martlet
Website mcgill.ca

Đại học McGill là trường đại học công lập nằm tại Montreal, Quebec, Canada. Trường được thành lập năm 1821 theo hiến chương Hoàng gia do vua Geogre IV ban hành.[7] Trường mang tên theo tên của James McGill, một thương gia Montreal gốc Scotland, người đã có cuộc chinh phục năm 1813 và đã thành lập nên McGill College, tiền thân của trường.

Khuôn viên chính của McGill tọa lạc tại Mount Royal nằm trong trung tâm thành phố Montreal cùng với khuôn viên thứ hai nằm tại Sainte-Anne-de-Bellevue, cũng nằm trên Đảo Montréal, cách khuôn viên chính 30 kilomet (18 dặm) về phía Tây. Trường là một trong hai thành viên của Hiệp hội Viện Đại học Bắc Mỹ nằm ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ,[8] và là đại diện duy nhất của Canada góp mặt trong Diễn đàn lãnh đạo các trường đại học toàn cầu (GULF) thuộc khuôn khổ của Diễn đàn Kinh tế thế giới, khi chỉ có 26 trường đại học hàng đầu thế giới được tham dự vào diễn đàn.[9]

McGill cung cấp học vị và bằng cấp cho hơn 300 lĩnh vực nghiên cứu, với các yêu cầu tuyển sinh trung bình cao nhất so với bất kỳ trường đại học Canada nào khác.[10] Đa phần các sinh viên đăng kí vào năm khoa lớn nhất, lần lượt là Nghệ thuật, Khoa học, Dược, Kỹ thuật, và Quản lí.[11]

Trong số các học viên đã được đào tạo tại McGill, đã có 12 người đoạt giải Nobel và 144 học bổng Rhodes Scholars, cả hai đều đạt số lượng nhiều nhất so với các trường đại học ở Canada,[12][13] cũng như có 5 người được chọn làm phi hành gia,[14] 3 Thủ tướng Canada, nhà Toàn quyền Canada đương nhiệm, 14 thẩm phán của Tòa án Tối cao Canada,[15] 4 lãnh đạo nước ngoài, 28 đại sứ nước ngoài, 9 người thắng giải Oscar, 11 người thắng giải Grammy, 3 người thắng giải Pulitzer,[16][17] và 28 người dành huy chương tại Olympic, tính tổng các quốc gia khác nhau. Trong lịch sử phát triển, các cựu sinh viên McGill đã góp phần vào việc sáng lập hoặc lần đầu tổ chức các môn thể thao bóng bầu dục Mỹ, bóng rổ, và khúc côn cầu trên băng.[18] Trường đại học McGill hoặc các cựu học viên của trường cũng đã thành lập một số trường đại học và cao đẳng lớn, bao gồm các trường đại học thuộc khuôn khổ của British Columbia, VictoriaAlberta, Trường Y & Nha khoa Schulich, Trường Y khoa Đại học Johns HopkinsTrường Cao đẳng Dawson.


Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Royal Institution for the Advancement of Learning[sửa | sửa mã nguồn]

The Royal Institution for the Advancement of Learning (RIAL) đã được thành lập năm 1801 theo một Đạo luật của Hội đồng Lập pháp Hạ viện Canada, Một đạo luật cho việc thành lập các trường học miễn phí và sự tiến bộ trong học tập tại tỉnh này.[19]

Năm 1816 RIAL was authorized to operate two new Royal Grammar Schools, in Quebec City and in Montreal. This was a turning point for public education in Lower Canada as the schools were created by legislation, the District Public Schools Act of 1807, which showed the government's willingness to support the costs of education and even the salary of a schoolmaster. This was an important first step in the creation of nondenominational schools. When James McGill died in 1813 his bequest was administered by the RIAL.

Of the original two Royal Grammar Schools, in 1846 one closed and the other merged with the High School of Montreal. By the mid-19th century the RIAL had lost control of the other eighty-two grammar schools it had administered.[20] However, in 1853 it took over the High School of Montreal from the school's Board of Directors and continued to operate it until 1870.[21][22] Thereafter, its sole remaining purpose was to administer the McGill bequest on behalf of the private college. The RIAL continues to exist today; it is the corporate identity that runs the university and its various constituent bodies, including the former Macdonald College (now Macdonald Campus), the Montreal Neurological Institute, and the Royal Victoria College (the former women's college turned residence). Since the revised Royal Charter of 1852, The Trustees of the RIAL comprise the Board of Governors of McGill University.[7]

McGill College[sửa | sửa mã nguồn]

James McGill, the original benefactor of McGill University.

James McGill, born in Glasgow, Scotland on 6 October 1744, was a successful merchant in Quebec, having matriculated into the University of Glasgow in 1756.[23] Between 1811 and 1813,[24] he drew up a will leaving his "Burnside estate", a 19 hécta (47 mẫu Anh) tract of rural land and 10,000 pounds to the Royal Institution for the Advancement of Learning.[25][26][27]

On McGill's death in December 1813, the Royal Institution for the Advancement of Learning, established in 1801 by an Act of the Legislative Assembly of Lower Canada,[28] added the establishing of a University pursuant to the conditions of McGill's will to its original function of administering elementary education in Lower Canada.

As a condition of the bequest, the land and funds had to be used for the establishment of a "University or College, for the purposes of Education and the Advancement of Learning in the said Province."[28] The will specified that a private, constituent college[7] bearing his name would have to be established within 10 years of his death; otherwise the bequest would revert to the heirs of his wife.[29]

On March 31, 1821, after protracted legal battles with the Desrivières family (the heirs of his wife), McGill College received a royal charter from King George IV. The Charter provided that the College should be deemed and taken as a University, with the power of conferring degrees.[30]

University development[sửa | sửa mã nguồn]

Campus expansions[sửa | sửa mã nguồn]

Sir John William Dawson, Principal of McGill University, 1855–1893
The Arts Building, completed in 1843 and designed by John Ostell, is the oldest building on campus.

Though McGill College received its Royal Charter in 1821, it was inactive until 1829 when the Montreal Medical Institution, which had been founded in 1823, became the college's first academic unit and Canada's first medical school. The Faculty of Medicine granted its first degree, a Doctorate of Medicine and Surgery, in 1833; this was also the first medical degree to be awarded in Canada.[31]

The Faculty of Medicine remained the school's only functioning faculty until 1843, when the Faculty of Arts commenced teaching in the newly constructed Arts Building and East Wing (Dawson Hall).[32] The university also historically has strong links with the Canadian Grenadier Guards, a military regiment in which James McGill served as Lieutenant-Colonel. This title is marked upon the stone that stands before the Arts building, from where the Guards step off annually to commemorate Remembrance Day.

The Faculty of Law was founded in 1848 which is also the oldest of its kind in the nation. 48 years later, the school of architecture at McGill University was founded.[33]

Sir John William Dawson, McGill's principal from 1855 to 1893, is often credited with transforming the school into a modern university.[34] He recruited the aid of Montreal's wealthiest citizens (eighty percent of Canada's wealth was then controlled by families who lived within the Golden Square Mile area that surrounded the university), many of whom donated property and funding needed to construct the campus buildings. Their names adorn many of the campus's prominent buildings.

William Spier designed the addition of West Wing of the Arts Building for William Molson, 1861.[35] Alexander Francis Dunlop designed major alterations to the East Wing of McGill College (now called the Arts Building, McGill University) for Prof. Bovey and the Science Dept., 1888.[36] This expansion of the campus continued until 1920. Buildings designed by Andrew Taylor, include the Redpath Museum (1880), Macdonald Physics Building (1893), the Redpath Library (1893), the Macdonald Chemistry Building (1896), the Macdonald Engineering Building (1907)—now known as the Macdonald-Stewart Library Building, and the Strathcona Medical Building (1907)—since renamed the Strathcona Anatomy and Dentistry Building.

In 1900, the university established the MacLennan Travelling Library. McGill University Waltz composed by Frances C. Robinson, was published in Montréal by W.H. Scroggie, c 1904.[37]

McGill University and Mount Royal, 1906, Panoramic Photo Company

In 1885, the university's Board of Governors formally adopted the use of the name "McGill University". In 1905, the university acquired a second campus when Sir William C. Macdonald, one of the university's major benefactors, endowed a college in Sainte-Anne-de-Bellevue, 32 kilometres west of Montreal. Macdonald College, now known as the Macdonald Campus, opened to students in 1907, originally offering programs in agriculture, household science, and teaching.

George Allan Ross designed the Pathology Building, 1922–23; the Neurological Institute, 1933; Neurological Institute addition 1938 at McGill University.[38] Jean Julien Perrault (architect) designed the McTavish Street residence for Charles E. Gravel, which is now called David Thompson House (1934).[39]

Women's education[sửa | sửa mã nguồn]

Women's education at McGill began in 1884, when Donald Smith (later the Lord Strathcona and Mount Royal), began funding separate lectures for women, given by university staff members. The first degrees granted to women at McGill were conferred in 1888.[40] In 1899, the Royal Victoria College (RVC) opened as a residential college for women at McGill with Hilda D. Oakeley as the head. Until the 1970s, all female undergraduate students, known as "Donaldas," were considered to be members of RVC.[41] Beginning in the autumn of 2010, the newer Tower section of Royal Victoria College is a co-ed dormitory, whereas the older West Wing remains strictly for women. Both the Tower and the West Wing of Royal Victoria College form part of the university's residence system.

McGill in the Great War[sửa | sửa mã nguồn]

This photo was taken at McGill University in Montreal in 1915 before the departure of the 2nd University Company for France. The Company reinforced Princess Patricia's Canadian Light Infantry on the Somme in October 1915
Stained Glass Great War Memorial entrance to the Blackader-Lauterman Library of Architecture and Art

McGill University played a significant role in the Great War. Many students and alumni enlisted in the first wave of patriotic fervor that swept the nation in 1914, but in the spring of 1915 — after the first wave of heavy Canadian casualties at Ypres — Hamilton Gault, the founder of the Canadian regiment and a wealthy Montreal businessman, was faced with a desperate shortage of troops. When he reached out to his friends at home for support, over two hundred were commissioned from the ranks, and many more would serve as soldiers throughout the war. On their return to Canada after the war, Major George McDonald and Major George Currie formed the accounting firm McDonald Currie, which later became one of the founders of Price Waterhouse Coopers.[42] Captain Percival Molson was killed in action in July 1917. Percival Molson Memorial Stadium at McGill is named in his honour.

The War Memorial Hall (more generally known as Memorial Hall) is a landmark building on the campus of McGill University. At the dedication ceremony the Governor General of Canada (Harold Alexander, 1st Earl Alexander of Tunis) laid the cornerstone. Dedicated on October 6, 1946, the Memorial Hall and adjoining Memorial Pool honour students who had enlisted and died in the First World War, and in the Second World War. In Memorial Hall, there are two Stained Glass Regimental badge World War I and World War II Memorial Windows by Charles William Kelsey c. 1950/1.[43]

A war memorial window (1950) by Charles William Kelsey in the McGill War Memorial Hall depicts the figure of St. Michael and the badges of the Navy, Army and the Air Force. A Great War memorial window featuring Saint George and a slain dragon at the entrance to the Blackader-Lauterman Library of Architecture and Art is dedicated to the memory of 23 members of the McGill Chapter of Delta Upsilon who gave their lives in the Great War.[44] Six other windows (1951) by Charles William Kelsey on the west wall of the memorial hall depict the coats of arms of the regiments in which the McGill alumni were members.

There is a memorial archway at Macdonald College, two additional floors added to the existing Sir Arthur Currie gymnasium, a hockey rink and funding for an annual Memorial Assembly. A Book of Remembrance on a marble table contains the names of those lost in both World Wars. On 11 November 2012 the McGill Remembers web site launched; the University War Records Office collected documents between 1940-1946 related to McGill students, staff and faculty in the Second World War.[45]

Quotas on Jewish students[sửa | sửa mã nguồn]

Beginning in the 1920, and continuing until the 1960s, McGill imposed a controversial quota which specified a maximum on the proportion of newly admitted students who were Jewish. Up until that point Jews had been overrepresented in the university, especially in the arts (20% Jewish) and law (40% Jewish). The quota limited the Jewish population across McGill to at most 10%.[46]

Founder of universities and colleges[sửa | sửa mã nguồn]

McGill was instrumental in founding several major universities and colleges. It established the first post-secondary institutions in British Columbia to provide degree programs to the growing cities of Vancouver and Victoria. It chartered Victoria College in 1903 as an affiliated junior college of McGill, offering first and second-year courses in arts and science, until it became today's University of Victoria. British Columbia's first university was incorporated in Vancouver in 1908 as the McGill University College of British Columbia. The private institution granted McGill degrees until it became the independent University of British Columbia in 1915.[47]

Dawson College began in 1945 as a satellite campus of McGill to absorb the anticipated influx of students after World War II. Many students in their first 3 years in the Faculty of Engineering took courses at Dawson College to relieve the McGill campus for the later two years for their degree course. Dawson eventually became independent of McGill and evolved into the first English CEGEP in Quebec. Another CEGEP, John Abbott College, was established in 1971 at the campus of McGill's Macdonald College.

Both founders of the University of Alberta, Premier Alexander Cameron Rutherford of Alberta and Henry Marshall Tory, were also McGill alumni. In addition, McGill alumni and professors, Sir William Osler and Howard Atwood Kelly, were among the four founders and early faculty members of the Johns Hopkins University School of Medicine.[48] Osler eventually became the first Physician-in-Chief of the new Johns Hopkins Hospital in Baltimore, Maryland, USA in 1889. He led the creation of the Johns Hopkins University School of Medicine in 1893. Other McGill alumni founded the Schulich School of Medicine & Dentistry in the 1880s.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Heather Munroe-Blum (10 tháng 3 năm 2003). “Principal Munroe-Blum on the occasion of her installation”. McGill University. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2014. ...McGill the motto ,"Grandescunt Aucta Labore"… "By hard work, all things increase and grow." 
  2. ^ “McGill University Budget FY2019: Summary and Highlights” (PDF). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2018. 
  3. ^ “McGill University Budget FY2017”. McGill University. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2017. 
  4. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên facultystaff
  5. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên students
  6. ^ a ă “Campus Planning”. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015. 
  7. ^ a ă â Frost, Stanley Brice. McGill University, Vol. I. For the Advancement of Learning, 1801–1895. McGill-Queen's University Press, 1980. ISBN 978-0-7735-0353-3
  8. ^ “Association of American Universities”. Aau.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ “McGill newsroom”. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016. 
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên entering
  11. ^ “Enrolment Reports”. McGill University. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010. 
  12. ^ McGill Reporter staff (14 tháng 2 năm 2017). “Beatrice Yeung: McGill’s newest Rhodes Scholar”. McGill Reporter. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017. 
  13. ^ “10 Points of Pride”. 
  14. ^ “McGill grad Jennifer Sidey becomes Canada’s newest astronaut : McGill Reporter”. publications.mcgill.ca. 
  15. ^ These are Douglas Abbott, Ian Binnie, Louis-Philippe Brodeur, Claire L'Heureux-Dubé, Marie Deschamps, Morris Fish, Clément Gascon, Désiré Girouard, Louis-Philippe de Grandpré, Gerald Le Dain, Charles Gonthier, Sheilah Martin, Pierre-Basile Mignault, and Thibaudeau Rinfret
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên PP1
  17. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên PP2
  18. ^ Doug Lennox (31 tháng 8 năm 2009). Now You Know Big Book of Sports. Dundurn Press Ltd. tr. 12–. ISBN 978-1-55488-454-4. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011. 
  19. ^ “An Act for the Establishment of Free Schools and the Advancement of Learning in this Province” (PDF). 
  20. ^ “Education”. McGill University Archives. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  21. ^ Guide to the Archives, vol. 2 at archives.mcgill.ca, accessed 28 December 2017
  22. ^ James Collins Miller, National Government and Education in Federated Democracies, Dominion of Canada (1940), p. 44
  23. ^ “James McGill - Quebec History”. Faculty.marianopolis.edu. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  24. ^ Millman, Thomas R. “Mountain, Jacob” 6. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2008. 
  25. ^ “History”. McGill University General Information. 8 tháng 3 năm 2007. 
  26. ^ “The Gallery: James McGill's Will”. McGill University Archives. 2003. 
  27. ^ “Colleges A-M”. Kipnotes.com. 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2008. 
  28. ^ a ă “The Royal Charter of McGill University”. Mcgill.ca. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  29. ^ “Foundation History”. McGill University. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  30. ^ “The Gallery: 1821 Charter”. McGill University Archives. 17 tháng 5 năm 1940. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  31. ^ Crawford, DS. Montreal, medicine and William Leslie Logie: McGill's first graduate and Canada's first medical graduate. 175th. anniversary. Osler Library Newsletter # 109, 2008 [1]
  32. ^ "Department History", "McGill University Health Centre, Montreal", August 13, 2005”. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2009. 
  33. ^ Marco Polo. “Architectural Education”. Thecanadianencyclopedia.com. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  34. ^ “McGill University Faculty of Medicine: History”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2011. 
  35. ^ “Spier, William”. Dictionaryofarchitectsincanada.org. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  36. ^ “Alexander Francis Dunlop”. Dictionaryofarchitectsincanada.org. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  37. ^ “Link to this page - Library and Archives Canada”. Amicus.collectionscanada.gc.ca. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  38. ^ “Biographic Dictionary of Architects in Canada 1800-1950 Andrew Taylor (Architect)”. Dictionaryofarchitectsincanada.org. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  39. ^ “Jean Julien Perrault (architect)”. Dictionaryofarchitectsincanada.org. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  40. ^ Michael Clarke. “William Dawson”. Ccheritage.ca. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  41. ^ “Royal Victoria College”. McGill University Archives. 24 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  42. ^ “Our History: George S. Currie and George C. McDonald”. PricewaterhouseCoopers Canada. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  43. ^ “The Stained Glass War Memorials of Charles William Kelsey” (PDF). Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  44. ^ “McGill Chapter of Delta Upsilon Great War Memorial Window”. Chief Military Personnel. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  45. ^ “McGill University remembers the Second World War”. McGill University. 2013. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  46. ^ “Museum of Jewish Montreal”. imjm.ca (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2017. 
  47. ^ “Higher Education in British Columbia Before the Establishment of UBC - UBC Archives”. Library.ubc.ca. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  48. ^ “The Four Founding Physicians”. Johns Hopkins Medicine. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014.