Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Huy hiệu

Hiệp hội
Huấn luyện viên Trương Tấn Bửu
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
 Trung Quốc 5–3 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 
(Trung Quốc, 4 tháng 10, 1956)
Trận quốc tế cuối
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2–1 Cuba 
(VNDCCH, 20 tháng 9, 1970)
Trận thắng đậm nhất
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 9–0 Bắc Yemen 
(VNDCCH; 15 tháng 11, 1966)
Trận thua đậm nhất
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 0–5 Algérie 
(VNDCCH, 22 tháng 11, 1959)

 CHDCND Triều Tiên 5–0  Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(Triều Tiên, 22 tháng 10, 1959)


Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đội tuyển cấp quốc gia của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) trong thời gian 1955 đến 1975.

Bóng đá được du nhập vào Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ 19, do những thủy thủ và binh sĩ người châu Âu. Trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi Việt Nam tạm thời chia thành hai vùng tập kết quân sự, với ba chính thể chính trị bao gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt NamViệt Nam Cộng hòa.[1] Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đại diện của nền bóng đá miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa.

Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chủ yếu chơi trong các giải của các nước Xã hội chủ nghĩa từ 1956 đến 1966.

Đội có chuyến thi đấu quốc tế đầu tiên sang Trung Quốc năm 1956[2], dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Trương Tấn Bửu, đội đá theo sơ đồ 3-2-5 (W-M) cổ điển với những gương mặt: thủ môn Đức "ba xương"; các hậu vệ Te - Nghẽn - Lưu Đình Tòng; các tiền vệ Luyến - Thưởng; đá tiền đạo gồm Trương Tấn Nghĩa - Bảy - Tuất - Tiền - Ba Len.[3]. Trận này đội thua Trung Quốc 5-3.

Thập niên 1960 Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (do cầu thủ của Trường Huấn luyện quốc gia và đội Thể Công) được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Đông Đức... đã thi đấu ở các giải GANEFO (Indonesia, 1963) và GANEFO châu Á (Campuchia, 1966).

Những cầu thủ nổi tiếng giai đoạn này: Lê Thế Thọ, Long, Phàn, Ngọc, Chính, Vinh, Từ Hiển, Hùng (xồm), Khánh, Giáp, Thế Anh... Nhiều vận động viên là lấy từ đội Thể Công.

Sau GANEFO 1966 ở Campuchia, đội ít ra nước ngoài và cuối năm 1970, Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không dự một trận đấu quốc tế nào nữa [4]. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam thống nhất thì đội bóng cũng được hợp nhất với Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa thành Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, mãi tới năm 1991, Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam mới bắt đầu tham gia vào các giải đấu quốc tế.

Giải thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Giải châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

  • không tham dự

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đối thủ Số trận Thắng Hòa Thua Bàn thắng Bàn thua
Algérie Algérie 1 1 0 5
Trung Quốc CHND Trung Hoa 6 1 5 9 17
Cuba Cuba 1 1 2 1
Ai Cập Ai Cập 1 1 1 4
Trung Quốc Khu tự trị Quảng Tây 1 1 3 1
Guinée Guinea 1 1 2 1
Flag of Democratic Kampuchea.svg Campuchia 3 1 2 6 5
Indonesia Indonesia 2 2 2 5
Lào Lào 1 1 9 1
Mông Cổ Mông Cổ 1 1 3 1
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Bắc Triều Tiên 6 6 2 17
Yemen Bắc Yemen 1 1 9 0
Palestine Palestine (1966) 1 1 4 0

Nguồn:[5]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.tranxuanan-writer.net/Home/danh-muc-tac-pham-txa/tieu-luan-2/bai32/tu-lieu2-pluc
  2. ^ “Lịch sử hình thành CLB Bóng đá Thể Công”. www.thecong.vn. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  3. ^ “Quái chiêu Hà Nội: Tòng "cháy" & tuyệt chiêu”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
  4. ^ North Vietnam - List of International Matches
  5. ^ Dựa theo [1][2], Truy cập 7 tháng 12 năm 2009

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]