Zbigniew Brzezinski

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Zbigniew Brzezinski
Zbigniew Brzezinski, 1977.jpg
Chức vụ
Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ
Nhiệm kỳ 20 tháng 1 năm 1977 – 20 tháng 1 năm 1981
Tiền nhiệm Brent Scowcroft
Kế nhiệm Richard V. Allen
Thông tin chung
Đảng phái Dân chủ
Sinh 28 tháng 3, 1928(1928-03-28)
Warszawa, Ba Lan
Mất 26 tháng 5, 2017 (89 tuổi)
Falls Church, Virginia, Hoa Kỳ
Trường Đại học McGill
Đại học Harvard
Nghề nghiệp Chính trị gia, Nhà phê bình
Vợ Emilie Benes Brzezinski (kết hôn 1955–nay) «start: (1955)»"Hôn nhân: Emilie Benes Brzezinski đến Zbigniew Brzezinski" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Zbigniew_Brzezinski)
Con cái Ian (b. 1963)
Mark (b. 1965)
Mika (b. 1967)

Zbigniew Kazimierz Brzezinski ( /ˈzbɪɡniɛv brəˈʒɪnski/ ZBIG-niev brə-ZHIN-skee;[1] tiếng Ba Lan: Zbigniew Kazimierz Brzeziński [ˈzbʲiɡɲɛf kaˈʑimʲɛʂ bʐɛˈʑiɲskʲi]; sinh ngày 28 tháng 3 năm 1928 - mất ngày 26 tháng 5 năm 2017) là một nhà khoa học chính trị, chiến lược gia địa chính trị, một chính khách người Mỹ gốc Ba Lan. Ông đã cố vấn cho tổng thống Lyndon B. Johnson 1966–1968 và giữ chức Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ cho tổng thống Jimmy Carter 1977-1981. Brzezinski thuộc trường phái lý thuyết gia chủ nghĩa hiện thực trong ngành quan hệ quốc tế, về địa chính trị theo truyền thống Halford MackinderNicholas J. Spykman.[2][3]

Những biến cố lớn về chính sách chính trị trong nhiệm kỳ của ông ta bao gồm việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, những thảo luận đưa tới hiệp ước giảm vũ khí chiến thuật (SALT II); môi giới hòa ước Camp David giữa Ai Cập và Do Thái (1978); sự chuyển biến của Ba Tư từ một nước thân hữu quan trọng của Hoa Kỳ sang một cộng hòa hồi giáo chống phương Tây; khuyến khích những nhà bất đồng chính kiến ở Đông Âu và nhấn mạnh nhân quyền để làm hao mòn ảnh hưởng Liên Xô;[4] việc tiếp tế tài chính cho mujahideen ở Afghanistan để trả lời cho việc Liên Xô thiết lập lực lượng ở đó[5] và trạng bị vũ khí cho lực lượng nổi dậy chốn glaji cuộc xâm lăng của Liên Xô; và việc ký hiệp ước Torrijos-Carter Treaties từ bỏ kiểm soát của Hoa Kỳ đối với Kênh đào Panama sau 1999.

Brzezinski hiện là giáo sư Robert E. Osgood về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại trường nghiên cứu quốc tế cao cấp thuộc Johns Hopkins University, học giả tại Center for Strategic and International Studies, và thành viên nhiều hội đồng và ủy ban. Ông ta xuất hiện thường xuyên như là một chuyên viên trên chương trình PBS The NewsHour with Jim Lehrer, ABC News' This Week with Christiane Amanpour, và trên MSNBC Morning Joe, nơi con gái ông, Mika Brzezinski, một hướng dẫn viên chương trình tin tức. Trong những năm gần đây, ông cũng là một trong những người ủng hộ Tuyên ngôn Praha.[6] Con trai ông, Mark Brzezinski, là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ và hiện là đại sứ Hoa Kỳ tại Thụy Điển từ 2011.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Pronounce - Browse all names for U.S.”. VOA News. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2014. 
  2. ^ Sabine Feiner: Weltordnung durch US-Leadership? Die Konzeption Zbigniew K. Brzezinskis. Westdeutscher Verlag, Wiesbaden 2001
  3. ^ http://globalengage.org/attachments/771_seiple_dissertation.pdf
  4. ^ Tim Weiner. Legacy of Ashes: The History of the CIA.
  5. ^ Gates, Robert M. (ngày 9 tháng 1 năm 2007). From the Shadows: The Ultimate Insider's Story of Five Presidents and How They Won the Cold War. Simon and Schuster. tr. 146. ISBN 9781416543367. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  6. ^ “Prague Declaration on European Conscience and Communism” (Thông cáo báo chí). Victims of Communism Memorial Foundation. Ngày 9 tháng 6 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2011.