Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam
V.League 1
V.League 1 new logo.svg
Cơ quan tổ chứcVPF
Thành lập1955; 65 năm trước (1955)
(Giải bóng đá hạng A Quốc gia)
1980; 40 năm trước (1980)
(Giải bóng đá A1 toàn quốc)
2000; 20 năm trước (2000)
(Giải Vô địch Quốc gia)
Mùa giải đầu tiên1955 (Giải Hòa Bình)
Quốc giaViệt Nam
Liên đoànAFC
Số đội14
Cấp độ trong
hệ thống
1
Xuống hạng đếnRed Arrow Down.svg V.League 2
Cúp trong nướcCúp bóng đá Việt Nam
Siêu cúp bóng đá Việt Nam
Cúp quốc tếAFC Champions League
Cúp AFC
Giải vô địch các câu lạc bộ ASEAN
Đội vô địch hiện tạiViettel
(2020)
Vô địch nhiều nhấtThể Công
(19 lần)
Đối tác truyền hìnhVTV, VTC, ON SPORTS, HTV, VTVCab, BTV, VOV, FPT Play, Onme, K+
Trang webvff.org.vn, vpf.vn
V.League 1 mùa giải 2021

Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (tiếng Anh: V.League 1, còn có tên gọi LS V.League 1 vì lý do tài trợ) là giải đấu bóng đá chuyên nghiệp cao nhất Việt Nam, do Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) điều hành. Giải đấu bao gồm 14 đội thi đấu theo thể thức đấu vòng tròn sân nhà và sân khách. Đội về đích đầu tiên ở cuối mùa giải được tham dự AFC Champions League mùa giải sau.

Tính từ khi giải bắt đầu khởi tranh năm 1955, Thể Công/Viettel có số lần vô địch nhiều nhất với 19 chức vô địch và đây cũng là đội bóng đầu tiên vô địch giải đấu. Công an Hải Phòng/Câu lạc bộ Hải Phòng đứng thứ hai với 10 chức vô địch. Hà Nội T&T/Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội là đội bóng thành công nhất trong giai đoạn 2009-2019 với 5 chức vô địch.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Vô địch Quốc gia được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1955 với tên gọi giải Hòa Bình bởi Nha Thể dục Trung ương. Thể Công là đội bóng đầu tiên vô địch giải đấu sau trận thắng 4-3 trước đội Cảng Hải Phòng. Năm 1956, giải được đổi tên là giải Hạng A miền Bắc. Từ năm 1960, giải do Ủy ban Thể dục Thể thao tổ chức. Giải được tổ chức liên tục đến năm 1975 bất chấp tình trạng đất nước chiến tranh. Từ năm 1976, sau khi đất nước thống nhất, giải do Tổng cục Thể dục Thể thao tổ chức và bắt đầu có sự tham gia của các đội phía Nam. Từ năm 1980, giải bắt đầu với tên gọi Giải bóng đá A1 toàn quốc. Sau khi đất nước thống nhất, giải được đổi tên là Hạng A Quốc gia đến năm 1978. Năm 1979, giải được tạm gọi là Giải Phân hạng. Năm 1980, giải do Hội bóng đá Việt Nam tổ chức

Giải bóng đá vô địch quốc gia là sân chơi hạng cao nhất trong hệ thống thi đấu của bóng đá Việt Nam được Nha Thể dục Thể thao Trung ương bắt đầu tổ chức năm 1955. Tới năm 1980, giải được Hội Bóng đá Việt Nam tổ chức. Từ năm 1989, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam ra đời thay thế Hội Bóng đá Việt Nam tổ chức các giải vô địch quốc gia[1]. Tính từ năm 1955 đến năm 2020 đã trải qua 64 mùa giải (năm 1988 không tổ chức, còn năm 1999 chỉ có giải Tập huấn mùa Xuân).

Giai đoạn 1955-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Vô địch Quốc gia có khởi đầu là giải vô địch quốc gia là giải vô địch miền Bắc. Giải ra mắt vào năm 1955 với tên gọi Giải Hòa Bình. Thể Công là câu lạc bộ đầu tiên vô địch giải đấu này. Ngay từ năm 1955, hệ thống thi đấu của Việt Nam đã có 2 hạng gồm A và B.[2] Từ 1956 giải có tên chính thức là giải bóng đá Hạng A miền Bắc. Giai đoạn 1976-1979, sau khi đất nước thống nhất, giải mang tên giải bóng đá Hạng A Quốc gia[3]. Thể Công là câu lạc bộ thành công nhất giải đấu với 12 chức vô địch trong giai đoạn này. Câu lạc bộ Công an Hải Phòng, tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Hải Phòng thành công thứ nhì với 10 chức vô địch.[4] Xen giữa là 02 chức vô địch duy nhất của Câu lạc bộ Công an Hà Nội năm 1962 và 1964.Giải bóng đá Hạng A diễn ra đều đặn bất chấp đất nước lúc đó vẫn còn chiến tranh.

Giai đoạn 1976-1979[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nước nhà thống nhất, các đội bóng Việt Nam được chia thi đấu theo khu vực: miền Bắc với giải Hồng Hà, miền Trung với giải Trường Sơn và miền Nam với giải Cửu Long. Các đội vô địch mỗi khu vực sẽ thi đấu chọn đội vô địch. Thời điểm này, tổng cộng có 40 đội tham gia ở hạng cao nhất nhưng hạng Nhất chỉ có 26 đội.[5] Trong đó:

Giải Hồng Hà gồm 16 đội với những cái tên tiêu biểu như: Câu lạc bộ Quân đội (Thể Công), Quân khu Thủ đô, Tổng cục Đường sắt, Công an Hà Nội, Quân khu 3, Phòng không Không quân, Cảng Hải Phòng, Công nhân Xây dựng Hà Nội, Tổng cục Bưu điện, Công an Hải Phòng, Dệt Nam Định, Than Quảng Ninh, Công nhân Xây dựng Hải Phòng, Điện Hải Phòng, Công nghiệp Hà Nam Ninh, Thanh niên Hà Nội.

Giải Trường Sơn gồm 8 đội: Thanh niên Bình Định, Phú Khánh, Công nhân Quảng Nam Đà Nẵng, Lâm Đồng, Bình Trị Thiên, Thanh niên Thanh Hoá, Sông Lam Nghệ Tĩnh, Gia Lai Kon Tum.

Giải Cửu Long gồm 16 đội: Hải quan, Cảng Sài Gòn, Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Công nghiệp Thực phẩm, Tây Ninh, An Giang, Tiền Giang, Đồng Tháp, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng, Công nhân hoá chất, Tổng cục Vật tư, Sông Bé, Long An, Đồng Nai, Cần Thơ, Vĩnh Long

Đội bóng thi đấu thành công nhất trong lịch sử giải bóng đá quốc gia trước năm 1980 là đội Thể Công (năm 1975 đội đổi tên thành Câu lạc bộ Quân đội, sau giải toàn quốc năm 1989, đội đổi lại tên thành Thể Công) - 12 giải vô địch quốc gia Hòa Bình - tiền thân của giải Vô địch quốc gia hiện nay (nếu kể cả thành tích của Câu lạc bộ Quân đội và Viettel sau khi nước nhà thống nhất thì đội bóng áo lính giành được 19 chức vô địch Việt Nam[6]).

Giải vô địch quốc gia từ khi được thành lập đã có những sự thay đổi từ tên gọi cho đến số lượng các đội tham dự cũng như thể thức thi đấu. Trong thập niên 80 của thế kỷ 20, giải vô dịch quốc gia mang tên là giải bóng đá A1 toàn quốc. Cụ thể, thể thức thi đấu của năm 1980 được xây dựng trên cơ sở kết quả năm 1979, 8 đội mạnh nhất của giải Hồng Hà, 2 đội của giải Trường Sơn và 8 đội của giải Cửu Long. Các đội còn lại đá giải hạng A2. Tuy nhiên, tại mùa giải đầu tiên do Hội Bóng đá Việt Nam tổ chức vào năm 1980, đương kim vô địch Thể Công đã xin rút lui để chấn chỉnh nội bộ nên giải năm 1980 chỉ có 17 đội tham dự.

Giai đoạn 1980-1999[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn 1980-1996, giải liên tục phải thay đổi thể thức khi không thể thức nào tồn tại quá 2 năm. Tới năm 1996, thể thức thi đấu sân nhà-sân khách được chính thức áp dụng và ổn định tới hiện nay. Năm 1988, Tổng cục Thể dục Thể thao tạm ngừng tổ chức giải để chấn chỉnh toàn bộ hệ thống thi đấu. Tới năm 1989, giải được tổ chức phân hạng lại với 32 đội tham gia chọn ra 18 đội mạnh nhất đá giải hạng A1. Tới năm 1989, hạng A1 còn 11 đội khi các đội xếp dưới kết hợp với 3 đội mạnh nhất hạng A2 hình thành hạng A2 mới. Tiếp đó, tên giải đổi thành giải đội mạnh toàn quốc kể từ năm 1990 và mang tên là giải hạng Nhất quốc gia trong giai đoạn 1996 - 2000.

Giai đoạn 2000-nay[sửa | sửa mã nguồn]

Giải lên chuyên nghiệp từ mùa 2000-2001 nhằm cho phép các câu lạc bộ tuyển trạch các cầu thủ nước ngoài và cầu thủ nhập tịch tham gia thi đấu. Cầu thủ gốc Việt được coi như cầu thủ nội. Với sự ra đời của Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) vào năm 2012, quyền tổ chức chuyển từ Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) sang Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF).

Với sự ra đời của VPF, từ năm 2012, tên giải đổi thành giải bóng đá Ngoại hạng (Super League).[7] Tuy nhiên, sau 5 vòng đấu, giải lấy lại tên là giải VĐQG Việt Nam (V-League).[8][9] Sang mùa giải 2013, VPF thay đổi tên viết tắt của giải thành V.League 1.[10]

Giải đã có 6 lần đổi tên, trung bình cứ 5 mùa giải lại đổi tên một lần. Giải đấu cũng đã 3 lần thay đổi về mặt thể thức thi đấu. Trong giai đoạn 1980-1995: các đội bóng tham dự giải tham gia các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Các đội nằm ở tốp đầu mỗi bảng sẽ tranh tài ở Vòng chung kết để tranh chức vô địch, còn các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng sẽ thi đấu Vòng chung kết ngược để chọn ra các đội xuống hạng.

Tại mùa giải năm 1996, 12 đội tham dự thi đấu vòng tròn 2 lượt. Sau khi kết thúc 2 lượt này, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội xuống hạng. Từ năm 1997 đến 2013 (trừ giải Tập huấn mùa Xuân năm 1999), các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Đội giành được nhiều điểm nhất sẽ giành chức vô địch.

Còn các đội đứng cuối bảng (1 hoặc 2 đội tùy năm) sẽ phải xuống hạng. Biến động lớn nhất chính là số lượng các đội tham dự giải. Trước khi bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, con số này thay đổi: lúc thì 16,17, khi thì 18, 19, 20 đội, có thời điểm lên đến 27 đội (vào năm 1987) và 32 đội (vào năm 1989).

Khi V-League ra đời, con số này đã co lại nhưng cũng không ổn định. Trong 2 mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên (2000-2001 và 2001-2002), số lượng các đội bóng tham dự V-League đều là 10 đội. Bước sang mùa giải 2003, số lượng các đội bóng tranh tài ở sân chơi V-League tăng thành 12 đội.

Con số này giữ nguyên đến mùa giải 2005 trước khi tăng lên thành 13 đội ở mùa giải 2006 (lẽ ra đã là 14 đội nếu như Câu lạc bộ Ngân hàng Đông Á không mất quyền tham dự do dính vào vụ hối lộ trọng tài ở giải hạng Nhất 2005). Một năm sau, lần đầu tiên trong lịch sử V-League chứng kiến cuộc tranh tài của 14 đội bóng ở giải đấu hạng cao nhất của bóng đá Việt Nam.

Con số này giữ nguyên trong vòng 6 năm trước khi giảm xuống còn 12 đội ở V-League 2013 sau khi hàng loạt đội bóng bị giải thể hoặc chuyển giao. Theo dự kiến ban đầu, số lượng các đội bóng tham dự V-League 2014 sẽ quay trở lại con số 14. Thế nhưng do Câu lạc bộ bóng đá KienLongBank Kiên Giang không đủ kinh phí để đăng ký tham dự giải nên con số này chỉ còn là 13.[11] Từ mùa giải 2015 đến nay, số đội tham dự mỗi mùa giải là 14.

Dự kiến từ mùa giải 2022, số đội tham dự mỗi mùa giải là 16.

Thể thức thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ 1955 đến 1975: Các đội được chia theo bảng để chọn 4 đội vào bán kết. Từ bán kết chọn 2 đội đá chung kết.
  • Từ năm 1976 đến 1979: Các đội chia làm 3 giải nhỏ theo khu vực địa lý. Các đội đứng đầu khu vực địa lý thi đấu vòng chung kết để chọn đội vô địch.
  • Từ 1980 đến 1995: các đội chia thành các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Các đội ở tốp đầu lọt vào vòng chung kết để tranh chức vô địch, Các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng thi đấu vòng chung kết ngược để chọn đội xuống hạng.
  • Giải năm 1996, tất cả các đội (12 đội) thi đấu vòng tròn hai lượt. Sau khi kết thúc đợt 1, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội phải xuống hạng
  • Từ 1997 đến Mùa giải 2019 (trừ giải tập huấn mùa xuân năm 1999): các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Đội nhiều điểm nhất là đội vô địch. Các đội cuối bảng (1 hoặc 2 đội tuỳ năm) phải xuống hạng. Thể thức này dự kiến sử dụng lại từ mùa giải 2022.
  • Mùa giải 2020, do đại dịch Covid-19 tại Việt Nam, sau khi đấu vòng tròn 1 lượt (13) xong, 8 đội xếp trên sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra nhà vô địch, 6 đội còn lại sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra 1 suất xuống hạng. Thể thức này cũng sẽ áp dụng vào mùa giải 2021.
  • Mùa giải 2021 có thể thức tương tự mùa giải 2020 nhưng nhóm tranh vô địch còn 6 đội, 8 đội còn lại sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra 1 suất xuống hạng và 1 suất vé vớt (play-off) với đội đứng thứ 2 giải hạng Nhất.

Cách thức tính điểm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ năm 1996 trở về trước hệ thống điểm là 2-1-0.
  • Riêng giải năm 1986: ở vòng 1 - trận hoà thứ tư của mỗi đội không được tính điểm, ở vòng 2 - nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Riêng giải năm 1987: ở vòng 1 - trận hoà thứ năm của mỗi đội không được tính điểm, ở vòng 2 - nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Riêng 2 mùa giải 1994 và 1995 nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Từ năm 1997 trở đi hệ thống điểm là 3-1-0.

Cách thức xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp chung cuộc theo thứ tự sau:

  • Điểm số các đội (theo thứ tự từ cao đến thấp)
  • Nếu có 2 hoặc nhiều đội bằng điểm nhau thì xếp theo thứ tự qua các chỉ số phụ:
  • Kết quả đối đầu trực tiếp
  • Hiệu số bàn thắng bàn thua
  • Tổng số bàn thắng

Tuy nhiên, một số năm, tiêu chí phụ hiếu số bàn thắng bàn thua và tổng số bàn thắng được ưu tiên hơn kết quả đối đầu.

Quy định số lượng cầu thủ ngoại và nhập tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Giải bắt đầu cho phép sử dụng cầu thủ ngoại từ năm 2000. Hiện tại, các câu lạc bộ được phép đăng ký 03 cầu thủ ngoại, 01 cầu thủ nhập tịch còn cầu thủ gốc Việt Nam được coi như cầu thủ nội. Đối với các đội dự giải châu lục được phép có thêm 01 cầu thủ ngoại quốc tịch châu Á.

Thành tích các đội[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách 3 đội dẫn đầu giải của từng mùa giải từ năm 1955[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Đội vô địch Đội hạng nhì Đội hạng ba
Giải bóng đá hạng A toàn quốc
1955 Thể Công(1) Cảng Hải Phòng
1956 Thể Công(2) Đội Trần Hưng Đạo(Hà Nội)
1957 Công an Hải Phòng(1) Thể Công
1958 Thể Công(3)
1959 Công an Hải Phòng(2)
1960 Công an Hải Phòng(3)
1961 Công an Hải Phòng(4)
1962 Công an Hà Nội(1) Xi măng Hải Phòng
1963 Công an Hải Phòng(5)
1964 Công an Hà Nội(2)
1965 Công an Hải Phòng(6)
1966 Công an Hải Phòng(7)
1967 Công an Hải Phòng(8)
1968 Công an Hải Phòng(9) Cảng Hải Phòng
1969 Thể Công(4)
1970 Công an Hải Phòng(10) Cảng Hải Phòng
1971 Thể Công(5)
1972 Thể Công(6)
1973 Thể Công(7)
1974 Thể Công(8) Công an Hải Phòng
1975 Thể Công(9)
1976 Thể Công(10)
1977 Thể Công(11)
1978 Thể Công(12)
1979 Thể Công(13)
Giải bóng đá A1 toàn quốc
1980 Tổng cục Đường sắt Công an Hà Nội Hải quan
1981-82 CLB Quân đội(14) Quân khu Thủ đô Công an Hà Nội
1982-83 CLB Quân đội (15) Hải quan Cảng Hải Phòng
1984 Công an Hà Nội(3) CLB Quân đội Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
1985 Công nghiệp Hà Nam Ninh Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Cảng Sài Gòn
1986 Cảng Sài Gòn CLB Quân đội Hải quan
1987 CLB Quân đội (16) Quảng Nam-Đà Nẵng An Giang
1989 Đồng Tháp CLB Quân đội Công an Hà Nội
Giải bóng đá Các đội mạnh Toàn quốc
1990 CLB Quân đội (17) Quảng Nam-Đà Nẵng An Giang
1991 Hải quan Quảng Nam-Đà Nẵng Cảng Sài Gòn
Công an Hải Phòng
1992 Quảng Nam-Đà Nẵng Công an Hải Phòng CLB Quân đội
Sông Lam Nghệ An
1993-94 Cảng Sài Gòn (2) Công an Thành phố Hồ Chí Minh CLB Quân đội
Long An
1995 Công an Thành phố Hồ Chí Minh Thừa Thiên-Huế Cảng Sài Gòn
1996 Đồng Tháp (2) Công an Thành phố Hồ Chí Minh Sông Lam Nghệ An
Giải Hạng nhất quốc gia
1997 Cảng Sài Gòn (3) Sông Lam Nghệ An Lâm Đồng
1998 CLB Quân đội (18) Sông Lam Nghệ An Công an Thành phố Hồ Chí Minh
giải tập huấn
1999
Sông Lam Nghệ An Công an Hà Nội Công an Thành phố Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
1999-00 Sông Lam Nghệ An Công an Thành phố Hồ Chí Minh Công an Hà Nội
Giải Vô địch Quốc gia chuyên nghiệp
2000-01 Sông Lam Nghệ An (2) Nam Định Thể Công
2001-02 Cảng Sài Gòn (4) Sông Lam Nghệ An Ngân hàng Đông Á
2003 Hoàng Anh Gia Lai Gạch Đồng Tâm Long An Nam Định
Giải bóng đá vô địch quốc gia
2004 Hoàng Anh Gia Lai (2) Sông Đà Nam Định Gạch Đồng Tâm Long An
2005 Gạch Đồng Tâm Long An Đà Nẵng Bình Dương
2006 Gạch Đồng Tâm Long An (2) Bình Dương Pisico Bình Định
2007 Becamex Bình Dương Đồng Tâm Long An Hoàng Anh Gia Lai
2008 Becamex Bình Dương (2) Đồng Tâm Long An Xi măng Hải Phòng
2009 SHB Đà Nẵng (2) Becamex Bình Dương Sông Lam Nghệ An
2010 Hà Nội T&T Xi măng Hải Phòng Tập đoàn Cao su Đồng Tháp
2011 Sông Lam Nghệ An (3) Hà Nội T&T SHB Đà Nẵng
2012 SHB Đà Nẵng (3) Hà Nội T&T Sài Gòn Xuân Thành
2013 Hà Nội T&T (2) SHB Đà Nẵng Hoàng Anh Gia Lai
2014 Becamex Bình Dương (3) Hà Nội T&T Thanh Hóa
2015 Becamex Bình Dương (4) Hà Nội T&T Thanh Hóa
2016 Hà Nội T&T (3) Hải Phòng SHB Đà Nẵng
2017 Quảng Nam FLC Thanh Hóa Hà Nội
2018 Hà Nội (4) FLC Thanh Hóa Sanna Khánh Hòa BVN
2019 Hà Nội (5) Thành phố Hồ Chí Minh Than Quảng Ninh
2020 Viettel (19) Hà Nội Sài Gòn

Từ năm 2000 đến nay[sửa mã nguồn]

Chú thích:

- Màu vàng = Vô địch, AFC Champions League

- Màu bạc = Á quân, AFC Cup

- Màu đồng = Hạng ba, có khả năng tham dự AFC Cup

- Màu lục = Vô địch V.League 2

- Màu đỏ = XUỐNG HẠNG

Các mùa giải 2000-01 2001-02 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021
Đội 10 10 12 12 12 13 14 14 14 14 14 14 11 12 14 14 14 14 14 14 14
Thể Công/CLB Quân đội/Viettel[12] 3 7 6 11 8 9 6 1
Hà Nội T&T/Hà Nội 4 1 2 2 1 2 2 1 3 1 1 2
Sài Gòn 7 5 8 5 3
Than Quảng Ninh 6 4 4 4 5 3 4
Cảng Sài Gòn/Thành phố Hồ Chí Minh[13] 4 1 11 8 10 8 5 13 12 12 2 5
Becamex Bình Dương 6 3 2 1 1 2 8 6 6 8 1 1 10 11 7 4 6
Hoàng Anh Gia Lai 1 1 4 4 3 7 6 7 9 5 3 9 13 12 10 10 8 7
Hồng Lĩnh Hà Tĩnh 8
SHB Đà Nẵng 6 10 9 2 7 5 4 1 6 3 1 2 4 9 3 9 9 10 9
Sông Lam Nghệ An 1 2 5 4 5 5 7 9 3 9 1 4 4 5 7 9 8 4 7 10
Thanh Hóa[14] 10 10 14 12 7 11 5 3 3 6 2 2 13 11
Công an Hải Phòng/Hải Phòng[15] 6 10 10 7 12 3 7 2 12 14 6 10 6 2 7 6 12 12
Nam Định 2 5 3 2 6 9 4 11 12 14 13 11 13
Bình Định 4 4 7 10 3 6 12 Vô địch V.League 2
Quảng Nam 8 8 5 1 11 9 14
Khánh Hòa 10 6 9 6 8 4 11 12 5 8 6 3 14
XSKT Cần Thơ 11 11 13 14
Long An 2 3 1 1 2 2 10 5 13 9 11 10 13 14
Đồng Tháp 9 7 8 12 13 5 3 5 13 12 14
Đồng Nai 7 7 14
An Giang 12
Công an Thành phố Hồ Chí Minh/Ngân hàng Đông Á/Ninh Bình[16] 5 3 9 12 11 4 8 10 Bỏ giải
Kiên Giang 10 11
Sài Gòn Xuân Thành 3 Bỏ giải
Quân khu 4/Navibank Sài Gòn[17][18] 11 13 8 7
Tổng cục Đường sắt/Hà Nội ACB/Bóng đá Hà Nội[19] 12 5 11 8 11 13 14 9
Công an Hà Nội/Hàng không Việt Nam/Hòa Phát Hà Nội[20] 7 8 8 9 11 12 14 10 10
Huế 8 9 14
Tiền Giang 13
Kí hiệu sử dụng trong bảng
Đội bóng hiện đang thi đấu tại Giải vô địch quốc gia
Đội bóng hiện đang thi đấu tại Giải hạng nhất quốc gia - V.League 2
Đội bóng hiện đang thi đấu tại Giải hạng nhì quốc gia
Đội bóng hiện đang thi đấu tại Giải hạng ba quốc gia
Đội bóng không còn tham gia đời sống bóng đá


Số mùa giải tại V-League (tính từ năm 2000)[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến mùa giải năm 2021:

Tổng số lần vô địch của các câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Số lần vô địch Câu lạc bộ
6 Thể Công/Quân đội/Viettel
5 Hà Nội T&T/Hà Nội
4 Cảng Sài Gòn/Thành phố Hồ Chí Minh, Sông Lam Nghệ An, Becamex Bình Dương
3 SHB Ðà Nẵng,
2 Hoàng Anh Gia Lai, Long An, Đồng Tháp.
1 Hải Quan, Nam Định, Đường Sắt, Công an TP.Hồ Chí Minh/Ngân hàng Đông Á, Quảng Nam, Công an Hà Nội/Câu lạc bộ Hà Nội (cũ)

Từ năm 1955[sửa | sửa mã nguồn]

Số lần vô địch Câu lạc bộ
19 Thể Công/Quân đội/Viettel
10 Công an Hải Phòng/Xi măng Hải Phòng/Vicem Hải Phòng/Hải Phòng
5 Hà Nội T&T/Hà Nội
4 Cảng Sài Gòn/Thành phố Hồ Chí Minh, Sông Lam Nghệ An, Becamex Bình Dương
3 SHB Ðà Nẵng, Công an Hà Nội/Câu lạc bộ Hà Nội (cũ)
2 Hoàng Anh Gia Lai, Long An, Đồng Tháp.
1 Hải Quan, Nam Định, Tổng cụ Đường sắt/Hòa Phát Hà Nội, Công an TP.Hồ Chí Minh/Ngân hàng Đông Á, Quảng Nam

Bảng xếp hạng tổng (giai đoạn từ 2010 đến 2020)[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Số mùa giải T H B BT BB HS Điểm Ghi chú
Hà Nội 11 153 66 52 457 303 +154 522
SHB Đà Nẵng 11 111 66 91 413 348 +65 399
Becamex Bình Dương 11 107 72 91 412 355 +57 393
Sông Lam Nghệ An 11 103 83 78 361 307 +54 392
Thanh Hoá 11 100 74 94 376 377 -1 374
Hải Phòng 11 96 68 104 323 368 -45 356
Hoàng Anh Gia Lai 11 92 70 108 396 440 -44 346
Sanna Khánh Hoà BVN 8 79 48 81 268 285 -17 285
Than Quảng Ninh 7 75 38 59 271 239 +32 263
Quảng Nam 7 64 54 54 277 261 +16 244
Sài Gòn 5 51 38 35 179 152 +27 191
Thành phố Hồ Chí Minh 4 35 23 40 136 145 -9 128
XSKT Cần Thơ 4 25 27 52 127 181 -54 102
Long An 3 15 17 46 103 170 -67 62
Dược Nam Hà Nam Định 3 18 19 33 84 116 -32 73
Viettel 2 23 8 15 62 56 +6 77
Đồng Tháp 2 8 8 36 56 121 -65 32
Đồng Nai 1 5 6 15 35 52 -17 21
Hồng Lĩnh Hà Tĩnh 1 4 8 8 19 24 -5 20

Những đội có chữ đậm nghĩa là những đội còn thi đấu V.League 1.

Kỉ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính từ năm 1955-nay[sửa | sửa mã nguồn]

19 chiếc cúp Vô địch Quốc gia gồm 13 chiếc trước năm 1980 và 6 chiếc từ 1980-nay của Thể Công/CLB Quân đội/Viettel
  • Vô địch nhiều lần nhất:
Thể Công/Viettel vô địch 19 lần
  • Vô địch liên tiếp:
Thể Công/Viettel (1971, 1972, 1973, 1974, 1975, 1976, 1977, 1978, 1979[21]) - vô địch liên tiếp 9 lần.
Công an Hải Phòng/Hải Phòng (1965,1966,1967,1968) - vô địch liên tiếp 4 lần

Tính từ năm 1980-nay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vô địch nhiều lần nhất: Thể Công/Viettel vô địch 6 lần
  • Vô địch liên tiếp: Thể Công (1982, 1983), Sông Lam Nghệ An (2000, 2001), Hoàng Anh Gia Lai (2003, 2004), Long An (2005, 2006), Becamex Bình Dương (2007, 2008) (2014, 2015), CLB Hà Nội (2018, 2019) - đều vô địch liên tiếp 2 lần.
  • Vô địch sớm nhất: CLB Hà Nội (2018), trước 5 vòng đấu.
  • Vô địch ngay khi lên hạng: Hoàng Anh Gia Lai (2003)
  • Câu lạc bộ chưa từng chơi ở giải hạng dưới từ khi V-league ra đời năm 2000: Sông Lam Nghệ An
  • Giành nhiều điểm nhất trong một mùa giải: CLB Hà Nội (2018), 64 điểm/26 trận - Trung bình 2,46 điểm/trận.
  • Đội vô địch giành điểm trung bình 1 trận cao nhất trong một mùa giải: CLB Hà Nội (2018), 64 điểm/26 trận (thể thức giải có 26 trận) - Trung bình 2,46 điểm/trận; và Becamex Bình Dương (2014), 49 điểm/22 trận (thể thức giải có 22 trận) - Trung bình 2,23 điểm/trận.
  • Đội vô địch giành điểm trung bình 1 trận thấp nhất trong một mùa giải: Gạch Đồng Tâm Long An (2006), 40 điểm/24 trận - Trung bình 1,67 điểm/trận
  • Thắng nhiều trận nhất trong một mùa giải: CLB Hà Nội (2018), 20/26 trận.
  • Đội vô địch có số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải: CLB Hà Nội (2018), 72 bàn thắng / 26 trận - Trung bình 2,77 bàn thắng/trận.
  • Đội vô địch có số bàn thua ít nhất trong một mùa giải: Becamex Bình Dương (2008), 18 bàn thua / 26 trận - Trung bình 0,69 bàn thua/trận; Viettel (2020), 16 bàn thua / 20 trận - Trung bình 0,8 bàn thua/trận
  • Đội vô địch có hiệu số bàn thắng/thua cao nhất trong lịch sử: CLB Hà Nội (2018), hiệu số +42.
  • Đội vô địch có hiệu số bàn thắng/thua thấp nhất trong lịch sử: Câu lạc bộ Thành phố Hồ Chí Minh (1997), hiệu số +3.
  • Nhiều trận thắng liên tiếp nhất trong một mùa giải: Sông Lam Nghệ An (2018), 8 trận.
  • Nhiều trận thua liên tiếp nhất trong một mùa giải: CLB Đồng Tháp (2016) và CLB Long An (2017), đều 10 trận.
  • Nhiều trận không thua liên tiếp nhất trong một mùa giải: CLB Hà Nội (2019), 14 trận, gồm 9 trận thắng và 5 trận hòa.
  • Nhiều trận không thắng liên tiếp nhất trong một mùa giải: CLB Đồng Tháp (2016), 23 trận, gồm 5 trận hòa và 18 trận thua.
  • Nhiều trận sạch lưới liên tiếp nhất trong một mùa giải: Bình Định (2006) và Viettel (2020), cùng 6 trận

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Vua phá lưới[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa bóng Họ tên Câu lạc bộ Số bàn thắng Số trận Tỉ lệ (bàn/trận)
1980 Việt Nam Lê Văn Đặng Công an Hà Nội 10 12 0,83
1981-82 Việt Nam Võ Thành Sơn Sở Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh 15 19 0,79
1982-83 Việt Nam Nguyễn Cao Cường CLB Quân đội 22 23 0,96
1984 Việt Nam Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 15 15 1,00
1985 Việt Nam Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 15 16 0,94
1986 Việt Nam Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 12 17 0,71
Việt Nam Nguyễn Trung Hải Sở Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh
1987 Việt Nam Lưu Tấn Liêm Hải Quan 15 20 0,75
1989 Việt Nam Hà Vương Ngầu Nại Cảng Sài Gòn 10 15 0,67
1990 Việt Nam Nguyễn Hồng Sơn CLB Quân đội 10 15 0,67
1991 Việt Nam Hà Vương Ngầu Nại Cảng Sài Gòn 10 15 0,67
1992 Việt Nam Trần Minh Toàn Quảng Nam-Đà Nẵng 6 12 0,50
1993-94 Việt Nam Nguyễn Công Long Bình Định 12 10 1,20
Việt Nam Bùi Sĩ Thành Long An 11 1,09
1995 Việt Nam Trần Minh Chiến Công an TP.Hồ Chí Minh 14 15 0,93
1996 Việt Nam Lê Huỳnh Đức Công an TP.Hồ Chí Minh 25 27 0,93
1997 Việt Nam Lê Huỳnh Đức Công an TP.Hồ Chí Minh 16 22 0,73
1998 Việt Nam Nguyễn Văn Dũng Nam Định 17 26 0,65
1999
tập huấn
Việt Nam Vũ Minh Hiếu Công an Hà Nội 8 8 1,00
1999-00 Việt Nam Văn Sỹ Thủy Sông Lam Nghệ An 14 24 0,58
2000-01 Việt Nam Đặng Đạo Khánh Hoà 11 18 0,61
2001-02 Việt Nam Hồ Văn Lợi Cảng Sài Gòn 9 18 0,50
2003 Nigeria Emeka Achilefu Nam Định 11 22 0,50
2004 Nigeria Amaobi Uzowuru Nam Định 15 22 0,68
2005 Brasil Kesley Alves Bình Dương 21 22 0,95
2006 Brasil Elenildo De Jesus Thép Miền Nam-Cảng Sài Gòn 18 24 0,75
2007 Brasil Jose Emidio de Almeida Đà Nẵng 16 26 0,62
2008 Brasil Jose Emidio de Almeida Đà Nẵng 23 26 0,89
2009 Argentina Gaston Merlo Đà Nẵng 15 26 0,58
Brasil Lazaro de Souza Quân khu 4
2010 Argentina Gaston Merlo Đà Nẵng 19 26 0,76
2011 Argentina Gaston Merlo Đà Nẵng 22 26 0,85
2012 Nigeria Timothy Anzebe Hà Nội T&T 17 26 0,65
2013 Việt Nam Hoàng Vũ Samson Hà Nội T&T 14 22 0,64
Argentina Gonzalo Marronkle
2014 Việt Nam Hoàng Vũ Samson Hà Nội T&T 23 24 0,96
2015 Cộng hòa Dân chủ Congo Patiyo Tambwe QNK Quảng Nam 18 26 0,69
2016 Argentina Gaston Merlo SHB Đà Nẵng 24 26 0,92
2017 Việt Nam Nguyễn Anh Đức Becamex Bình Dương 17 26 0,65
2018 Nigeria Ganiyu Oseni Hà Nội 17 26 0,65
2019 Sénégal Pape Omar Faye Hà Nội 15 26 0,58
Brasil Bruno Cantanhede Viettel
2020 Jamaica Rimario Gordon Hà Nội 12 20 0,60
Brasil Pedro Paulo Sài Gòn
Kỉ lục
  • Nguyễn Văn DũngGaston Merlo nắm giữ các kỉ lục là vua phá lưới nhiều lần nhất: 4 lần, với Nguyễn Văn Dũng là các năm 1984, 1985, 1986 và 1998 còn Gaston Merlo là các năm 2009, 2010, 2011 và 2016. Nguyễn Văn Dũng là vua phá lưới nhiều tuổi nhất (35 tuổi năm 1998); đoạt lại được danh hiệu vua phá lưới với khoảng thời gian cách xa nhất (12 năm, từ 1986 tới 1998); chia sẻ kỷ lục vua phá lưới 3 năm liên tiếp (1984–86) với Gaston Merlo (Argentina) (2009–11).
  • Nguyễn Hồng Sơn là vua phá lưới trẻ nhất (20 tuổi năm 1990).
  • Hoàng Vũ Samson (Samson Kayode) là chân sút số 1 V-League mọi thời đại với 189 bàn (tính đến ngày 23/10/2019).
  • Nguyễn Công Long là vua phá lưới với tỉ lệ cao nhất (1,2 bàn / trận, 12 bàn / 10 trận mùa bóng 1993 - 94). Tuy nhiên nếu xét tới số trận đấu thì các cầu thủ như Nguyễn Cao Cường (22 bàn / 23 trận, 1982–83), Lê Huỳnh Đức (25 bàn / 27 trận, 1996) và Kesley Alves (21 bàn / 22 trận, 2005) mới là thành tích đáng kể.
  • Kể từ khi các cầu thủ nước ngoài được thi đấu ở Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (2003), vua phá lưới đều là cầu thủ nước ngoài, ngoại trừ duy nhất Nguyễn Anh Đức (2017). Almeida (Brasil) là cầu thủ nước ngoài đầu tiên bảo vệ được danh hiệu vua phá lưới.
  • Về câu lạc bộ, đội bóng Nam Định (trước là Công nghiệp Hà Nam Ninh) và SHB Đà Nẵng (trước là Quảng Nam-Đà Nẵng) dẫn đầu với 6 danh hiệu vua phá lưới (trong đó có 4 của Nguyễn Văn Dũng và 3 của Gaston Merlo).

Trận đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà tài trợ chính[sửa | sửa mã nguồn]

V-League đã trải qua những nhà tài trợ khác nhau với những cái tên như Strata, Sting, Kinh Đô, Petro Vietnam Gas hay Eximbank…

Kể từ mùa giải 2000-2001, giải vô địch quốc gia gắn mình với tên và logo của nhà tài trợ chính và mở đầu là Công ty Tiếp thị thể thao Strata. Phía Strata đề nghị mua tên giải V-League không có ngực áo, cộng 12 biển quảng cáo trên sân với giá khoảng 400.000 USD và cả Cup quốc gia với giá 100.000 USD. Sau hai mùa giải, Strata rút lui khỏi V-League.

Sau Strata, V-League 2002-2003 có tên là Sting V-League. Công ty nước giải khát Pepsi tài trợ tên giải và Công ty Cổ phần Kinh Đô là nhà tài trợ chính thức. "Sting" là tên gọi một sản phẩm mới của Pepsi, sắp ra thị trường Việt Nam trong thời gian đó. Dù vậy mùa giải này tiền thưởng cũng bị cắt giảm khi đội vô địch chỉ nhận được khoản tiền thưởng bằng một nửa mùa trước là 500 triệu đồng. Cái tên Sting V-League cũng chỉ tồn tại sau một mùa giải và tới mùa giải 2003-2004, Kinh Đô V-League xuất hiện. Theo một số nguồn tin, Liên đoàn bóng đá Việt Nam nhận khoảng 9 tỷ đồng từ Kinh Đô trong mùa giải này. Dù vậy lời hứa từ Kinh Đô sẽ độc quyền tài trợ cho V-League trong 3 mùa không trở thành hiện thực khi ở những mùa giải tiếp theo, V-League gắn với cái tên Number One V-LeagueEurowindow V-League.

Sự xuất hiện của Tổng Công ty khí thuộc tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã giúp V-League có khoảng thời gian dài nhất gắn với tên nhà tài trợ. Tên giải đấu Petro Vietnam Gas V-League kéo dài 4 mùa giải và giúp cho giải đấu có nguồn tài chính ổn định. Đó là một dấu ấn trước khi Petro Vietnam Gas không còn xuất hiện và Eximbank vào thay. Từ trước tới nay, Eximbank là đơn vị tài trợ chi nhiều nhất cho V-League. Đến mùa giải 2014, số tiền mà Eximbank tài trợ cho một mùa bóng của V-League đã lên tới hơn 40 tỷ đồng. Tuy nhiên, trường hợp của Eximbank cũng là ngoại lệ bởi gói tài trợ của đơn vị này bao gồm hậu thuẫn từ Chủ tịch Liên đoàn bóng đá Việt Nam Lê Hùng Dũng, người cũng là Chủ tịch Hội đồng quản trị Eximbank và là Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị VPF. Mùa giải 2015, nhà tài trợ chính thức cho giải đấu là Toyota. Kết thúc mùa giải 2017, Toyota nói lời chia tay sau 3 năm tài trợ với số tiền 120 tỉ đồng.[25]

Sau Toyota, NutiFood với thương hiệu NutiCafe là cái tên tiếp theo gắn liền với giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (V-League) trong mùa giải 2018.[26] Năm 2019, Masan với thương hiệu Wake-up 247 đã trở thành nhà tài trợ chính giải Vô địch Quốc gia mùa bóng 2019.[27][28] Masan đã đồng ý tài trợ cho V.League trong 5 năm[29] nhưng cuối cùng chỉ tài trợ cho V-League được 1 mùa giải vì ngày 6 tháng 2 năm 2020, Tập đoàn LS Holdings ký kết hợp tác tài chính tại Giải bóng đá LS V.League 1-2020 và LS V.League 2-2020 và tập đoàn này chính thức là nhà tài trợ mùa giải 2020.[30][31]

Một số vấn đề gây tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Vấn đề trọng tài[sửa | sửa mã nguồn]

Vấn đề trọng tài mắc sai lầm ở giải đã diễn ra trong nhiều năm và gây nhiều bức xúc trong dư luận. Một số trọng tài không đủ thể lực và trình độ chuyên môn tham gia điều hành trận đấu.[32] Một trong những giải pháp tạm thời được đưa ra là thuê trọng tài nước ngoài điều khiền một số trận đấu của giải.[33]

Bản quyền truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Bạo lực sân cỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Vấn nạn bạo lực ở V-League không phải là mới khi các cầu thủ thi đấu quyết liệt trên mức cần thiết. Tuy nhiên các nhà tổ chức vẫn chưa có giải pháp triệt để cho vấn đề này. Một số pha phạm lỗi đã khiến cầu thủ bị chấn thương nặng, thậm chí dẫn để từ giã sự nghiệp.[34]

Một ông chủ nhiều đội bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 05/7/2019, ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch câu lạc bộ Hoàng Anh Gia Lai đã có bình luận về tình trạng một ông chủ nhiều đội bóng ở V-league. Phát biểu của ông Đoàn Nguyên Đức khiến người đọc liên tưởng tới ông Đỗ Quang Hiển, chủ của câu lạc bộ Hà Nội và SHB Đà Nẵng, đồng thời là nhà tài trợ đặc biệt của câu lạc bộ Quảng Nam và Sài Gòn.[35] Trước đó vào năm 2018, ông Đoàn Nguyên Đức cũng cho rằng tình trạng một ông chủ nhiều đội bóng sẽ làm giảm động lực đầu tư vào bóng đá Việt Nam.[36] Dư luận nhận định trong 10 năm từ 2009-2019,chỉ hai năm vô địch liên tiếp 2018 và 2019 là CLB Hà Nội thể hiện sức mạnh rõ ràng, nhờ dàn tuyển thủ quốc gia có lúc lên tới 10 người nhưng các chức vô địch còn lại đều có "dấu ấn" của các mối quan hệ điểm số giữa Hà Nội – Đà Nẵng – Quảng Nam.[37]

Một số nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

[38]

[39]

  • Ông Trần Anh Tú, Chủ tịch VPF phát biểu năm 2020

[40]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Liên đoàn Bóng đá Việt Nam”. 
  2. ^ http://cand.com.vn/The-thao-24h/CLB-Viettel-se-viet-tiep-thuong-hieu-doi-bong-ao-linh-512476/
  3. ^ “trích Báo Nhân dân”. 9 tháng 1 năm 1961. 
  4. ^ https://vff.org.vn/vai-net-ve-lich-su-phat-trien-cua-bong-da-hai-phong/
  5. ^ https://baoquangbinh.vn/the-thao/202004/bong-da-viet-nam-40-nam-tu-a1-den-v-league-2176096/
  6. ^ https://danviet.vn/viettel-vo-dich-vleague-2020-nhung-ky-luc-nao-se-duoc-thiet-lap-20201107143810263.htm
  7. ^ Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam công bố Nhà tài trợ chính Giải bóng đá Ngoại hạng-Eximbank 2012.
  8. ^ Công văn 81 VPF về việc Tên giải Vô địch Quốc gia chuyên nghiệp 2012
  9. ^ Thông báo: Đổi tên Super League trở lại thành V.League
  10. ^ Quyết định Ban hành Điều lệ giải bóng đá VĐQG - Eximbank 2013 (V.League 1)
  11. ^ “Lịch sử Giải bóng đá VĐQG, V- League”. http://thethaovanhoa.vn/. Ngày 30 tháng 11 năm 2013. 
  12. ^ Sau khi xuống hạng ở mùa giải 2009, và sau khi Thanh Hóa được Viettel chuyển giao đội 1 cho đội Thể Công, ngày 18 tháng 1 năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định vĩnh viễn giải tán đội bóng thi đấu ở Giải hạng Nhất vì lý do thiếu kinh phí. Khánh Ngọc. “Thanh Hóa “khai tử” đội hạng Nhất: Nhà nghèo không thể chơi sang”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2010.  Sau đó, CLB Viettel được thành lập dựa trên nền tảng của CLB Thể Công
  13. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh từng tham dự V-League là đội Cảng Sài Gòn, sau đổi tên thành Thép Miền Nam - Cảng Sài Gòn.
  14. ^ Kết thúc mùa giải 2009, Bộ Quốc Phòng đã giao Thể Công cho Viettel quản lý, Tổng công ty Viễn thông Quân đội đã lập tức chuyển giao đội 1 cho Thanh Hóa nhưng vẫn giữ toàn bộ hệ thống câu lạc bộ.Vĩnh Xuân. “Thanh Hóa mua Thể Công: Coi như đã xong!”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009.  Đội bóng mới mang tên Lam Sơn Thanh Hóa.Phong Vũ. “15h30 ngày 23/1, Lam Sơn Thanh Hóa – SHB.ĐN: Lam Sơn có phất cao cờ ?”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2010. 
  15. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Xi măng Hải Phòng từng tham dự V-League là đội Công an Hải Phòng, sau được chuyển giao về sở Văn hóa-Du Lich-Thể thao Hải Phòng, đội từng mang các tên Thép Việt Úc - Hải Phòng, Mitsustar Haier - Hải Phòng rồi Vạn Hoa Hải Phòng.
  16. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Ngân hàng Đông Á từng tham dự V-League là đội Công an Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi Ngân hàng Đông Á giải thể đội được chuyển giao cho Sơn Đồng Tâm Long An, tiếp đó được chuyển nhượng cho Xi măng The Vissai Ninh Bình cùng với suất chơi ở hạng nhất. P.T. “V.Ninh Bình: Tiền mua tiên cũng được”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2009. 
  17. ^ Navibank Sài Gòn có tiền thân là đội bóng Quân khu 4. Kết thúc mùa giải 2009, Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã chuyển giao đội bóng cho Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt(Navibank). Đội bóng mới mang tên Navibank Sài Gòn.
  18. ^ Hoàng Hảo - Đại Nghĩa. “Xoá tên đội bóng Quân khu 4”. Thể thao & Văn hóa Online. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020. 
  19. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội ACB từng tham dự V-League là đội Tổng cục Đường sắt. Sau khi Ngân hàng Á Châu (ACB) tiếp quản, có thời gian dùng tên LG-ACB, LG-Hà Nội-ACB, Hà Nội-ACB, Bóng đá Hà Nội. Sau khi người sáng lập ra Ngân hàng Á Châu đồng thời là chủ câu lạc bộ Bóng đá Hà Nội (bầu Kiên) bị bắt, câu lạc bộ bị giải thể. Xin tham khảo lịch sử câu lạc bộ Bóng đá Hà Nội.
  20. ^ Câu lạc bộ bóng đá Hòa Phát Hà Nội thành lập từ năm 2003, trên cơ sở nòng cốt 26 cầu thủ và 8 nhân viên bị loại ra từ 2 đội là Câu lạc bộ bóng đá Hàng không Việt Nam (trước là Công an Hà Nội) và câu lạc bộ bóng đá LG-ACB. Xin tham khảo lịch sử câu lạc bộ Hòa Phát Hà Nội.
  21. ^ https://vff.org.vn/cau-lac-bo-the-cong/
  22. ^ “Số liệu chuyên môn sau vòng 26 giải bóng đá VĐQG - TOYOTA 2016”. Công ty VPF. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2016. 
  23. ^ VPF - Toyota V.League 1 (21 tháng 9 năm 2015). “Số liệu chuyên môn sau vòng 26 giải bóng đá VĐQG - TOYOTA 2015”. vnleague.vn. Truy cập 29 tháng 9 năm 2015. 
  24. ^ https://tuoitre.vn/nguoi-linh-gia-cua-the-cong-tren-dat-tay-do-128248.htm
  25. ^ [http://www.vnleague.com/vpf/doi-tac/ |title=Đối tác|work=http://www.vnleague.com/ |date=ngày 1 tháng 11 năm 2015}}
  26. ^ “Nutifood trở thành nhà tài trợ chính cho V.League 2018”. 
  27. ^ “Công ty CP hàng tiêu dùng Masan là nhà tài trợ chính Wake-up 247 V.League 2019”. 
  28. ^ [https://vpf.vn/khong-phan-loai/wake-up-247-tro-thanh-nha-tai-tro-chinh-giai-vdqg-mua-bong-2019/ |title=Wake-up 247 trở thành Nhà tài trợ chính giải VĐQG mùa bóng 2019|work=vpf.vn |date=ngày 20 tháng 2 năm 2019}}
  29. ^ “V.League có nhà tài trợ mới: 'Chúng tôi chỉ cần không tiêu cực'. 
  30. ^ [https://bongdaplus.vn/bong-da-viet-nam/ls-han-quoc-tai-tro-v-league-va-hang-nhat-vi-hlv-park-hang-seo-2881312002.html |title=LS Hàn Quốc tài trợ V.League và hạng Nhất vì HLV Park Hang Seo|work=bongdaplus.vn |date=ngày 6 tháng 2 năm 2020}}
  31. ^ [https://vpf.vn/khong-phan-loai/ls-la-nha-tai-tro-chinh-tai-giai-vdqg-va-hnqg-2020/ |title=LS là Nhà tài trợ chính tại Giải VĐQG và HNQG 2020|work=vpf.vn |date=ngày 6 tháng 2 năm 2020}}
  32. ^ https://dantri.com.vn/the-thao/vff-co-giai-quyet-duoc-van-nan-trong-tai-o-v-league-20200726202956832.htm
  33. ^ https://vietnamnet.vn/vn/the-thao/thue-trong-tai-ngoai-thoi-v-league-vua-bat-luc-vua-ton-thuong-401519.html
  34. ^ https://nhandan.com.vn/the-thao-hangthang/bong-da-nao-trong-tai-nay-197822/
  35. ^ https://laodong.vn/bong-da/bong-dung-bau-duc-am-chi-5-doi-bong-cua-1-ong-bau-742605.ldo
  36. ^ http://nghean24h.vn/bau-duc-toi-khong-tro-lai-vff-mong-bong-da-viet-nam-trong-sach-a521227.html
  37. ^ https://www.thethaovanhoa.vn/bong-da-viet-nam/bau-hien-so-huu-bao-nhieu-doi-bong-o-viet-nam-n20200602112433839.htm
  38. ^ V-League vẫn chỉ là nghiệp dư lãnh lương cao mà thôi
  39. ^ https://anninhthudo.vn/bau-kien-va-cac-phat-ngon-gay-soc-post144263.antd
  40. ^ https://vtvgo.vn/trang-chu.html

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Việt)