Đội bóng đá Thể Công

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Thể Công)
Đội bóng đá Thể Công
The Cong.png
Biệt danhĐội bóng áo lính
Cơn lốc đỏ
Thành lập1954
Giải thể2009

Đội bóng đá Thể Công (trước đây có thời gian mang tên Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quân đội) là một câu lạc bộ bóng đá tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Viettel, do Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng quản lý.

Năm 2009, Bộ Quốc phòng quyết định thu hồi phiên hiệu Thể Công. Câu lạc bộ được chuyển giao từ Tổng cục Chính trị sang Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) quản lý và chính thức mang tên Câu lạc bộ bóng đá Viettel.[1][2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm Câu lạc bộ bóng đá Viettel

Ngày 23 tháng 9 năm 1954, thể theo chỉ định của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị vào lúc đó là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Đoàn Công tác Thể dục Thể thao Quân đội được thành lập. Thể Công vốn là tên viết tắt của cụm từ "Thể dục thể thao công tác đội".[3] Hạt nhân đầu tiên của đội gồm 23 cán bộ chiến sĩ của Trường Sĩ quan Lục quân I[4] được chia làm ba đội: bóng đá 11 cầu thủ (nay là Câu lạc bộ Bóng đá Viettel), bóng rổ 5 người (nay là CLB Bóng rổ Quân chủng Phòng không - Không quân) và bóng chuyền 6 người (nay là Câu lạc bộ Bóng chuyền Thể Công Tân Cảng). Ngoài ra cả ba đội bóng còn có một cầu thủ dự bị đặc biệt đó là Lý Đức Kim vừa biết đá bóng, vừa biết bóng rổ, bóng chuyền, vừa có khả năng làm y tá, vừa hậu cần giỏi. Kim kiêm luôn các chức năng hỗ trợ trên.[3] 11 cầu thủ bóng đá Thể Công đầu tiên chơi theo đội hình chiến thuật W - M gồm: Thủ môn Lê Nhâm; Trung vệ Nguyễn Văn Hiếu; Hậu vệ phải Phạm Ngọc Quế; Hậu vệ trái Nguyễn Thiêm; Tiền vệ phải Ngô Xuân Quýnh; Tiền vệ trái Phạm Mạnh Soạn; Tả biên Trương Vinh Thăng; Hữu biên Nguyễn Bá Khánh; Trung phong Nguyễn Văn Bưởi (Đội trưởng); Hộ công phải Nguyễn Thông (Kiêm luôn Huấn luyện viên); Hộ công trái Vũ Tâm (tức Phạm Vinh).[3]

Hơn một tháng sau, ngày 25 tháng 10, trong trận bóng đá đầu tiên được tổ chức từ ngày giải phóng Thủ đô Hà Nội tại sân vận động Hàng Đẫy, Thể Công đã có trận đấu đầu tiên trong lịch sử của mình gặp đội Trần Hưng Đạo, gồm các cầu thủ xuất thân từ giới lao động Thủ đô. Đội giành chiến thắng với tỉ số 1-0 với bàn thắng duy nhất của trận đấu được ghi ngay từ giây thứ 30 do công của trung phong đội trưởng Nguyễn Văn Bưởi.[3]

Đến năm 1955, giải bóng đá đầu tiên của Việt Nam được tổ chức tại Hải Phòng với tên gọi "Giải Hoà Bình", đội Thể Công tham gia hai đội hình A và B. Cả hai đội đều giành chức vô địch của hai hạng A và B.[3]

Từ năm 1955 đến năm 1979, Thể Công luôn là đội bóng mạnh quốc gia với 13 lần vô địch giải bóng đá hạng A Việt Nam. Ngoài ra Thể Công còn có rất nhiều trận thắng vẻ vang khắp Quốc tế như 2 trận thắng đội Bát Nhất (đội bóng mạnh nhất Trung Quốc lúc đó) hay thắng cả đội tuyển Cuba rất mạnh... Trong khoảng thời gian đấy, lứa cầu thủ tiêu biểu của Thể Công là lứa Nguyễn Thế Anh (Ba Đẻn), Nguyễn Cao Cường, Quản Trọng Hùng, Vương Tiến Dũng, Nguyễn Trọng Giáp, Vũ Mạnh Hải... với đa số là lứa cầu thủ trẻ được đi tập huấn dài hạn ở Triều Tiên năm 1967 và khi về nước họ là những cầu thủ tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu Quốc gia.[5]

Sau khi đất nước thống nhất và chính thức có giải Vô địch Quốc gia, Thể Công vẫn luôn là một trong những đội bóng mạnh nhất Việt Nam với 5 lần vô địch (tính tới năm 1998). Các cầu thủ Thể Công luôn là nòng cốt của đội tuyển Quốc gia và đóng góp rất nhiều cầu thủ trong lứa thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam như thủ môn Trần Tiến Anh, các cầu thủ Đỗ Mạnh Dũng, Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Hồng Sơn, Trương Việt Hoàng, Nguyễn Đức Thắng, Phạm Như Thuần, Triệu Quang Hà, Đặng Phương Nam, Vũ Công Tuyền... Thể Công là đội bóng trụ lâu nhất ở V-League khi tới năm 2004 đội mới bị xuống hạng (năm 1980 CLB Quân đội không tham dự giải).

Tròn 50 năm thành lập, năm 2004, câu lạc bộ xếp thứ 11/12 tại Giải Vô địch Quốc gia 2004 và phải xuống hạng Nhất. Đội bóng thi đấu yếu kém một phần do chủ trương không tuyển ngoại binh, trái ngược với tất cả các đội bóng khác khi đó. Sang mùa giải sau, câu lạc bộ đổi tên thành Thể Công Viettel (Viettel là tên giao dịch của Tổng Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội) và chịu sự quản lý một phần của đơn vị này. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị câu lạc bộ nên trở lại tên gọi cũ[6].

Ngày 1 tháng 9, Thể Công chính thức giành quyền lên V-League sau khi thắng Tây Ninh với tỷ số 5-3. Ngay sau đó, đội bóng chính thức trở lại tên gọi cũ - Thể Công.

Tính tới nay Thể Công là câu lạc bộ giàu truyền thống nhất Việt Nam với 19 lần vô địch, bao gồm gồm 9 lần vô địch giải hạng A miền Bắc, 4 lần vô địch giải hạng A Quốc gia và 6 lần vô địch Quốc gia và vô số giải thưởng khác. Câu lạc bộ luôn sản sinh ra nhiều tài năng kiệt xuất của bóng đá Việt Nam cũng như khu vực. Thể Công cũng là câu lạc bộ có đội ngũ cổ động viên đông đảo nhất Việt Nam với các cổ động viên từ Bắc vào Nam.

Ngày 22 tháng 9 năm 2009 (trước ngày kỷ niệm 55 năm thành lập Đoàn thể thao Thể Công) Bộ Quốc phòng đã quyết định thu hồi phiên hiệu Thể Công và đội bóng chính thức mang tên Viettel.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội bóng đá Thể Công: 1954-1975, 1999-2002.
  • Đội bóng đá CLB (Thể dục Thể thao) Quân đội: 1976-1998.
  • CLB Bóng đá Thể Công: 2003-2004, 2008-2009.
  • CLB Bóng đá Thể Công Viettel: 2005-2007.
  • CLB Bóng đá Viettel: 2009.

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Hơn 40 năm lịch sử của Thể Công gắn liền với sân vận động Cột Cờ, một sân vận động nhỏ nằm giữa Thủ đô Hà Nội, trong khuôn viên sân Đoan Môn của Di tích Hoàng thành Thăng Long, cách không xa Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tòa nhà Quốc hội. Từ sau mùa giải năm 1998, Thể Công lần lượt sử dụng sân vận động Hàng Đẫy rồi sân vận động Quốc gia Mỹ Đình làm sân nhà.

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày tháng 1 năm 2021 [7]

[8] Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Việt Nam Ngô Xuân Sơn
3 HV Việt Nam Quế Ngọc Hải
4 HV Việt Nam Bùi Tiến Dũng (Đội trưởng)
5 HV Việt Nam Trương Văn Thiết
6 TV Việt Nam Vũ Minh Tuấn
7 TV Brasil Caíque Venâncio Lemes
8 TV Việt Nam Nguyễn Trọng Hoàng
9 Việt Nam Trần Ngọc Sơn
10 CF Việt Nam Pedro Paulo
11 TV Uzbekistan Abdumuminov Jakhongir
12 TV Việt Nam Hồ Khắc Ngọc
14 Việt Nam Bùi Quang Khải
17 TV Việt Nam Nguyễn Đức Hoàng Minh
19 Việt Nam Trần Danh Trung
20 Việt Nam Nhâm Mạnh Dũng
Số VT Quốc gia Cầu thủ
21 HV Việt Nam Nguyễn Đức Chiến
22 Việt Nam Nguyễn Hữu Thắng
23 Việt Nam Cao Trần Hoàng Hùng
25 TM Việt Nam Quàng Thế Tài
26 TM Việt Nam Trần Nguyên Mạnh
28 TV Việt Nam Nguyễn Hoàng Đức
29 TV Việt Nam Trương Tiến Anh
31 Việt Nam Trần Hoàng Sơn
33 TV Việt Nam Dương Văn Hào
66 Việt Nam Bùi Đình Sơn
68 Việt Nam Nguyễn Việt Phong
77 TV Việt Nam Nguyễn Trọng Đại
88 TV Việt Nam Bùi Duy Thường
91 HV Brasil Luiz Silva Walter
92 Việt Nam Nguyễn Đức Hoàng Minh
92 Việt Nam Nguyễn Thanh Bình
93 Việt Nam Đàm Tiến Dũng
99 Việt Nam Đặng Văn Trâm

Thành tích (Tính tới năm 2022)[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

- Giải bóng đá Quân đội các nước ASEAN[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng Vô địch: 2004.

2 Á quân: 1999.

- Giải bóng đá Quân đội các nước Xã hội chủ nghĩa (SKDA)[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Hạng ba: 1989.

Danh hiệu Giải Vô địch bóng đá cấp Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng 19 lần vô địch (Kỷ lục): 1955 (Giải Hòa Bình), 1956, 1958, 1969, 1971, 1972, 1973, 1974, 1975, 1976, 1977, 1978, 1979, 1981-82, 1982-83, 1987, 1990, 1998, 2020. Cụ thể:

- Giải bóng đá hạng A miền Bắc Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng 10 lần vô địch: 1955 (Giải Hòa Bình), 1956, 1958, 1969, 1971, 1972, 1973, 1974, 1975, 1976.

2 Á quân: 1957

- Giải bóng đá hạng A Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng 3 lần vô địch: 1977, 1978, 1979 (cả 3 lần đều vô địch cấp toàn quốc).

- Giải bóng đá Vô địch Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng 6 lần vô địch: 1981-82, 1982-83, 1987, 1990, 1998, 2020.

2 Á quân: 1984, 1986, 1989.

Đồng Hạng ba: 1985, 1992, 1993-94, 2000-01.

Các Danh hiệu khác[sửa | sửa mã nguồn]

- Giải bóng đá Cúp Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

2 4 lần Á quân: 1992, 2004, 2009 và 2020.

- Giải bóng đá Siêu Cúp Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng Vô địch: 1998.

2 Á quân: 2020.

- Giải bóng đá Dunhill Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Hạng ba: 1998.

Đại hội TDTT toàn quốc - Bộ môn bóng đá nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng Vô địch: 2001.

Danh hiệu ở các hạng đấu thấp hơn[sửa | sửa mã nguồn]

- Giải bóng đá hạng Nhất Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng 2 lần vô địch: 2007, 2018 (V.League 2).

- Giải bóng đá hạng Nhì Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng Vô địch: 2015.

2 Á quân: 2009 (Đội trẻ).

- Giải bóng đá hạng Ba Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng 3 lần vô địch: 2008 (đội trẻ), 2012, 2015 (đội trẻ).

Danh hiệu Giải trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

- Giải bóng đá Thiếu niên (U-13) toàn quốc Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng Vô địch: 2011, 2015, 2016.

2 Á quân: 2012, 2013, 2017.

Đồng Hạng ba: 2014

- Giải bóng đá U-15 Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng Vô địch: 2015.

2 Á quân: 2002, 2013, 2017, 2018.

Đồng Hạng ba: 2014, 2019

- Giải bóng đá U-17 Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng Vô địch: 2018.

2 2 lần Á quân: 2015, 2017.

Đồng 5 lần hạng ba: 2005, 2011, 2014, 2016, 2019.

- Giải bóng đá U-19 Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng 3 lần vô địch: 1998, 2002, 2009.

2 3 lần Á quân: 1997, 2016, 2022.

Đồng 3 lần hạng ba: 2014, 2017, 2018.

- Giải bóng đá U-21 Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Vàng 4 lần vô địch: 1997, 1998, 1999, 2020.

2 Á quân: 2017.

Đồng 3 lần hạng ba: 2005, 2018, 2022.

Một số cầu thủ nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “CLB bóng đá Thể Công đổi tên thành Viettel”. vff.org. 27 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2021.
  2. ^ “Thể Công có tên mới”. Zing News. 30 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2021.
  3. ^ a b c d e “Lịch sử hình thành CLB Bóng đá Thể Công”. www.thecong.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009.
  4. ^ “Thể Công - Hào hùng và truyền thống”. www.thecong.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2009.
  5. ^ [1] Lưu trữ 2009-06-15 tại Wayback Machine
  6. ^ Thể Công Viettel sẽ trở lại là Thể Công Lưu trữ 2007-12-17 tại Wayback Machine trên Việt Nam Net ngày 5 tháng 7 năm 2007
  7. ^ “Viettel - Các CLB Bóng đá thành viên của VPF - Các Giải Bóng Đá Chuyên nghiệp Việt Nam - V.League - HNQG - Cup QG - Công ty cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam - VPF - www.vpf.vn - www.vnleague.com - www.vnleague.vn Nguyễn Đức Kiên - Bầu Kiên - Đoàn Nguyên Đức - Võ Quốc Thắng - Phạm Ngọc Viễn - Lê Hùng Dũng - Nguyễn Trọng Hỷ - Trần Quốc Tuấn - Tanaka Koji”. www.vnleague.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.
  8. ^ “Viettel mượn bộ đôi của HAGL - Football Tribe Việt Nam”. football-tribe.com. ngày 5 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2018.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]