Đấu vật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thi vật trong đội Không quân Hoa Kỳ(Vật theo phong cách Mỹ)
Tranh dân gian Đông Hồ miêu tả đấu vật tại Việt Nam

Đấu vật là môn thể thao tác chiến giữa hai đối thủ cố gắng kềm chế đối phương bằng cách nắm, kéo, vặn, đè, v.v... nhưng không được trực tiếp đấm hay đá. Tùy theo luật lệ của từng địa phương, bàn thắng về tay người dự giải nào chiếm được nhiều ưu điểm: bằng các đè ngữa đối phương, hoặc đối phương chịu thua hay bị đẩy ra ngoài vòng thi đấu. Những vận động viên tham gia môn thể thao này được gọi là các đô vật.

Đấu vật là môn thể thao có lịch sử lâu đời,tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới và có nhiều biến thể khác nhau.

Đấu vật tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin chung[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam,đấu vật là một trò chơi dân gian mang tính cổ truyền ở hầu hết các tỉnh miền Bắc. Các làng nổi tiếng với môn vật là :Trung Mầu (Gia Lâm), Vị Thanh (Vĩnh Yên). Mai Động (Hà Nội), Thức Vụ (Nam Định), Phong Châu, Đoan Hùng (Vĩnh Phú)...

Một sân đấu vật tại Hội Lim (Việt Nam)

Tại Việt Nam,một trân đấu có hai người vật nhau gọi là một keo vật, những thế vật gọi là "miếng". Một đô vật giỏi, không chỉ cần khỏe mà cần nhanh nhẹn để có thể thi thố những miếng vật bất ngờ mới đủ hạ được đối phương.

Theo phong tục Việt Nam(gọi là lệ), muốn thắng phải vật cho đối phương "ngã ngựa trắng bụng" hay "lấm lưng trắng bụng" hoặc nhấc bổng được đối phương lên.

Vật tại Việt Nam thường tổ chức dưới dạng các hội vật vào tháng Giêng âm lịch. Vật có nhiều giải phụ và ba giải chính. Những giải phụ gọi là giải hàng dành cho ai thắng một keo vật bất kỳ. Những giải chính hàng năm đều có người giữ với điều kiện người đó phải thắng trong suốt thời gian mở hội.

Người phá giải là người vật thắng người giữ giải năm trước, tuy nhiên phải vật ngã thêm một số đô vật khác mới thắng giải.

Diễn biến chung của một keo vật[sửa | sửa mã nguồn]

Đô vật khi dự vật mình trần trùng trục và chỉ đóng một chiếc khố. Trước khi vật, hai đối thủ cùng nhau lên đài, múa tay co chân, đi lại rình miếng lẫn nhau. Sau đó hộ xông vào nhau ôm lấy nhau mà vật.

Có hai người làm nhiệm vụ phất cờ và đánh trống trong lúc các đối thủ vật nhau. Người đánh trống cầm một chiếc trống khẩu ghé vào tai các lực sĩ đánh ba tiếng một như để khuyến khích thúc giục. Người phất cầm cờ cán dài để ngăn cản người xem khỏi lấn vào sân vật và phất cờ theo nhịp trống khi có người thắng cuộc để cổ động người thắng.

Lúc vật, khi biết mình bị " bắt bài" (gọi là lỡ miếng), đô vật liền nằm bò sát đất, mặc cho đối phương vằn bốc nhằm tránh bị nhấc khỏi mặt đất, và chỉ nhổm dậy khi đối phương hở cơ.

Hai loại tấn công chủ đạo của vật Việt Nam là những miếng ngáng, miếng đệm làm cho đối phương ngã xuống và những miếng bốc để nhấc bổng đối thủ lên.

Đối với ba giải chính, phá xong mỗi giải, hoặc do người giữ giải đã vật đủ số người theo lệ định, hoặc do người phá giải đã toàn thắng, dân làng thường đốt một bánh pháo toàn hồng để mừng.

Tín ngưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thuyết, Bà Lê Chân nữ tướng tiên phong của Hai Bà Trưng, xưa kia đã dùng môn vật để tuyển binh, tuyển tướng. Vì vậy, làng Mai Động, mỗi khi mở hội vật đều có làm lễ xin phép Bà và đồng thời để nhắc nhở lại những kỷ niệm của Bà Lê Chân thuở trước.

Đấu vật chuyên nghiệp (Đấu vật tự do kiểu Mỹ)[sửa | sửa mã nguồn]

Đấu vật chuyên nghiệp (professional wrestling) là một dạng đấu vật mang tính biểu diễn. Khác với những môn thi đấu mang tính cạnh tranh, trong đấu vật chuyên nghiệp chuyện thắng hay thua hoàn toàn không quan trọng, bởi vì thắng thua là do người viết kịch bản quyết định (gọi là "booker"). Tuy nhiên, "booker" chỉ quyết định ai sẽ thắng, và thắng như thế nào. Mỗi đô vật được gọi là "siêu sao" (superstar), nữ gọi là "diva". Ví dụ, "booker" quyết định "siêu sao" A sẽ thắng "siêu sao" B một cách rõ ràng, hay thắng nhờ ăn gian, hay có người giúp đỡ, v.v. Sau đó những đô vật này sẽ tự tập luyện những chi tiết với nhau trong vòng một tuần, và khi ra đấu sẽ diễn lại những gì đã tập dợt sẵn. Trong lúc những môn như quyền Anh, những vận động viên tập luyện kĩ năng để gây sát thương cho nhau, thì những đô vật chuyên nghiệp luyện kỹ năng để giúp đỡ lẫn nhau, và bảo vệ nhau trong lúc biểu diễn để tránh chấn thương.

Mỗi "siêu sao" có một chiêu thức để kết thúc trận đấu, ví dụ như Triple H có "Pedigree", hay Shawn Michaels có "SCM" (Sweet Chin Music), khi sử dụng chiêu thức này thường là chiến thắng luôn. Chiến thắng có thể bằng nhiều cách, như "Pin fall" (đè đếm đến 3), hay "submission" (chịu thua). "The Ankle Lock" của Kurt Angle là thuộc loại "submission". Những chiêu thức này thường có vẻ ghê gớm, nhưng khi đánh thì các đô vật sử dụng tiểu xảo để bảo vệ đối thủ khỏi bị chấn thương. Khi một đô vật chuyên nghiệp giả vờ tỏ ra đau đớn sau khi bị đánh thì gọi là "sell a move".

Trong đấu vật chuyên nghiệp có thể nói là không có đô vật, chỉ có "nhân vật", mỗi "nhân vật" cố tạo ngoại hình, tính cách khác biệt, và phải đăng ký "chiêu thức" khác nhau để tránh trùng lặp. Ví dụ: Eddie Fatu từng đóng vai các nhân vật Jamal, Ekmo, và gần đây, Umaga. Tuy Eddie Fatu nói tiếng Anh rất rành (là người Mỹ), nhân vật Umaga lại tỏ ra hoàn toàn không biết tiếng Anh.

Kurt Angle, vô địch hạng nặng Olympic Atlanta 1996. Anh là đô vật chuyên nghiệp duy nhất có huy chương vàng

Những đô vật ký hợp đồng với một công ty sẽ có những câu chuyện để họ "xung đột" với nhau. Một "xung đột" giữa "siêu sao" A và "siêu sao" B sẽ đánh nhau trong một thời gian vài tuần, nếu được khán giả hâm mộ, sẽ kéo dài thêm. Thường trong những buổi diễn bình thường, họ dùng lúc này để xây dựng vụ xung đột cho thêm gây cấn, sau đó sẽ có trận đấu ở các buổi diễn lớn (gọi là "Pay Per View"). Để dễ viết những câu chuyện, các đô vật được chia làm 2 phe: vai tốt (gọi là "babyface") và vai xấu (gọi là "heel"). Một cuộc "xung đột" thường diễn ra giữa một "vai tốt" và một "vai xấu". "Vai tốt" thường tỏ ra mạnh mẽ và hay giúp đỡ kẻ yếu, còn "vai xấu" tỏ ra hèn nhát, tìm cách ăn gian để chiến thắng. Những "siêu sao" thường xuyên đổi từ "vai tốt" sang "vai xấu" và ngược lại. Ví dụ như Randy Orton khi "xung đột" với Triple H ở năm 2003 thì là "vai tốt", nhưng vào năm 2007 khi "xung đột" với John Cena thì đóng "vai xấu". Khi khán giả đi xem đấu vật, họ sẽ cổ vũ cho nhân vật tốt, và chế giễu nhân vật xấu; ví dụ như dù nhiều khán giả hâm mộ Edge, họ vẫn sẽ chế giễu anh ta, bởi vì anh ta đóng vai xấu.

Do không có tính cạnh tranh, nên các đô vật chuyên nghiệp thản nhiên sử dụng chất kích thích (steroid), để giảm mỡ, tăng trọng, và có cơ bắp cuồn cuộn để khán giả thích. Tuy nhiên, việc sử dụng chất kích thích này gây hại, và gần đây nhiều vụ scandal đã xảy ra như cái chết của Eddie Guerrero (suy tim năm 2005) và vụ tự sát giết vợ con của Chris Benoit (2007).

Công ty professional wrestling lớn và lâu đời nhất là WWE (có tới 3 show là RAW, SmackDown!ECW), với những người cực kỳ nổi tiếng như Hulk Hogan, Stone Cold Steve Austin, The RockRVD. Những công ty bé hơn là TNA, ROH. TNA gần đây có nhiều đô vật nổi tiếng như A.J. StylesSamoa Joe.

Do một kĩ năng quan trọng của đô vật chuyên nghiệp là diễn xuất nên một số người đã được mời đi đóng phim, như Hulk Hogan, The Rock, Stone Cold, hay HHH trong phim Blade 3: Trinity.

Đấu vật tại Nhật Bản (Sumo)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sumo

Sumo (tiếng Nhật: 相撲 hoặc すもう, đọc là Xư-mô) là một môn võ cổ truyền của Nhật Bản. Hai lực sĩ sumo sẽ phải đấu với nhau trong một vòng tròn gọi là dohyo (土俵) có đường kính khoảng 4,55 mét (hay 15 shaku theo đơn vị đo chiều dài ở Nhật Bản). Lực sĩ nào bị ngã trong vòng tròn trước hay bị đẩy khỏi vòng tròn trước là người thua cuộc.

Thành tích tại các thế vận hội[sửa | sửa mã nguồn]

Điêu khắc "Võ sĩ Đô Vật" do Pankratiast - Viện bảo tàng Uffizi, Firenze Ý

Những người đoạt huy hương giải đấu vật hạng nặng (96 kg)

Năm Tại Vàng Bạc Đồng
1972 München Ivan Yarygin (Liên Xô) Khorloo Bainmunkh (Mông Cổ) Jozsef Csatari (Hungary)
1976 Montréal Ivan Yarygin (Liên Xô) Russell Hellickson (Hoa Kỳ) Dimo Kostov (Bulgaria)
1980 Moskva Illya Mate (Liên Xô Slavcho Chervenkov (Bulgaria) Julius Strnisko (Cộng hòa Séc)
1984 Los Angeles Louis Banach (Hoa Kỳ) Joseph Atiyeh (Syria) Vasile Puscasu (România)
1988 Seoul Vasile Puscasu (România) Leri Khabelov (Liên Xô) William Scherr (Hoa Kỳ)
1992 Barcelona Leri Khabelov (EUN) Heiko Balz (Đức) Au Kayali (Thổ Nhĩ Kỳ)
1996 Atlanta Kurt Angle (Hoa Kỳ) Abbas Jadidi (Iran) Arawat Sabejew (Đức)
2000 Sydney Saghid Mourtasaliyev (Nga) Islam Bayramukov (Kazakhstan) Eldar Kurtanidze (Gruzia)
2004 Athena Khajimurat Gatsalov (Nga) Magomed Ibragimov (Uzbekistan) Alireza Heidari (Iran)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]