Hans-Jürgen Gede

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hans-Jürgen Gede
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Hans-Jürgen Gede
Ngày sinh 14 tháng 11, 1956 (63 tuổi)
Nơi sinh Gelsenkirchen, Tây Đức
Chiều cao 1,73 m (5 ft 8 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Vị trí Trung vệ (bóng đá)
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1975–1977 FC Schalke 04 33 (2)
1977–1979 SC Preußen Münster 72 (10)
1979–1991 SC Fortuna Köln 344 (48)
Các đội đã huấn luyện
1991–1992 Fortuna Düsseldorf
1993–1994 Persepolis (Trợ lý)
1994 Persepolis
1994–1995 Đội tuyển bóng đá quốc gia U-23 Iran
1996–1997 KSV Hessen Kassel
1998 Đội tuyển bóng đá quốc gia Iran (Giám đốc kỹ thuật)
1999–2001 SV Lippstadt 08
2001–2003 Rot-Weiß Oberhausen (Trợ lý)
2003–2004 Đội tuyển bóng đá quốc gia Uzbekistan (Trợ lý)
2004 Đội tuyển bóng đá quốc gia Uzbekistan
2005–2006 Shahid Ghandi
2006 Al-Ahli
2007–2008 Kuala Lumpur FA
2008–2009 Neftchi Baku
2009 Okktha United FC
2009–2010 Tahaddy
2011 Esteghlal (Assistant)
2011–2012 Zob Ahan (Assistant)
2013 Aluminium (Trợ lý)
2013–2014 Aluminium
2016– Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam (Giám đốc kỹ thuật)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia

Hans-Jürgen Gede (sinh ngày 14 tháng 11 năm 1956 tại Gelsenkirchen) là một Huấn luyện viên bóng đá và cựu cậu thủ bóng đá người Đức. Ông hiện nay là Giám đốc kĩ thuật Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam

Sự nghiệp bóng đá[sửa | sửa mã nguồn]

Gede bắt đầu chơi bóng đá trong FC Schalke 04 vào năm 1975. Năm 1977, anh gia nhập SC Preußen Münster và sau khi chơi 71 lần cho câu lạc bộ, anh rời Preußen và gia nhập SC Fortuna Köln. Anh đã có 344 lần ra sân cho Fortuna Köln và ghi được 48 bàn thắng.[1] Anh nghỉ hưu vào năm 1991.

Sự nghiệp huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của Fortuna Düsseldorf vào năm 1991, chỉ vài tháng sau khi ông nghỉ hưu. Ông đã ký một hợp đồng với phía Persepolis của Iran vào năm 1994 và có kết quả tốt với Persepolis. Sau khoảng ba tháng ở Persepolis, ông được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của đội bóng đá quốc gia dưới 23 tuổi của Iran vào tháng 6 năm 1994 để dẫn dắt đội bóng tham dự Thế vận hội Mùa hè 1996, nhưng ông đã không thành công và bị sa thải sau đó. Sau đó, ông đã huấn luyện trong các đội như KSV Hessen Kassel và SV Lippstadt 08. Sau đó ông trở thành trợ lý huấn luyện viên của Rot-Weiß Oberhausen. Năm 2004, ông được bổ nhiệm làm trợ lý huấn luyện viên của đội tuyển bóng đá quốc gia Uzbekistan và trở thành huấn luyện viên trưởng năm 2005, huấn luyện đội trong hai trận đấu. Từ năm 2005 đến 2006, ông là huấn luyện viên trưởng của Shahid Ghandi trong Liên đoàn Azadegan. Al-Ahli Manama, Kuala Lumpur FA, Neftchi Baku, Okktha United FC và Tahaddy là các đội tiếp theo của anh. Trong Cup Vịnh Ba Tư 2010–11, ông là trợ lý huấn luyện viên cho Parviz Mazloomi ở Esteghlal. Vào ngày 1 tháng 6 năm 2011, ông được bổ nhiệm làm trợ lý huấn luyện viên của Zob Ahan. Ngày 20 tháng 6 năm 2016, ông được bổ nhiệm làm giám đốc kỹ thuật của Việt Nam.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Arnhold, Matthias (24 tháng 8 năm 2017). “Hans-Jürgen Gede - Matches and Goals in Bundesliga”. RSSSF. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017.