Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thành phố Hồ Chí Minh
Logo of Hồ Chí Minh City FC.svg
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh (Ho Chi Minh City Football Club)
Biệt danhChiến hạm đỏ (Red Battleship)
Tên ngắn gọnHCMC (trong nước)
HCM (quốc tế)
Thành lập1960 (tiền thân là Cảng Sài Gòn)[1]
Giải thể2009 (tiền thân là Cảng Sài Gòn)
Sân vận độngThống Nhất
Sức chứa25.000
Chủ tịch điều hànhtrống
Huấn luyện viênVũ Tiến Thành
Giải đấuV.League 1
V.League 1 - 2022Thứ 9
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh là một câu lạc bộ bóng đá có trụ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đội bóng này được xem là hậu thân và kế thừa hình ảnh của Câu lạc bộ bóng đá Cảng Sài Gòn. Câu lạc bộ hiện thuộc sự quản lý của Công ty Cổ phần Bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh cùng sự chung tay hỗ trợ của những nhà tài trợ.[2][3] Đội thi đấu ở V.League 1 sau khi thăng hạng vào mùa giải 2017.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Thành phố Hồ Chí Minh có hai tiền thân trước đó là Câu lạc bộ Tổng Nha Thương CảngCảng Sài Gòn. Vào ngày 1 tháng 11 năm 1975, Cảng Sài Gòn chính thức được thành lập, trước đó có tên Tổng Nha Thương Cảng.[4]

Cuối năm 2008, lãnh đạo Cảng Sài Gòn tuyên bố không còn kinh phí để duy trì đội bóng. Do chỉ còn nhà tài trợ chính là Tổng công ty Thép Việt Nam, lãnh đạo câu lạc bộ đã đưa ra quyết định đổi tên đội bóng để hoạt động theo mô hình chuyên nghiệp, trong đó, tên hiệu Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh được lựa chọn với sự đồng ý chuyển phiên hiệu của đơn vị chủ quản câu lạc bộ này là Công ty TNHH bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh và Liên đoàn bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh với giá 15 tỷ đồng đầu tư cho chính câu lạc bộ.

Quyết định đổi tên đã gây ít nhiều tiếc nuối và phản đối từ các cổ động viên của đội bóng do luyến tiếc với truyền thống đã gắn liền với cái tên Cảng Sài Gòn. Tuy nhiên, tham vọng của lãnh đạo đội bóng là trở thành câu lạc bộ bóng đá tiêu biểu cho Thành phố Hồ Chí Minh cũng như sự thuận tiện khi thu hút sự trợ giúp từ chính quyền và các doanh nghiệp của thành phố. Ngày 22 tháng 1 năm 2009, câu lạc bộ đã chính thức đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh, với nhà tài trợ chính cho đội bóng là Công ty Thép Việt Nam.

Việc đổi tên đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các cổ động viên nơi đây; toàn thể Ban chấp hành Hội Cổ động viên đồng loạt từ chức, Hội Cổ động viên bóng đá Cảng Sài Gòn giải tán đã khiến cho đội bóng gặp nhiều khó khăn trong mùa giải đầu tiên mang tên mới. Mùa giải 2009, họ lại bị xuống hạng lần nữa.

Năm 2016, câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh vô địch giải hạng Nhất quốc gia và trở lại V.League 1. Tại mùa giải 2017, đội bóng đứng thứ 12 trên bảng xếp hạng.

Sau khi quay lại V.League 1 năm 2017, CLB đã chú trọng hơn trong việc thu hút người hâm mộ đến sân thông qua việc lắng nghe những góp ý của các cổ động viên, nâng cấp sân bãi, khán đài... nhờ đó hình ảnh đội bóng dần được cải thiện trong mắt người hâm mộ. Hội Cổ động viên Câu lạc bộ Thành phố Hồ Chí Minh từ đó xuất hiện.

Mùa giải 2019[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi bước vào mùa giải 2019, huấn luyện viên Chung Hae-seong, cựu Giám đốc kĩ thuật của Hoàng Anh Gia Lai, đã được ban lãnh đạo đội bóng đưa về với mục tiêu lọt vào Top 3 V.League. Nhiều nghi ngờ được đặt ra về năng lực của vị huấn luyện viên này cũng như của đội bóng và không ít người nghĩ về viễn cảnh đua trụ hạng của đội bóng này. Dù phải cạnh tranh trực tiếp với Hà Nội, đội vẫn đạt ngôi Á quân sớm trước 2 vòng đấu, đồng thời cũng đoạt đồng hạng 3 Cúp Quốc gia (cùng với Becamex Bình Dương).

Mùa giải 2020[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Hồ Chí Minh trong mùa giải 2020 đã thỏa thuận mượn được Nguyễn Công Phượng đến hết năm.[5] Đến tháng 8, câu lạc bộ tuyển mộ được hai cầu thủ Costa Rica: José Guillermo Ortiz đang khoác áo đội tuyển quốc gia, còn Ariel Francisco Rodríguez là cựu thành viên đội tuyển Costa Rica.[6]

Sau trận thua 0–3 trước Hà Nội ở vòng 11 V.League 2020, huấn luyện viên Chung Hae-seong bị điều chuyển làm giám đốc kỹ thuật nhưng không đồng ý và xin rời câu lạc bộ. Tuy nhiên do những bất đồng về thanh lý hợp đồng, huấn luyện viên mới không đến được Việt Nam do dịch bệnh, và ông Chung tiếp tục làm huấn luyện viên đội bóng.[7]

Kết thúc giai đoạn 1 V.League 2020, Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng 5 với 20 điểm, kém đội đầu bảng Sài Gòn 4 điểm, ở giai đoạn 2 được vào nhóm 8 đội dẫn đầu thi đấu tiếp tranh ngôi vô địch.[8] Cuối mùa, câu lạc bộ cán đích ở vị trí thứ 5, trong đó ở giai đoạn 2 câu lạc bộ đã đánh bại Hoàng Anh Gia Lai 2-1.

Mùa giải 2021[sửa | sửa mã nguồn]

Trước mùa giải 2021, Ban lãnh đạo đội bóng đã có sự thay đổi về nhân sự cho mục tiêu vô địch V.League 2021. Alexandré Pölking, cựu huấn luyện viên của CLB Bangkok United, đã được ban lãnh đạo chiêu mộ với bản hợp đồng 1 năm cùng mức lương 30.000 USD/tháng.[9]

Câu lạc bộ cũng đã chia tay với tiền đạo Nguyễn Công Phượng cùng 2 ngoại binh Costa Rica, thay vào đó họ đã chiêu mộ 2 ngoại binh người Brazil là João Paulo Queiroz de Moraes,Junior Barros và Dário Frederico da Silva. Tháng 12 năm 2020. CLB Thành phố Hồ Chí Minh chiêu mộ thành công tiền vệ Việt kiều Lee Nguyễn với bản hợp đồng có thời hạn 1 năm.[10]

Tại vòng 5 giai đoạn 1 V.League 1 2021, câu lạc bộ đã để thua với tỷ số 0-3 trước Hà Nội trong trận đấu mà Ngô Hoàng Thịnh đã phải nhận án phạt rất nặng từ VFF sau cú va chạm gãy chân vào Đỗ Hùng Dũng.

V.League 2021 đã bị hủy do COVID-19 nhưng đội bóng vẫn gây thất vọng khi chỉ đứng thứ 11 sau 12 vòng đấu.

Mùa giải 2022[sửa | sửa mã nguồn]

Ban lãnh đạo đội bóng đã tiếp tục có các điều chỉnh nhân sự để hướng đến mùa giải 2022. Ông Trần Minh Chiến đã được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của đội thay cho ông Alexandré Pölking (đã trở thành huấn luyện viên đội tuyển quốc gia Thái Lan)[11], cùng với đó là trợ lý Nguyễn Tuấn Phong. Đội bóng cũng đã chia tay các cầu thủ gồm: Junior Barros, Patrick Leonardo, Vũ Quang Nam, Lê Sỹ Minh, thay thế bằng hậu vệ Dương Văn Khoa, tiền đạo Hoàng Vũ Samson và tiền vệ Chu Văn Kiên.

CLB cũng đã cố gắng chiêu mộ các cầu thủ như Quế Ngọc Hải, Nguyễn Hải Huy, Adriano Schmidt nhưng đều không thành công.

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

SVĐ Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh (2014)

Sân Thống Nhất có sức chứa 20.000 chỗ ngồi, là sân nhà của 2 câu lạc bộ Thành phố Hồ Chí Minh và Sài Gòn. được hoàn thành năm 1931, sân Thống Nhất từng là sân bóng sôi động với các trận bóng đá hấp dẫn. Tuy nhiên, kể từ ngày Cảng Sài Gòn xuống hạng, sân ngày càng vắng người xem và xuống cấp trầm trọng.

Năm 2017, sau khi trở lại V.League 1, CLB đã tiến hành thay đổi và nâng cấp sân vận động. Từ 2018, lắp đặt ghế cho khán đài B, C, D, lắp đặt mới ghế VIP cho khán đài A. CLB cũng trang bị biển quảng cáo LED trị giá 2 triệu USD[12], cabin ban huấn luyện và phòng thay đồ cho 2 đội được nâng cấp theo tiêu chuẩn châu Âu, cùng với đó là dàn đèn 1600 lux. Năm 2019, CLB thay mới mặt sân bằng mặt cỏ lá kim với chi phí gần 7 tỷ đồng[13].

Hiện tại, sân nằm trong số các sân vận động có chất lượng tốt nhất ở Việt Nam.

Nhà tài trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn Hãng áo đấu Nhà tài trợ in lên áo 1 Nhà tài trợ in lên áo 2 Nhà tài trợ in lên áo 3 Nhà tài trợ in lên áo 4
2009 không có VNSTEEL Petrolimex JICO không có không có
2010 không có
2011 SSSC
2012 không có không có
2013-2014 không có
2015-2016 LS
2017 Nhật Bản Mizuno Acecook
2018 CityLand
2019 Hàn Quốc Zaicro CityLand Berjava
2020 Ý Kappa không có
2021 Tây Ban Nha Kelme Bamboo Airways Vạn Thịnh Phát ESSOCO
2022 Viva Land SCB Bamboo Airways
Áo đấu sân nhà
2009-2010
2011-2012
2013
2014-2015
2016
2017
2018
2019
2020
2021
Áo đấu sân khách
2009-2012
2014-2015
2016
2017
2018
2019
2020
2021
Áo thứ 3

Nhà tài trợ chính[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 16 tháng 8 năm 2022

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Việt Nam Nguyễn Thanh Thắng
2 HV Việt Nam Ngô Tùng Quốc
3 HV Việt Nam Dương Văn Khoa
4 HV Việt Nam Nguyễn Tăng Tiến
8 TV Việt Nam Trần Thanh Bình
11 TV Việt Nam Phạm Trùm Tỉnh
16 TV Việt Nam Võ Huy Toàn
17 TV Việt Nam Lâm Ti Phông
18 TV Việt Nam Chu Văn Kiên
19 Việt Nam Nguyễn Công Thành
20 HV Việt Nam Trần Đình Bảo
Số VT Quốc gia Cầu thủ
21 TV Việt Nam Đào Quốc Gia
23 TV Việt Nam Trần Đình Khương
24 TV Việt Nam Lee Nguyễn
25 TM Việt Nam Phạm Văn Cường
26 HV Việt Nam Thân Thành Tín
29 TV Việt Nam Nguyễn Trọng Long
30 Việt Nam Hồ Tuấn Tài
37 TM Việt Nam Hồ Viết Đại
39 Việt Nam Hoàng Vũ Samson
43 Brasil Brendon Lucas
50 Jamaica Atapharoy Bygrave
92 Jamaica Daniel Green
HV Việt Nam Trần Hoàng Phúc
TM Việt Nam Phạm Hữu Nghĩa

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
23 TM Việt Nam Nguyễn Thanh Phú (cho mượn đến Đắk Lắk)
TM Việt Nam Nguyễn Anh Tuấn (cho mượn đến Bà Rịa – Vũng Tàu)
14 TV Việt Nam Phù Trung Phong (cho mượn đến Bà Rịa – Vũng Tàu)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
TV Việt Nam Tiêu Exal (cho mượn đến Hoàng Anh Gia Lai)
Việt Nam Lê Quyền Huy Tín (cho mượn đến Bà Rịa – Vũng Tàu)
Việt Nam Nguyễn Trung Thành (cho mượn đến Bà Rịa – Vũng Tàu)

Đội hình trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
2 Việt Nam Nguyễn Thế Dũng
3 Việt Nam Nguyễn Hữu Trường
4 Việt Nam Phạm Quốc Tuấn
5 Việt Nam Lê Vương Minh Nhất
6 Việt Nam Nguyễn Thanh Tú
7 Việt Nam Thạch Tùng
8 Việt Nam Nguyễn Văn Đạt
9 Việt Nam Tô Phương Thịnh
10 Việt Nam Dương Vĩnh Khang
11 Việt Nam Nguyễn Văn Mạnh
12 Việt Nam Huỳnh Công Hậu
14 Việt Nam Phạm Minh Phát
15 Việt Nam Lê Hoàng Trường
16 Việt Nam Nguyễn Ngọc Hậu
17 Việt Nam Nguyễn Trung Kiên
Số VT Quốc gia Cầu thủ
18 Việt Nam Chu Minh Hoàng
19 Việt Nam Nguyễn Huỳnh Thịnh
20 Việt Nam Lê Cảnh Gia Huy
21 Việt Nam Nguyễn Trung Hiếu
22 Việt Nam Trần Minh Thảo
23 Việt Nam Trần Thành Nhân
24 Việt Nam Bùi Văn Bình
25 Việt Nam Nguyễn Trung Nhân
26 Việt Nam Vũ Minh Tâm
27 Việt Nam Trần Minh Chiến
28 Việt Nam Nguyễn Huỳnh Minh Duy
29 Việt Nam Hứa Hoàng Xuân Khoa
30 Việt Nam Trần Đăng Khoa
33 Việt Nam Đặng Nguyễn Phương Đức

Thành phần ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Chủ tịch câu lạc bộ Việt Nam trống
Giám đốc điều hành Việt Nam trống
Giám đốc kỹ thuật Việt Nam Trần Minh Chiến
Trưởng đoàn Việt Nam Nguyễn Cao Trí
Huấn luyện viên trưởng Việt Nam Vũ Tiến Thành
Trợ lý huấn luyện viên Việt Nam Lê Quang Trãi
Việt Nam Lương Trung Tuấn
Huấn luyện viên thể lực Brasil Paulo Alexandre
Huấn luyện viên thủ môn Việt Nam Châu Trí Cường
Trợ lý huấn luyện viên thủ môn Việt Nam Nguyễn Văn Phụng

Các huấn luyện viên trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hcmcfc-logo.png
Các huấn luyện viên trưởng của Thành phố Hồ Chí Minh

Thành tích thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Giải đấu Vòng đấu Đối thủ Sân nhà Sân khách
2020 AFC Champions League Vòng loại thứ hai Thái Lan Buriram United 1-2
20201 AFC Cup Vòng bảng Khu vực ĐNÁ Myanmar Yangon United Hủy bỏ 2-2
Vòng bảng Khu vực ĐNÁ Singapore Hougang United Hủy bỏ 3-2
Vòng bảng Khu vực ĐNÁ Lào Laos Toyota Hủy bỏ 2-0
FIFA Club Confederation Cup Vòng play-off Châu Á Philippines Ceres-Negros 1-1 1-2
  • 1 Giải đấu đã bị AFC hủy bỏ do bùng phát dịch COVID-19

Danh hiệu chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  • V.League 1
    • Vô địch: 1986, 1993–94, 1997, 2001–02
    • Á quân: 2019
    • Hạng 3: 1985, 1990, 1995
  • Cúp Cửu Long
    • Vô địch: 1977[14]
  • V.League 2
    • Vô địch: 2004, 2016
    • Hạng 3: 2015
Cúp
  • Cúp quốc gia
    • Vô địch: 1992, 1999–2000
    • Á quân: 1994, 1996, 1997
  • Siêu cúp quốc gia Việt Nam
    • Tham dự: 2000, 2002, 2019

Giải đấu khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cúp BTV
    • Vô địch: 2000
    • Á quân: 2001

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.rsssf.com/tablesv/vietchamp.html
  2. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Báo Tuổi Trẻ. 20 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 31 Tháng 8 năm 2009. Truy cập 22 tháng 1 năm 2009. Đã định rõ hơn một tham số trong |tên bài=|title= (trợ giúp)
  3. ^ “Bản sao đã lưu trữ”. Báo Tuổi Trẻ. 22 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 31 Tháng 8 năm 2009. Truy cập 22 tháng 1 năm 2009. Đã định rõ hơn một tham số trong |tên bài=|title= (trợ giúp)
  4. ^ “Giai đoạn 1975-1984”. tmn-csgfc.com.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2018. Truy cập 18 tháng 2 năm 2009.
  5. ^ Thanh Vũ (19 Tháng 6 năm 2020). “Công Phượng chính thức ở lại TPHCM đến hết năm 2020”. Báo Lao Động điện tử. Truy cập ngày 15 Tháng 10 năm 2020.
  6. ^ Hải Đăng (13 Tháng 8 năm 2020). “Ngoại binh 'triệu đô' của CLB TP.HCM vẫn còn... 'hên xui'. Tạp chí điện tử Bóng đá. Truy cập ngày 15 Tháng 10 năm 2020.
  7. ^ Nguyên Khôi (11 Tháng 8 năm 2020). “Sau hai tuần xin nghỉ, HLV Chung Hae Soung trở lại dẫn dắt CLB TP.HCM”. Báo Tuổi Trẻ online. Truy cập ngày 15 Tháng 10 năm 2020.
  8. ^ “Kết thúc giai đoạn 1 LS V.League 1- 2020: Xác định tốp 8 CLB tranh ngôi vô địch”. Liên đoàn bóng đá Việt Nam. 1 Tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 15 Tháng 10 năm 2020.
  9. ^ “CLB TP.HCM trả lương cao nhất V.League cho tân HLV đến từ Thái Lan”.
  10. ^ “CHÍNH THỨC: CLB TP.HCM chiêu mộ thành công Lee Nguyễn”.
  11. ^ “Ông Trần Minh Chiến làm HLV trưởng CLB TP.HCM”. Bản gốc Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp) lưu trữ ngày 25 Tháng 6 năm 2020.
  12. ^ “Ngắm bảng quảng cáo đèn LED hơn 45 tỉ trên sân Thống Nhất”.
  13. ^ “Sân Thống Nhất được lắp đèn mới, cải tạo mặt cỏ”.
  14. ^ http://www.rsssf.com/tablesv/vietchamp.html

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

.