Bước tới nội dung

Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1989

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 15
Tập tin:1989 sea games.png
Thành phố chủ nhàKuala Lumpur, Malaysia
Khẩu hiệuNow is the time
(Malay: Kini Saatnya)
Quốc gia tham dự9
Các sự kiện25 môn thể thao
Lễ khai mạc20 tháng 8 năm 1989
Lễ bế mạc31 tháng 8 năm 1989
Tuyên bố khai mạc bởiSultan Azlan Shah
Quốc vương Malaysia
Tuyên bố bế mạc bởiSultan Azlan Shah
Quốc vương Malaysia
Địa điểm nghi thứcSân vận động Merdeka
Jakarta 1987 Manila 1991  >

Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1989 (tiếng Mã Lai: Sukan Asia Tenggara 1989), tên gọi chính thức là Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 15, là sự kiện thể thao đa môn được tổ chức tại Kuala Lumpur, Malaysia từ ngày 20 đến ngày 31 tháng 8 năm 1989, với 25 môn thi đấu.[1] Tại kỳ đại hội này, Lào trở lại tranh tài lần đầu tiên dưới tên liên đoàn mới, trong khi Việt Nam cử đoàn thể thao riêng tham dự với tư cách một quốc gia thống nhất. Campuchia không tham gia đại hội.

Lễ bế mạc của kỳ đại hội thể thao khu vực này trùng với dịp kỷ niệm 32 năm ngày độc lập của Malaysia.[2] Đây là lần thứ tư Malaysia đăng cai sự kiện này, sau các năm 1965, 1971 (khi còn mang tên Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á - SEAP Games) và 1977 (kỳ đại hội đầu tiên sử dụng tên gọi hiện tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á sau khi Brunei, Indonesia và Philippines gia nhập).

Đại hội được Quốc vương Malaysia thứ 9, Sultan Azlan Shah, chính thức khai mạc và bế mạc tại Sân vận động Merdeka. Kết thúc đại hội, Indonesia là đoàn thể thao giành được nhiều huy chương nhất, xếp trên nước chủ nhà Malaysia và Thái Lan.

Địa điểm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Sân vận động Merdeka, Kuala Lumpur – Lễ khai mạc/Bế mạc, Điền kinh, Bóng đá (chung kết)
  • Sân vận động Negara – Bóng rổ, Cầu lông
  • Trung tâm thể thao dưới nước Cheras – Bơi lội
  • Sân vận động Cheras – Bóng đá
  • Velodrome Rakyat – Xe đạp (đường đua lòng chảo)
  • Trường bắn Subang – Bắn súng
  • Sân vận động BSN, Bangi – Bóng đá
  • Kent Bowl, Asiajaya, Petaling Jaya – Bowling

Quốc gia tham dự

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Gasing

Linh vật

[sửa | sửa mã nguồn]

Johan, một chú rùa là linh vật của SEA Games 1989.

Bảng tổng sắp huy chương

[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cộng 957 huy chương đã được trao cho các vận động viên, bao gồm 303 huy chương Vàng, 302 huy chương Bạc và 352 huy chương Đồng. Đoàn thể thao Malaysia đã có màn thể hiện xuất sắc nhất trong lịch sử SEA Games, chỉ xếp sau Indonesia trên bảng tổng sắp toàn đoàn.[3]

  Đoàn chủ nhà ( Malaysia (MAS))
HạngĐoànVàngBạcĐồngTổng số
1 Indonesia (INA)1027871251
2 Malaysia (MAS)675875200
3 Thái Lan (THA)626366191
4 Singapore (SIN)323847117
5 Philippines (PHI)263764127
6 Myanmar (MYA)10142044
7 Việt Nam (VIE)311519
8 Brunei (BRU)1247
9 Lào (LAO)0101
Tổng số (9 đơn vị)303302352957

Môn thể thao

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "OCA » Kuala Lumpur 1989". ocasia.org. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2022.
  2. ^ Percy Seneviratne (1993) Golden Moments: the S.E.A Games 1959-1991 Dominie Press, Singapore ISBN 981-00-4597-2
  3. ^ "1989 Southeast Asian Games medal table". Olympic Council of Asia. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2016.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
Tiền nhiệm:
Jakarta
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
Kuala Lumpur

SEA Games lần thứ XV (1989)
Kế nhiệm:
Manila