Đại học McGill

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
McGill University
250px
150px
Tên bản địa Université McGill  (tiếng Pháp)
Tên Latinh Universitas McGill
Tên cũ McGill College or University of McGill College (1821–1885)
Khẩu hiệu Grandescunt Aucta Labore (Latin)
Nhờ lao động, mọi thứ đều tiến lên và phát triển[1]
Thông tin chung
Loại hình Đại học công lập
Thành lập 1821 (1821)
Thành viên AAU, ACU, AUCC, AUF, ATS, CARL, CBIE, CREPUQ, CUSID, GULF, Universitas 21, UArctic, UNAI, U15, URA
Ngôn ngữ Tiếng Anh and French
Tài trợ 1.63 tỷ C$[2]
Ngân sách 1.26 tỷ C$[3]
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởng danh dự Michael Meighen
Hiệu trưởng Suzanne Fortier
Giảng viên 1,684[4]
Nhân viên 3,457[4]
Sinh viên 40,971[5]
Sinh viên đại học 27,526[5]
Sinh viên sau đại học 9,704[5]
Thông tin khác
Khuôn viên Urban
Downtown: 32 ha (80 mẫu Anh)[6]
Macdonald Campus: 650 ha (1.600 mẫu Anh)[6]
Vị trí Montreal, Québec, Canada
Màu đỏ tươi và trắng         
Biệt danh McGill Redmen and Martlets
Linh vật Marty the Martlet
Website mcgill.ca

Đại học McGill là trường đại học công lập nằm tại Montreal, Quebec, Canada. Trường được thành lập năm 1821 theo hiến chương Hoàng gia do vua Geogre IV ban hành.[7] Trường mang tên theo tên của James McGill, một thương gia Montreal gốc Scotland, người đã có cuộc chinh phục năm 1813 và đã thành lập nên McGill College, tiền thân của trường.

Khuôn viên chính của McGill tọa lạc tại Mount Royal nằm trong trung tâm thành phố Montreal cùng với khuôn viên thứ hai nằm tại Sainte-Anne-de-Bellevue, cũng nằm trên Đảo Montréal, cách khuôn viên chính 30 kilomet (18 dặm) về phía Tây. Trường là một trong hai thành viên của Hiệp hội Viện Đại học Bắc Mỹ nằm ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ,[8] và là đại diện duy nhất của Canada góp mặt trong Diễn đàn lãnh đạo các trường đại học toàn cầu (GULF) thuộc khuôn khổ của Diễn đàn Kinh tế thế giới, khi chỉ có 26 trường đại học hàng đầu thế giới được tham dự vào diễn đàn.[9]

McGill cung cấp học vị và bằng cấp cho hơn 300 lĩnh vực nghiên cứu, với các yêu cầu tuyển sinh trung bình cao nhất so với bất kỳ trường đại học Canada nào khác.[10] Đa phần các sinh viên đăng kí vào năm khoa lớn nhất, lần lượt là Nghệ thuật, Khoa học, Dược, Kỹ thuật, và Quản lí.[11]

Trong số các học viên đã được đào tạo tại McGill, đã có 12 người đoạt giải Nobel và 144 học bổng Rhodes Scholars, cả hai đều đạt số lượng nhiều nhất so với các trường đại học ở Canada,[12][13] cũng như có năm người được chọn làm phi hành gia,[14] 3 Thủ tướng Canada, nhà Toàn quyền Canada đương nhiệm, 14 thẩm phán của Tòa án Tối cao Canada,[15] 4 lãnh đạo nước ngoài, 28 đại sứ nước ngoài, 9 người thắng giải Oscar, 11 người thắng giải Grammy, 3 người thắng giải Pulitzer,[16][17] và 28 người dành huy chương tại Olympic, tính tổng các quốc gia khác nhau. Trong lịch sử phát triển, các cựu sinh viên McGill đã góp phần vào việc sáng lập hoặc lần đầu tổ chức các môn thể thao bóng bầu dục Mỹ, bóng rổ, và khúc côn cầu trên băng.[18] Trường đại học McGill hoặc các cựu học viên của trường cũng đã thành lập một số trường đại học và cao đẳng lớn, bao gồm các trường đại học thuộc khuôn khổ của British Columbia, VictoriaAlberta, Trường Y & Nha khoa Schulich, Trường Y khoa Đại học Johns HopkinsTrường Cao đẳng Dawson.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Viện khuyến học Hoàng gia[sửa | sửa mã nguồn]

Viện khuyến học Hoàng gia (RIAL) đã được thành lập năm 1801 theo một Đạo luật của Hội đồng Lập pháp Hạ viện Canada, Một đạo luật cho việc thành lập các trường học miễn phí và sự tiến bộ trong học tập tại tỉnh này.[19]

Năm 1816, RIAL được phép mở thêm hai Trường Trung học Hoàng gia mới, tại thành phố Quebec City và Montreal. Đây là một bước ngoặt cho giáo dục công lập ở Lower Canada khi các trường học được tạo ra bởi luật pháp. Đạo luật Trường Công lập năm 1807 cho thấy sự sẵn sàng của chính phủ trong việc hỗ trợ chi phí giáo dục và thậm chí cả việc chi trả mức lương của một hiệu trưởng. Đây là bước đi quan trọng đầu tiên trong việc tạo ra các ngôi trường không thuộc về tôn giáo. Khi James McGill qua đời vào năm 1813 quyền quản lí thừa kế đã được giao cho RIAL.

Trong hai trường Trung học Hoàng gia ban đầu, một trường đã bị đóng cửa năm 1846 và ngôi trường còn lại được sáp nhập với Trường Trung Học Montreal. Vào giữa thế kỉ 19, RIAL mất quyền quản lí 28 trường trung học hoàng gia.[20] Tuy nhiên, năm 1853, RIAL đã tiếp quản trường trung học Montreal từ Hội đồng quản trị của trường và tiếp tục hoạt động cho đến năm 1870.[21][22] Sau đó, mục đích duy nhất còn lại của nó là quản lý tài sản của McGill thay cho cho trường đại học tư nhân. RIAL vẫn còn hoạt động đến ngày nay; nó là hệ thống nhận dạng thương hiệu điều hành các trường đại học và các cơ quan thành phần khác nhau của trường, bao gồm cả Macdonald College cũ (nay là Macdonald Campus), Viện Thần kinh học Montreal và Royal Victoria College (trường đại học nữ cũ chuyển đến nơi khác). Kể từ khi Hiến chương Hoàng gia sửa đổi vào năm 1852, các ủy viên của RIAL đã góp mặt trong Hội đồng quản trị của Đại học McGill.[7]

McGill College[sửa | sửa mã nguồn]

James McGill, nhà tài trợ ban đầu của Đại học McGill.

James McGill sinh ra tại Glasgow, Scotland ngày 6 tháng 10 năm 1744, là một thuơng gia thành công tại Quebec, đã nhập học tại Đại học Glasgow vào năm 1756.[23] Giữa năm 1811 và 1813,[24] ông đã hiến "phần đất Burnside" của mình, một vùng đất đồng quê rộng 19 hécta (47 mẫu Anh) và 10,000 pound cho Viện khuyến học Hoàng gia.[25][26][27]

Trước cái chết của McGill vào tháng 12 năm 1813, Viện Khuyến học Hoàng Gia đã thành lập vào năm 1801 theo Đạo luật của Hội đồng Lập pháp Hạ viện Canada,[28] thiết lập thêm một trường đại học phù hợp với các điều kiện của McGill theo chức năng ban đầu của nó về quản lý tiểu họcLower Canada.

Theo điều lệ của di chúc, đất đai và nguồn quỹ phải được dùng để thành lập một "trường đại học hoặc cao đẳng, cho mục đích giáo dục và sự tiến bộ học tập tại tỉnh được nói đến."[28] Di chúc quy định rằng một trường đại học tư nhân lập hiến[7] mang tên ông sẽ thành lập trong vòng 10 năm kể từ khi ông mất; nếu không quyền thừa kế sẽ được trao lại cho những người thừa kế của vợ ông.[29]

Ngày 31 tháng 3 năm 1821, sau khi kéo dài cuộc chiến pháp lý với gia đình Desrivières (những người thừa kế bên vợ), McGill College nhận được một hiến chương hoàng gia từ Vua George IV. Hiến chương quy định rằng trường nên được xem và hoạt động như Viện đại học, khi có toàn quyền cấp các học vị.[30]

Mở rộng trường[sửa | sửa mã nguồn]

Mở rộng khuôn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Sir John William Dawson, Hiệu trưởng trường McGill University nhiệm kì 1855–1893
Toà nhà Nghệ thuật, hoàn thành vào năm 1843 và được thiết kế bởi John Ostell là tòa nhà cổ nhất trong khuôn viên.

Mặc dù McGill College nhận được Hiến chương Hoàng gia vào năm 1821, trường đã không hoạt động vào thời điểm đó, mãi đến năm 1829, khi Viện Y tế Montreal được thành lập vào năm 1823, trở thành đơn vị học tập đầu tiên của trường và là trường y khoa đầu tiên của Canada. Khoa Y học cấp bằng Tiến sĩ Y khoa và Phẫu thuật lần đầu tiên vào năm 1833; đây cũng là bằng y khoa đầu tiên được cấp ở Canada.[31]

Khoa Y vẫn là khoa giảng dạy duy nhất của trường cho đến năm 1843, khi Khoa Nghệ thuật bắt đầu được giảng dạy tại Tòa nhà Nghệ thuật mới được xây dựng và khu East Wing (Dawson Hall).[32] Trường cũng có lịch sử liên kết chặt chẽ với Grenadier Guards Canada, một trung đoàn quân sự nơi James McGill phục vụ với chức vụ Trung tá. Tên trung đoàn được khắc trên tảng đá đặt trước tòa nhà Nghệ thuật, nơi trung đoàn Guards diễu hành thường niên vào Ngày tưởng niệm.

Khoa Luật được thành lập vào năm 1848 và nơi đây cũng là trường giảng dạy khoa Luật lâu đời nhất trên toàn quốc. 48 năm sau, trường kiến trúc tại Đại học McGill cũng đã được thành lập.[33]

Sir John William Dawson, hiệu trưởng của McGill từ năm 1855 đến năm 1893, thường được ghi nhận với ý định muốn chuyển trường lúc bấy giờ thành một trường đại học hiện đại.[34] Ông đã kêu gọi giúp đỡ viện trợ của những công dân giàu có nhất vùng Montreal (tám mươi phần trăm tài sản của Canada khi đó được kiểm soát bởi những gia đình sống trong khu vực Golden Square Mile bao quanh đại học), nhiều người trong số đó đã tài trợ và quyên góp nguồn quỹ cần thiết để xây dựng các tòa nhà trong khuôn viên trường. Tên của họ được lưu giữ trên nhiều tòa nhà nổi bật của trường.

William Spier thiết kế thêm khu West Wing của Tòa nhà Nghệ thuật theo yêu cầu của William Molson vào năm 1861[35] Alexander Francis Dunlop đã làm mới lại phần lớn khu East Wing của Trường cao đẳng McGill (ngày nay được gọi là Tòa nhà Nghệ thuật, Đại học McGill) theo lời đề nghị của Prof. Bovey và khoa Khoa học vào năm 1888.[36] Việc mở rộng vẫn tiếp tục được thực hiện đến năm 1920. Các tòa nhà được thiết kế bởi Andrew Taylor bao gồm Viện bảo tàng Redpath (1880), Tòa nhà khoa Vật lí Macdonald (1893), Thư viện Redpath (1893), Tòa nhà khoa Hoá Học Macdonald (1896), Tòa nhà khoa Xây dựng Macdonald (1907) - hiện tại được gọi là Tòa nhà thư viện Macdonald-Stewart và Tòa nhà Y khoa Strathcona Medical(1907) — đã đổi tên thành Tòa nhà Nha khoa và Giải phẫu học Strathcona.

Năm 1900, trường thành lập Thư viện di động MacLennan. McGill University Waltz được Frances C. Robinson soạn và được xuất bản tại Montréal bởi W.H. Scroggie năm 1904.[37]

McGill University và Mount Royal, 1906, Panoramic Photo Company

Năm 1885, Hội đồng quản trị của trường đại học chính thức thông qua việc sử dụng tên "Đại học McGill". Năm 1905, trường mua lại khuôn viên thứ hai khi William C. Macdonald, một trong những nhà hảo tâm chính của trường đại học, cấp cho một trường cao đẳng ở Sainte-Anne-de-Bellevue, cách Montreal 32 kilomet về phía Tây. Macdonald College, giờ được gọi là Macdonald Campus, đã mở cửa chào đón sinh viên vào năm 1907, ban đầu phục vụ các chương trình về nông nghiệp, khoa học gia đình và giảng dạy.

George Allan Ross thiết kế Tòa nhà Bệnh lí học trong khoảng thời gian 1922–23; Viện Thần kinh vào năm 1933; Viện Thần kinh bổ sung năm 1938 tại Đại học McGill.[38] Jean Julien Perrault thiết kế dinh thự McTavish Street cho Charles E. Gravel, ngày nay được gọi là David Thompson House (1934).[39]

Giáo dục cho phụ nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục cho phụ nữ tại McGill bắt đầu từ năm 1884, khi Donald Smith (sau Lord Strathcona and Mount Royal), bắt đầu tài trợ cho các bài giảng dành riêng cho phụ nữ, do các nhân viên đại học soạn ra. Bằng cho phụ nữ đầu tiên tại McGill đã được cấp vào năm 1888.[40] Năm 1899, Trường cao đẳng Royal Victoria (RVC) mở cửa với danh nghĩa trường cao đẳng dân lập cho phụ nữ tại McGill với Hilda D. Oakeley đứng đầu. Đến những năm 1970, tất cả sinh viên đại học nữ, được gọi là "Donaldas," có thể gia nhập trường RVC.[41] Bắt đầu từ mua thu năm 2010, khu Tower mới của Royal Victoria College là kí túc xá "co-ed", trong khi khu vực West Wing cũ vẫn còn khắt khe với phụ nữ. Cả khu Tower và West Wing của Royal Victoria College đều là một phần trong hệ thống nơi ở của trường đại học.

McGill in the Great War[sửa | sửa mã nguồn]

Bức ảnh chụp tại Đại học McGill, Montreal năm 1915 before the departure of the 2nd University Company for France. The Company reinforced Princess Patricia's Canadian Light Infantry on the Somme in October 1915
Stained Glass Great War Memorial entrance to the Blackader-Lauterman Library of Architecture and Art

Đại học McGill đóng vai trò quan trọng trong Chiến tranh Thế giới. Nhiều sinh viên và cựu sinh viên đã hăng hái gia nhập vào làn sóng yêu nước mở đầu trên khắp quốc gia năm 1914, nhưng mùa xuân năm 1915 — sau làn sóng thương vong nặng của người Canada tại Ypres — Hamilton Gault, người sáng lập của trung đoàn Canada và một doanh nhân giàu có ở Montreal, đã phải đối mặt với sự thiếu hụt quân đội trầm trọng. Khi ông liên lạc với bạn bè tại quê nhà để nhận được hỗ trợ, hơn hai trăm người được ủy nhiệm các cấp bậc, và nhiều người được ủy nhiệm vai trò những người lính trong suốt cuộc chiến. Trở về Canada sau chiến tranh, Major George McDonald và Major George Currie đã thành lập công ty kế toán McDonald Currie, sau này đã trở thành một trong những nhà sáng lập của Price Waterhouse Coopers.[42] Chủ tịch Percival Molson đã bị sát hại vào tháng 7 năm 1917. Sân vận động Percival Molson Memorial tại McGill được đặt tên theo tên ông.

Hội trường Tưởng niệm Chiến tranh (còn được gọi là Hội trường Tưởng niệm) là một tòa nhà mang tính bước ngoặt trong khuôn viên trường Đại học McGill. Tại lễ dâng hiến, Tổng thống Canada (Harold Alexander, Earl Alexander đệ nhất Tunis) đã đặt nền tảng khởi công. Vào ngày 6 tháng 10 năm 1946, tại Hội trường Tưởng niệm cùng với Hồ Tưởng niệm đã dành riêng một ngày để vinh danh những học sinh đã gia nhập quân đội và hy sinh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tại Hội trường Tưởng niệm, có hai Stained Glass Regimental badge Cửa sổ Tưởng niệm Chiến tranh Thế giới thứ nhất và Chiến tranh thứ hai thực hiện bởi Charles William Kelsey c. 1950/1.[43]

A war memorial window (1950) by Charles William Kelsey in the McGill War Memorial Hall depicts the figure of St. Michael and the badges of the Navy, Army and the Air Force. A Great War memorial window featuring Saint George and a slain dragon at the entrance to the Blackader-Lauterman Library of Architecture and Art is dedicated to the memory of 23 members of the McGill Chapter of Delta Upsilon who gave their lives in the Great War.[44] Six other windows (1951) by Charles William Kelsey on the west wall of the memorial hall depict the coats of arms of the regiments in which the McGill alumni were members.

There is a memorial archway at Macdonald College, two additional floors added to the existing Sir Arthur Currie gymnasium, a hockey rink and funding for an annual Memorial Assembly. A Book of Remembrance on a marble table contains the names of those lost in both World Wars. On 11 November 2012 the McGill Remembers web site launched; the University War Records Office collected documents between 1940-1946 related to McGill students, staff and faculty in the Second World War.[45]

Quotas on Jewish students[sửa | sửa mã nguồn]

Beginning in the 1920, and continuing until the 1960s, McGill imposed a controversial quota which specified a maximum on the proportion of newly admitted students who were Jewish. Up until that point Jews had been overrepresented in the university, especially in the arts (20% Jewish) and law (40% Jewish). The quota limited the Jewish population across McGill to at most 10%.[46]

Founder of universities and colleges[sửa | sửa mã nguồn]

McGill was instrumental in founding several major universities and colleges. It established the first post-secondary institutions in British Columbia to provide degree programs to the growing cities of VancouverVictoria. It chartered Victoria College in 1903 as an affiliated junior college of McGill, offering first and second-year courses in arts and science, until it became today's University of Victoria. British Columbia's first university was incorporated in Vancouver in 1908 as the McGill University College of British Columbia. The private institution granted McGill degrees until it became the independent University of British Columbia in 1915.[47]

Dawson College began in 1945 as a satellite campus of McGill to absorb the anticipated influx of students after World War II. Many students in their first 3 years in the Faculty of Engineering took courses at Dawson College to relieve the McGill campus for the later two years for their degree course. Dawson eventually became independent of McGill and evolved into the first English CEGEP in Quebec. Another CEGEP, John Abbott College, was established in 1971 at the campus of McGill's Macdonald College.

Both founders of the University of Alberta, Premier Alexander Cameron Rutherford of Alberta and Henry Marshall Tory, were also McGill alumni. In addition, McGill alumni and professors, Sir William OslerHoward Atwood Kelly, were among the four founders and early faculty members of the Johns Hopkins University School of Medicine.[48] Osler eventually became the first Physician-in-Chief of the new Johns Hopkins Hospital in Baltimore, Maryland, USA in 1889. He led the creation of the Johns Hopkins University School of Medicine in 1893. Other McGill alumni founded the Schulich School of Medicine & Dentistry in the 1880s.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Heather Munroe-Blum (10 tháng 3 năm 2003). “Principal Munroe-Blum on the occasion of her installation”. McGill University. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2014. ...McGill the motto,"Grandescunt Aucta Labore"… "By hard work, all things increase and grow." 
  2. ^ “McGill University Budget FY2019: Summary and Highlights” (PDF). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2018. 
  3. ^ “McGill University Budget FY2017”. McGill University. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2017. 
  4. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên facultystaff
  5. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên students
  6. ^ a ă “Campus Planning”. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2015. 
  7. ^ a ă â Frost, Stanley Brice. McGill University, Vol. I. For the Advancement of Learning, 1801–1895. McGill-Queen's University Press, 1980. ISBN 978-0-7735-0353-3
  8. ^ “Association of American Universities”. Aau.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ “McGill newsroom”. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016. 
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên entering
  11. ^ “Enrolment Reports”. McGill University. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010. 
  12. ^ McGill Reporter staff (14 tháng 2 năm 2017). “Beatrice Yeung: McGill’s newest Rhodes Scholar”. McGill Reporter. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2017. 
  13. ^ “10 Points of Pride”. 
  14. ^ “McGill grad Jennifer Sidey becomes Canada’s newest astronaut: McGill Reporter”. publications.mcgill.ca. 
  15. ^ These are Douglas Abbott, Ian Binnie, Louis-Philippe Brodeur, Claire L'Heureux-Dubé, Marie Deschamps, Morris Fish, Clément Gascon, Désiré Girouard, Louis-Philippe de Grandpré, Gerald Le Dain, Charles Gonthier, Sheilah Martin, Pierre-Basile Mignault, and Thibaudeau Rinfret
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên PP1
  17. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên PP2
  18. ^ Doug Lennox (31 tháng 8 năm 2009). Now You Know Big Book of Sports. Dundurn Press Ltd. tr. 12–. ISBN 978-1-55488-454-4. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011. 
  19. ^ “An Act for the Establishment of Free Schools and the Advancement of Learning in this Province” (PDF). 
  20. ^ “Education”. McGill University Archives. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  21. ^ Guide to the Archives, vol. 2 at archives.mcgill.ca, accessed 28 December 2017
  22. ^ James Collins Miller, National Government and Education in Federated Democracies, Dominion of Canada (1940), p. 44
  23. ^ “James McGill - Quebec History”. Faculty.marianopolis.edu. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  24. ^ Millman, Thomas R. “Mountain, Jacob” 6. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2008. 
  25. ^ “History”. McGill University General Information. 8 tháng 3 năm 2007. 
  26. ^ “The Gallery: James McGill's Will”. McGill University Archives. 2003. 
  27. ^ “Colleges A-M”. Kipnotes.com. 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2008. 
  28. ^ a ă “The Royal Charter of McGill University”. Mcgill.ca. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  29. ^ “Foundation History”. McGill University. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  30. ^ “The Gallery: 1821 Charter”. McGill University Archives. 17 tháng 5 năm 1940. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  31. ^ Crawford, DS. Montreal, medicine and William Leslie Logie: McGill's first graduate and Canada's first medical graduate. 175th. anniversary. Osler Library Newsletter # 109, 2008 [1]
  32. ^ "Department History", "McGill University Health Centre, Montreal", August 13, 2005”. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2009. 
  33. ^ Marco Polo. “Architectural Education”. Thecanadianencyclopedia.com. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  34. ^ “McGill University Faculty of Medicine: History”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2011. 
  35. ^ “Spier, William”. Dictionaryofarchitectsincanada.org. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  36. ^ “Alexander Francis Dunlop”. Dictionaryofarchitectsincanada.org. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  37. ^ “Link to this page - Library and Archives Canada”. Amicus.collectionscanada.gc.ca. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  38. ^ “Biographic Dictionary of Architects in Canada 1800-1950 Andrew Taylor (Architect)”. Dictionaryofarchitectsincanada.org. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  39. ^ “Jean Julien Perrault (architect)”. Dictionaryofarchitectsincanada.org. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  40. ^ Michael Clarke. “William Dawson”. Ccheritage.ca. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  41. ^ “Royal Victoria College”. McGill University Archives. 24 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  42. ^ “Our History: George S. Currie and George C. McDonald”. PricewaterhouseCoopers Canada. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  43. ^ “The Stained Glass War Memorials of Charles William Kelsey” (PDF). Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  44. ^ “McGill Chapter of Delta Upsilon Great War Memorial Window”. Chief Military Personnel. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  45. ^ “McGill University remembers the Second World War”. McGill University. 2013. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  46. ^ “Museum of Jewish Montreal”. imjm.ca (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2017. 
  47. ^ “Higher Education in British Columbia Before the Establishment of UBC - UBC Archives”. Library.ubc.ca. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2012. 
  48. ^ “The Four Founding Physicians”. Johns Hopkins Medicine. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014.