Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội
Quân đội nhân dân Việt Nam
Quốc gia Việt Nam
Thành lập1 tháng 6, 1989; 30 năm trước
Phân cấpDoanh nghiệp Quân đội (nhóm 4)
Nhiệm vụKinh doanh đa ngành
Quy mô50.000 người
Bộ phận củaFlag of the People's Army of Vietnam.svgBộ Quốc phòng
Bộ chỉ huyHà Nội
Websitewww.viettel.com.vn
Chỉ huy
Chỉ huyThiếu tướng Lê Đăng Dũng

Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) là một tập đoàn Viễn thông và Công nghệ Việt Nam[1].

Sản phẩm nổi bật nhất của Viettel là mạng di động Viettel Mobile, hiện đang là nhà mạng giữ thị phần lớn nhất trên thị trường dịch vụ viễn thông Việt Nam[2]. Trong 30 năm hoạt động, từ ngành nghề chính ban đầu là xây lắp công trình viễn thông, đến nay Viettel đã phát triển thêm 5 ngành nghề mới là ngành dịch vụ viễn thông & CNTT; ngành nghiên cứu sản xuất thiết bị điện tử viễn thông, ngành công nghiệp quốc phòng, ngành công nghiệp an ninh mạng và ngành cung cấp dịch vụ số.

Tính từ năm 2000 tới  nay, Viettel đã tạo ra hơn 1,78 triệu tỷ đồng doanh thu; lợi nhuận đạt 334 ngàn tỷ đồng; vốn chủ sở hữu 134 ngàn tỷ đồng; tỷ suất lợi nhuận / vốn chủ sở hữu thường xuyên đạt từ 30-40%. Viettel đã chi 3.500 tỷ đồng thực hiện các chương trình xã hội[3].

Hiện nay, Viettel đã đầu tư tại 10 thị trường nước ngoài ở 3 Châu lục gồm Châu Á, Châu Mỹ, Châu Phi[4]. Năm 2018, Viettel đạt doanh thu 10 tỷ USD (234.500 tỷ VND)[5]. Viettel được đánh giá là một trong những công ty viễn thông có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới[6]. Năm 2019, Viettel đã trở thành doanh nghiệp thuộc Top 15 công ty viễn thông lớn nhất thế giới về số thuê bao, Top 40 công ty viễn thông lớn nhất thế giới về doanh thu. Giá trị thương hiệu của Viettel được Brand Finance xác định là 4,3 tỷ USD - thuộc Top 500 thương hiệu lớn nhất trên thế giới, và là thương hiệu giá trị nhất Việt Nam[7].

Lịch sử hình thành

1989 - 1999: Công ty xây lắp công trình cột cao

Ngày 1 tháng 6 năm 1989, Tổng Công ty Điện tử thiết bị thông tin (SIGELCO) được thành lập, là tiền thân của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel)[8]. Những ngày đầu thành lập, Sigelco có khoảng 40 nhân sự, vốn là bộ đội từ các đơn vị của của Binh chủng Thông tin liên lạc[9].

Trong những năm đầu thành lập, Sigelco tập trung triển khai các công trình xây lắp cột cao. Năm 1990, Sigelco xây dựng tuyến vi ba số AWA đầu tiên của Việt Nam. Từ năm 1990 đến năm 1994, Sigelco tiếp tục hoàn thành nhiều dự án công trình thi công xây lắp như: 14 trạm vi ba tiếp nối Vinh - Đà Nẵng và Đà Nẵng – TP HCM, 7 tháp ăng-ten vi ba Đà Nẵng – Nha Trang và Nha Trang – Bình Định, tuyến vi ba răng Ba Vì – Vinh cho Tổng cục Bưu điện; tuyến vi ba băng rộng 140Mb/s Hà Nội – Đà Nẵng; tháp ăng-ten cao nhất Việt Nam (85m) cho Bưu điện Quảng Ninh[10]

Tháng 12/1992, Tổng Công ty Điện tử thông tin đề nghị Nhà nước cho phép được chuyển thành Công ty Điện tử thiết bị thông tin trực thuộc Binh chủng thông tin liên lạc[11].

Ngày 13 tháng 6 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ ra Thông báo số 3179/ĐM-DN (do Phó Thủ tướng Trần Đức Lương ký) quyết định cho phép thành lập Công ty Điện tử viễn thông Quân đội. Ngày 14/7/1995, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đổi tên Công ty Điện tử thiết bị thông tin thành Công ty Điện tử Viễn thông quân đội trực thuộc Binh chủng thông tin liên lạc, tên giao dịch quốc tế là VIETEL. Vietel khi đó cũng là doanh nghiệp thứ hai được cấp giấy phép kinh doanh đầy đủ các dịch vụ viễn thông ở Việt Nam[12].

Ngày 1/7/1997, Trung tâm Bưu chính được thành lập với dịch vụ đầu tiên là phát hành báo chí. Năm 1997, Vietel hoàn thành nhiều công trình thông tin cho ngành Bưu điện, Phát thanh, Vô tuyến truyền hình tại địa phương, trong đó có tháp truyền hình cao nhất Việt Nam (125m) tại Tuyên Quang[13].

Tháng 9/1999, Vietel hoàn thành đường trục thông tin quân sự Bắc – Nam đầu tiên của Việt Nam, ký hiệu tuyến cáp 1A. Tuyến đường trục cáp quang dài gần 2.000 km, với 19 trạm chính và một số trạm nhánh, dung lượng 2.5 Mbps. Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam áp dụng thành công công nghệ thu-phát trên một sợi quang[6].

2000 - 2009: Bùng nổ thị trường viễn thông

Ngày 3/2/2000, Tổng Cục trưởng Mai Liêm Trực ký quyết định cho phép Vietel triển khai thử nghiệm dịch vụ điện thoại đường dài, sử dụng công nghệ VoIP. Khi đó, Vietel là đơn vị duy nhất tại Việt Nam được cấp phép[14]. Ngày 15/10/2000, Vietel chính thức kinh doanh thử nghiệm có thu phí dịch vụ điện thoại đường dài VoIP trên tuyến Hà Nội – TP HCM với dịch vụ “178 – mã số tiết kiệm của bạn”. Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên ở Việt Nam, bên cạnh VNPT, có một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông[15].

Ông Mai Liêm Trực, cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông, chia sẻ: “Tôi biết rằng đó sẽ là một đêm lịch sử. Khi đó, không mấy người hiểu và hình dung được điều này. Ngay cả người Viettel có lẽ cũng không hiểu được hết sự thay đổi đến mức kinh khủng của thị trường viễn thông Việt Nam sau sự kiện tháng 10 năm ấy”.

Dịch vụ 178 thành công, mang về cho Vietel những nguồn lực rất lớn. Vietel mở rộng dịch vụ 178 tới 62 tỉnh thành khác (lúc đó Hà Nội và Hà Tây chưa sáp nhập), và hoàn vốn sau 9 tháng đưa vào khai thác toàn mạng[14]. Năm 2000, Vietel lắp đặt thành công cột phát sóng của Đài truyền hình quốc gia Lào (140m)[16]. Ngày 5/12/2001, Vietel mở dịch vụ điện thoại quốc tế sử dụng công nghệ VoIP[6].

Ngày 28/12/2002, Vietel chính thức khai trương dịch vụ kết nối Internet, tốc độ đường truyền Internet quốc tế 2Mbps với giá còn 1/3 so với giá hiện hành[17]. Ngày 28/10/2003, Bộ Quốc phòng đổi tên Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội thành Công ty Viễn thông Quân đội thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc, tên giao dịch là Viettel[18]. Tháng 3/2003, Viettel cung cấp dịch vụ điện thoại cố định (PSTN) đường dài tại Hà Nội và TP HCM. Ngày 9/1/2004, Viettel chính thức ra mắt logo và bộ nhận diện thương hiệu Viettel và sử dụng đến nay[19].

Ngày 27/4/2004, Bộ Quốc phòng điều chuyển Viettel thuộc Binh chủng Thông tin Liên lạc về trực thuộc Bộ Quốc phòng[20]. Ngày 15/10/2004, Viettel khai trương dịch vụ thông tin di động 098[21]. Khát vọng của Viettel khi ấy là mỗi người dân Việt Nam có một chiếc điện thoại di động[22].

Năm 2005, Viettel hoàn thành tuyến cáp quang quân sự Bắc – Nam 1B sau 2 năm triển khai. Đây là đường trục 10Gbps đầu tiên của Việt Nam, giúp vùng phủ truyền dẫn trong nước của Viettel tăng từ 23 lên 52 tỉnh. 7 tháng sau, Viettel hoàn thành đường cáp quang 1C, sử dụng công nghệ ghép bước sóng (DWDM), dụng lượng 40 lambda[21]. Ngày 6/4/2005, Công ty Viễn thông Quân đội chuyển đổi thành Tổng Công ty Viễn thông Quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng, các Trung tâm và Xí nghiệp trực thuộc chuyển đổi thành các Công ty con[23]. Viettel cũng ra mắt cách tính cước theo block 6s. Sau khi cách tính cước này tạo bước đột phá trên thị trường, Viettel tiếp tục thống nhất phương thức tính cước này trên các dịch vụ còn lại, trở thành doanh nghiệp đầu tiên tính cước block 6s cho dịch vụ điện thoại đường dài[24].

Năm 2006, Viettel thành lập Công ty Viettel Cambodia, cung cấp dịch vụ điện thoại quốc tế, Internet và thuê kênh tại Campuchia[25]. Viettel trở thành công ty đầu tiên của Việt Nam đầu tư viễn thông ra nước ngoài[26]. Tháng 3/2007, Viettel sáp nhập 3 Công ty lớn bao gồm: Đường dài, Internet, Di động thành Công ty Viễn thông Viettel (Viettel Telecom)[27]. Tháng 6/2007, Trung tâm Công nghệ Viettel được thành lập[28]. Ngày 24 tháng 10 năm 2007, Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội đã cấp Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103020282 cho phép thành lập Công ty Cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel (Viettel Global JSC)[29].

Năm 2008, Viettel đẩy mạnh các hoạt động trách nhiệm xã hội như: tài trợ chương trình Chúng tôi là chiến sĩ, Như chưa hề có cuộc chia ly, chương trình mổ tim nhân đạo Trái tim cho em, chương trình phẫu thuật Nụ cười, Internet trường học[30]

Ngày 19/2/2009, Viettel Cambodia khai trương dịch vụ với thương hiệu Metfone trên toàn lãnh thổ Campuchia[31]. Ngày 16/10/2009, Star Telecom (liên doanh giữa Viettel và Lao Asia Telecom) khai trương dịch vụ với thương hiệu Unitel tại Lào[32]. Ngày 14/12/2009, Tổng Công ty Viễn thông Quân đội trở thành Tập đoàn Viễn thông Quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng[33]. Sau hơn 5 năm hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ di động, Viettel Mobile đã chiếm được 40% thị phần thuê bao di động với hơn 42,5 triệu thuê bao kích hoạt. Bùng nổ dịch vụ viễn thông cũng giúp doanh thu của Viettel tăng gấp hơn 1.000 lần trong vòng 10 năm[30].

2010 - 2018: Tập đoàn công nghệ và toàn cầu

Ngày 25/3/2010, Viettel khai trương 3G tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước với 8.000 trạm phát sóng 3G tại thời điểm khai trương[34]. Cuối năm 2010, Viettel hoàn thành chương trình kết nối Internet trường học cho toàn ngành giáo dục[35].

Ngày 8/9/2011, Viettel khai trương mạng Natcom, cung cấp các dịch vụ viễn thông tại Haiti sau gần 1 năm đầu tư, trở thành công ty duy nhất cung cấp đầy đủ dịch vụ viễn thông, công nghệ 3G và cũng là nhà mạng sở hữu cổng kết nối Internet quốc tế duy nhất của Haiti qua tuyến cáp quang biển 10Gbps tới Bahamas kết nối đi Mỹ. Tổng thống Haiti, ông Michel Martelly chia sẻ, 3.000 km cáp quang mà NATCOM đã xây dựng sẽ góp phần tạo nên cuộc cách mạng về lĩnh vực viễn thông ở đất nước này[36]. Cuối năm 2011, dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông và công nghệ thông tin (CNTT) của Viettel đi vào vận hành, có khả năng sản xuất nhiều chủng loại khác nhau như thiết bị đầu cuối, thiết bị hạ tầng mạng, thiết bị thông tin quân sự[6]. Năm 2011 cũng đánh dấu nhiều dấu mốc trong nghiên cứu sản xuất như: thử nghiệm thành công hệ thống cảnh báo sóng thần tại Đà Nẵng[37], thử nghiệm thành công hệ thống giám sát hồ nước[38], khai trương trung tâm dữ liệu Viettel IDC Sóng Thần[39], thành lập Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel[40]. Số lượng đường trục cáp quang của Viettel được nâng lên thành 5 đường (1A, 1B, 1C, 1D và Đông Dương)[41]. Ngày 5/12/2011, Viettel tiếp nhận nguyên trạng EVN Telecom[42].

Ngày 15/5/2012, Viettel khai trương mạng di động Movitel tại Mozambique[43]. Đầu tháng 10, loạt điện thoại di động Sumo 2G V6206 đầu tiên do Viettel tự sản xuất trên dây chuyền của mình đã xuất xưởng và đưa ra thị trường. Viettel cũng thực hiện thành công sản xuất, chế tạo nhiều thiết bị thông tin quân sự đáp ứng nhu cầu an ninh quốc phòng[44]. Với doanh thu năm 2012 hơn 141.418 tỷ đồng, Viettel trở thành doanh nghiệp viễn thông và CNTT lớn nhất Việt Nam[45].

Bước sang năm 2013, tại các diễn đàn viễn thông và CNTT, lãnh đạo Tập đoàn tuyên bố thay đổi chuyển dịch trong Viettel, từ nhà mạng viễn thông thành nhà cung cấp dịch vụ[46]. Bộ Quốc Phòng chính thức giao nhiệm vụ cho Viettel sản xuất trang bị quân sự[47]. Tháng 3/2013, mạng Telemor ở Timor Leste khai trương[48]. Tháng 11/2013, Bưu chính Viettel (Viettel Post) cán mốc doanh thu một nghìn tỷ đồng, trở thành thành viên của CLB các doanh nghiệp nghìn tỷ tại Việt Nam[49].

Năm 2014, Viettel chính thức bán những thẻ sim đầu tiên với thương hiệu Nexttel tại Cameroon[50] và Bitel tại Peru[51]. Sau hơn 10 năm kinh doanh dịch vụ di động, Viettel bắt đầu chuyển hướng sang CNTT bằng việc ra đời nhiều dịch vụ giải pháp như: dịch vụ chứng thực chữ ký số CA[52], hệ thống quản lý nhà trường SMAS[53], dịch vụ Agri.One hỗ trợ người nông dân[54], dịch vụ chống trộm và giám sát thông minh cho xe máy Smart Motor[55], dịch vụ chuyển tiền tận nhà BankPlus[56]… Cũng trong năm này, Viettel thay đổi cách làm các chương trình xã hội, tập trung vào các chương trình lớn, có ý nghĩa xã hội cao như Quỹ bò giống thoát nghèo[57], Internet băng siêu rộng[58], Vì em hiếu học[59]

Tháng 3 và tháng 10/2015, Viettel bắt đầu kinh doanh tại Burundi với thương hiệu Lumitel[60] và tại Tazania với thương hiệu Halotel[61]. Tại Việt Nam, Viettel là doanh nghiệp viễn thông đầu tiên thử nghiệm cung cấp dịch vụ 4G[62].

Tháng 11/2016, Viettel chính thức nhận giấy phép cung cấp dịch vụ 4G trên lãnh thổ Việt Nam và tuyên bố sản xuất thành công thiết bị hạ tầng cho mạng viễn thông[63]. Viettel cán mốc 36 triệu khách hàng quốc tế[64].

Ngày 18/4/2017, Viettel chính thức khai trương mạng viễn thông 4G tại Việt Nam. Với vùng phủ toàn quốc lên tới 95% dân số, Viettel là nhà mạng đầu tiên trên thế giới có vùng phủ 4G toàn quốc ngay khi khai trương[65]. Giữa năm 2017, hệ thống tính cước thời gian thực (vOCS) do Viettel tự phát triển đi vào hoạt động[66]. Ngày 19/7/2017, Công ty mẹ Viettel chính thức được Chính phủ công nhận là doanh nghiệp Quốc phòng An ninh[67].

Năm 2018 cũng chứng kiến những nỗ lực của Viettel trong việc góp phần thúc đẩy Chính phủ điện tử với các sản phẩm: hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng quốc gia, dự án cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, dự án đô thị thông minh, cổng thông tin 1 cửa quốc gia[68]. Ngày 5/1/2018, Tập đoàn Viễn thông Quân đội đổi tên thành Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội[69]. Tháng 3/2018, dịch vụ máy chủ ảo do Viettel phát triển mang tên Viettel StartCloud ra đời, Viettel dẫn đầu thị trường về dịch vụ Data Center và Cloud[70]. Tháng 6/2018, thương hiệu quốc tế thứ 10 của Viettel – mạng di động quốc tế Mytel – khai trương tại Myanmar[71]. Tháng 8/2018, Viettel chuyển tiếp sang Giai đoạn phát triển 4: Giai đoạn của 4.0 và Kinh doanh toàn cầu. Chiến lược phát triển trong giai đoạn này là duy trì tốc độ tăng trưởng 10-15%, trở thành Tập đoàn công nghệ kinh doanh toàn cầu, tiếp tục duy trì vị thế dẫn dắt số một Việt Nam về viễn thông và công nghiệp công nghệ cao[72].

2018 - nay: Nhà cung cấp dịch vụ số

Đầu tháng 12/2018, Viettel kích hoạt thành công 30 trạm phát sóng đầu tiên cùng nền tảng cung cấp dịch vụ sử dụng công nghệ NB-IoT tại Hà Nội, trở thành nhà mạng đầu tiên tại Việt Nam triển khai thành công mạng IoT thương mại[73]. Nửa đầu năm 2019, Viettel cũng ra mắt nhiều Tổng Công ty và Công ty đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển giai đoạn 4 của mình như: Tổng Công ty Giải pháp Doanh nghiệp, Công ty An ninh mạng, Tổng Công ty Công nghiệp Công nghệ cao và Tổng Công ty Dịch vụ số.[74]

Tháng 4/2019, Viettel hoàn thành tích hợp hạ tầng phát sóng 5G đầu tiên tại khu vực hồ Hoàn Kiến (Hà Nội) và phát sóng thử nghiệm thành công trên các băng tần được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép. Ngày 10/5/2019, Viettel cùng Tập đoàn Ericsson (Thụy Điển) thực hiện kết nối chính thức lần đầu tiên trên mạng di động 5G tại Việt Nam[75].

Tháng 6/2019, Viettel++, chương trình chăm sóc khách hàng lớn nhất từ trước đến nay của Viettel, chính thức đi vào hoạt động[76]. Cuối tháng 6/2019, Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-cabinet) do Viettel phát triển cũng đi vào hoạt động sau hơn 3 tháng chuẩn bị. Tại buổi khai trương Hệ thống, Quyền Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Viettel Lê Đăng Dũng cam kết sẽ luôn đồng hành cùng Chính phủ để góp phần thực hiện sứ mệnh kiến tạo xã hội số, triển khai thành công Chính phủ điện tử tại Việt Nam[77].

Tháng 7/2019, Trung tâm giám sát điều hành đô thị thông minh cấp tỉnh đầu tiên của Việt Nam trên nền tảng Smart City đã ra mắt tại Thừa Thiên Huế.  Mô hình được triển khai trên nền tảng giải pháp Smart City của Viettel[78]. Với 10 dịch vụ giám sát đô thị thông minh, thu thập phản ánh của người dân và gửi đến các cơ quan chức năng để xử lý nhanh chóng, mô hình tại Huế được Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đánh giá rất cao[79]. Thứ trưởng Bộ Thông tin & Truyền thông Phạm Anh Tuấn cho rằng đây là mô hình phù hợp cho việc triển khai xây dựng trên toàn quốc theo mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra[80].

Cũng trong tháng 7/2019, Viettel bước chân vào thị trường gọi xe công nghệ với ứng dụng MyGo, đồng thời ra mắt website thương mại điện tử VoSo.vn[81]. Cuối tháng 7, Viettel tuyên bố sẽ định hướng ứng dụng Mocha thành một siêu ứng dụng, đáp ứng các nhu cầu nghe nhạc, xem phim, video, đọc tin tức, chơi game… và kết nối với nhiều ứng dụng khác của Viettel[82].

Tháng 8/2019, tại Diễn đàn cấp cao về CNTT-TT Việt Nam (Vietnam ICT Summit) 2019, Viettel cùng một số doanh nghiệp CNTT lớn tại Việt Nam thành lập Liên minh Chuyển đổi số Việt Nam. Thiếu tướng Lê Đăng Dũng, Quyền Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Viettel được bầu làm Chủ tịch Liên minh[83].

Tháng 9/2019, Viettel công bố sẽ phát sóng 5G và đưa vào khai thác hạ tầng kết nối vạn vật (IoT) tại TP Hồ Chí Minh. Tại đây, Viettel đã hoàn thành xây dựng 1.000 trạm NB-IoT phủ sóng 100% thành phố và phủ sóng 5G trên toàn bộ phường 12, quận 10, TP HCM. TP HCM trở thành địa phương đầu tiên trên cả nước phủ sóng 5G liền mạch và IoT trên diện rộng. Theo công bố của Hiệp hội Di động Thế giới (GSMA), Viettel là đại diện duy nhất của Việt Nam góp mặt trong danh sách 50 nhà mạng đầu tiên trên thế giới triển khai thành công công nghệ 5G[84].

Khen thưởng cấp Nhà nước

  • Huân chương Độc lập hạng Nhất (2019)[85]
  • Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (2013)[85]
  • Danh hiệu Anh hùng Lao động (2011)[86]
  • Huân chương Độc lập hạng Ba (2009)[87]
  • Danh hiệu Anh hùng Lao động giai đoạn 1996-2005 (2007)[85]
  • Huân chương Lao động Hạng Nhất (2004)[88]

Các giải thưởng Quốc tế

  • Giải Vàng hạng mục Chiến dịch Mobile Marketing của năm, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho chiến dịch “Shake the Amazing” của Mytel (2019)[89]
  • Giải Vàng hạng mục Công ty phát triển nhanh nhất năm, khu vực Trung Đông và Châu Phi, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho Lumitel (2019)[89]
  • Giải Bạc hạng mục Chiến dịch Truyền thông PR của năm – Ra mắt sản phẩm dịch vụ mới, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho Mytel (2019)[89]
  • Giải Bạc hạng mục Kinh doanh/Chính phủ, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho ứng dụng Viettel Post (2019)[89]
  • Giải Đồng hạng mục Phòng Truyền thông của năm, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho Phòng Truyền thông của Viettel Post (2019)[89]
  • Giải Đồng hạng mục Sản phẩm viễn thông mới xuất sắc, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho gói cước không giới hạn Ti5 của Viettel Peru (2019)[89]
  • Giải Đồng hạng mục Dịch vụ mới tốt nhất trong lĩnh vực tài chính, Giải thưởng International Business Awards – IBA Stevie Awards cho sản phẩm ViettelPay (2019)[89]
  • Giải Dự án thành phố thông minh sáng tạo nhất châu Á, Giải thưởng Telecom Asia Awards (2019)[90]
  • Giải Best Story telling – short form hạng mục Chiến dịch xuất sắc nhất của năm, Giải thưởng Youtube Works Awards 2019 cho sản phẩm ViettelPay (2019)[91]
  • Giải Nhất hạng mục Fintech, Giải thưởng APICTA 2018 cho sản phẩm ViettelPay (2018)[92]
  • Giải Vàng hạng mục Sản phẩm/Dịch vụ tốt nhất của năm, Giải Kinh doanh Quốc tế International Business Stevie Awards (IBA) cho sản phẩm Hệ thống tính cước thời gian thực vOCS 3.0 (2018)[93]
  • Giải Bạc hạng mục Doanh nghiệp phát triển nhanh nhất năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Halotel (2017)[94]
  • Giải Bạc hạng mục Chiến dịch marketing ấn tượng nhất năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Bitel (2017)[94]
  • Giải Vàng hạng mục Sản phẩm, dịch vụ mới tốt nhất lĩnh vực Truyền thông và Giải trí, Giải thưởng Stevie Awards cho gói Youtube trên thị trường Campuchia, Tanzania và Peru (2017)[94]
  • Giải Bạc hạng mục Dịch vụ, sản phẩm viễn thông mới tốt nhất, Giải thưởng Stevie Awards (2017)[94]
  • Giải Bạc hạng mục Dịch vụ sản phẩm, dịch vụ CSKH mới tốt nhất, Giải thưởng Stevie Awards cho sản phẩm My Viettel (2017)[94]
  • Giải Bạc hạng mục Sản phẩm, dịch vụ CNTT cho Sức khỏe, Giải thưởng CNTT Thế giới cho sản phẩm Hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe cơ bản và Hệ thống tiêm chủng quốc gia (2017)[95]
  • Giải Vàng hạng mục Giải pháp Phát triển ứng dụng di động, Giải thưởng CNTT Thế giới cho sản phẩm Mocha (2017)[95]
  • Giải Đồng hạng mục Cải tiến trong CNTT, Giải thưởng CNTT Thế giới cho sản phẩm Giải pháp Bảo mật viễn thông (2017)[95]
  • Giải Vàng hạng mục Sản phẩm triển khai tốt nhất tại Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Giải thưởng CNTT Thế giới cho sản phẩm Bankplus (2016)[96]
  • Giải Đồng hạng mục Sản phẩm và dịch vụ viễn thông tốt nhất, Giải thưởng CNTT Thế giới cho sản phẩm Hệ thống tính cước và chăm sóc khách hàng BCCS 2.0 và Hệ thống chống tin nhắn rác Anti-spam (2016)[96]
  • Giải Đồng, Giải thưởng CNTT Thế giới và Truyền thông ASEAN cho sản phẩm Hệ thống phân tích dữ liệu Customer Insights (2016)[97]
  • Giải Vàng hạng mục Doanh nghiệp phát triển nhanh nhất năm khu vực châu Á, châu Úc và New Zealand, Giải thưởng Stevie Awards cho Lumitel (2016)[98]
  • Giải Bạc hạng mục Chương trình xã hội của năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Bitel (2016)[98]
  • Giải Dịch vụ viễn thông mới tốt nhất năm và Giải chiến dịch Marketing của năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Metfone (2016)[98]
  • Giải Bạc hạng mục Sản phẩm, dịch vụ mới tốt nhất của năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Metfone (2016)[98]
  • Giải Vàng hạng mục Doanh nghiệp phát triển nhanh nhất năm khu vực châu Á, châu Úc và New Zealand, Giải thưởng Stevie Awards cho Telemor (2015)[99]
  • Giải Bạc hạng mục Chương trình xã hội của năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Natcom (2015)[99]
  • Giải Judge’s Award, Giải thưởng Mobile Innovations Awards, khu vực châu Âu, Trung Đông và châu Phi 2014 cho Movitel (2014)[100]
  • Giải Vàng hàng mục Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất năm, khu vực châu Âu, Trung Đông và châu phi, Giải thưởng Stevie Awards cho Movitel (2014)[101]
  • Giải Bạc hạng mục Dịch vụ khách hàng mới của Năm, Giải thưởng Stevie Awards cho sản phẩm Tổng đài tiếng dân tộc (2014)[102]
  • Giải Khởi nghiệp ấn tượng trong năm, Giải thưởng Stevie Awards cho Telemor (2014)[101]
  • Giải thưởng Dịch vụ tài chính tốt nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cho sản phẩm BankPlus Mastercard (2014)[103]
  • Giải Doanh nghiệp dẫn đầu về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực di động cho Movitel, Giải thưởng Frost & Sullivan (2013)[104]
  • Giải Hãng viễn thông tốt nhất tại thị trường đang phát triển, Giải thưởng Truyền thông Thế giới World Communication Awards cho Unitel (2012)[105]
  • Giải Doanh nghiệp có giải pháp tốt nhất giúp cải thiện viễn thông cho khu vực nông thôn Châu Phi, Giải thưởng Truyền thông Châu Phi AfricaCom cho Movitel (2012)[105]
  • Giải Nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tốt nhất thế giới tại các nước đang phát triển cho Metfone (2011)[106]
  • Giải Nhà cung cấp dịch vụ triển vọng nhất của năm, Giải thưởng Frost & Sullivan cho Metfone (2010)[107]
  • Giải Nhà cung cấp dịch vụ viễn thông thế giới tại các nước đang phát triển, Giải thưởng WCA (2009)[108]

Thành tựu nổi bật

Tại Việt Nam

  • Thương hiệu giá trị lớn nhất Việt Nam (2019)[7]
  • Nhà mạng đầu tiên triển khai thử nghiệm thành công cuộc gọi 5G (2019)[7]
  • Doanh nghiệp Viễn thông đầu tiên ở Việt Nam thử nghiệm cung cấp dịch vụ 4G (2015)[62]
  • Doanh nghiệp nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam (2012[109], 2013[110], 2014[111], 2015[112], 2016[113], 2017[113], 2018[113])
  • Doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất tại Lào và Campuchia (2014)[111]
  • Doanh nghiệp chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường viễn thông Việt Nam (2013)[30]
  • Mạng phủ sóng lớn nhất Việt Nam (2008)[114]
  • Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (2009)[108]
  • Số 4/10 thương hiệu nổi tiếng nhất Việt Nam (2009)[30]
  • Mạng lưới viễn thông lớn nhất Việt Nam (2009)[108]
  • Công ty di động lớn nhất Việt Nam (2008)[30]

Trong khu vực

  • Mạng di động giữ thị phần số 1 trên thị trường viễn thông tại Campuchia (2011-nay)[31]
  • Top 30 thương hiệu viễn thông giá trị nhất trong khu vực và số 1 tại Lào cho Unitel (2016)[32]
  • Nhà mạng duy nhất tại Peru cung cấp dịch vụ trên duy nhất nền tảng 3G (2014)[51]

Trên thế giới

  • 1 trong 50 nhà mạng đầu tiên trên thế giới triển khai thành công NB-IoT (2019)[73]
  • Top 500 thương hiệu có giá trị nhất thế giới (Brand Finance, 2019)[3]
  • Top 50 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới (Brand Finance, 2018)[7]
  • Thương hiệu có giá trị nhất Việt Nam (Brand Finance, 2018)[7]
  • Top 30 hãng viễn thông lớn nhất thế giới về người dùng (2016)[50]
  • Top 10 nhà khai thác có lượng thuê bao phát triển mới nhiều nhất trên thế giới (2012)[115]
  • Top 100 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới (Informa Telecoms & Media, 2008)[6]
  • Top 4 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tốt nhất ở các quốc gia đang phát triển (WCA, 2008, 2009)[30]
  • Top 100 các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông dựa trên số lượng thuê bao di động (Wire Intelligence, 2007)[30]
  • Số 1 trong top 20 công ty phát triển nhanh nhất (2007)[30]

Lĩnh vực kinh doanh

  • Cung cấp sản phẩm, dịch vụ viễn thông, CNTT, phát thanh, truyền hình, truyền thông đa phương tiện[69];
  • Hoạt động thông tin và truyền thông[69];
  • Hoạt động thương mại điện tử, bưu chính, chuyển phát[69];
  • Cung cấp dịch vụ tài chính, dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán, trung gian tiền tệ[69];
  • Cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử, trang tin điện tử, mạng xã hội[69];
  • Tư vấn quản lý, khảo sát, thiết kế, dự án đầu tư[69];
  • Xây lắp, điều hành công trình, thiết bị, hạ tầng mạng lưới viễn thông, CNTT, truyền hình[69];
  • Nghiên cứu, phát triển, kinh doanh trang thiết bị kỹ thuật quân sự, công cụ hỗ trợ phục vụ quốc phòng, an ninh[69];
  • Nghiên cứu, phát triển, kinh doanh hàng lưỡng dụng[69];
  • Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển[69];
  • Nghiên cứu, phát triển, kinh doanh máy móc, thiết bị viễn thông, CNTT, truyền hình và truyền thông đa phương tiện[69];
  • Nghiên cứu phát triển, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và an toàn thông tin mạng[69];
  • Quảng cáo, nghiên cứu thị trường[69];
  • Hoạt động tư vấn quản lý tổ chức giới thiệu và xúc tiến thương mại[69];
  • Thể thao[69].

Doanh thu và lợi nhuận

Năm Doanh thu (triệu đồng) Lợi nhuận (triệu đồng)
2008[116] 33.000.000 8.600.000
2009[117] 60.211.000 10.290.000
2010[118] 91.561.000 15.500.000
2011[119] 117.301.000 19.780.000
2012[120] 141.418.000 24.500.000
2013[121] 162.886.000 35.086.000
2014[111] 197.000.000 42.000.000
2015[122] 222.700.000 45.800.000
2016[122] 226.558.000 43.200.000
2017[5] 250.800.000 44.000.000
2018[5] 234.500.000 37.600.000

Các thị trường nước ngoài

Bản đồ các quốc gia Viettel đang đầu tư (tính đến tháng 11/2019)


Đầu tư thế giới của tập đoàn Viettel
(tháng 11/2019)
Châu Phi Châu Mỹ Châu Á
Burundi Lumitel Haiti Natcom Campuchia Metfone
Cameroon Nexttel Peru Bitel Lào Unitel
Mozambique Movitel Myanmar Mytel
Tanzania Halotel Đông Timor Telemor
Việt Nam Viettel

Trụ sở chính

Trụ sở chính của Viettel được đặt tại Lô D26, ngõ 3, đường Tôn Thất Thuyết, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Tham khảo

  1. ^ “Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (Dịch vụ truyền thông, thông tin)”. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2019. 
  2. ^ “Thị trường Viễn thông Việt Nam”. 12 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2019. 
  3. ^ a ă “Trong 19 năm, Viettel tạo ra hơn 1,78 triệu tỷ đồng doanh thu với tỷ suất lợi nhuận 30-40%”. Sài Gòn Giải Phóng Online. 1 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2019. 
  4. ^ “Viettel đã mở rộng kinh doanh viễn thông ở 7 quốc gia ở 3 châu lục”. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013. 
  5. ^ a ă â “Doanh thu Viettel 10 tỉ USD nhưng thấp hơn 2017, áp lực chuyển đổi mô hình dịch vụ”. Forbes Vietnam. 18 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  6. ^ a ă â b c “Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel)”. Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia. 6 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  7. ^ a ă â b c “Viettel được định giá hơn 4,3 tỷ USD, là thương hiệu giá trị nhất Việt Nam”. Tuổi Trẻ. 25 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2019. 
  8. ^ Nghị định số 58/HĐBT ngày 01/06/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập các tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc Bộ Quốc Phòng.
  9. ^ “Chuyện khó quên của người lính xây nền móng cho Viettel thời kỳ đầu”. CafeF. 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2019. 
  10. ^ “Website chính thức”. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  11. ^ Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về việc ban hành quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước
  12. ^ Quyết định số 615/QĐ-QP ngày 14/7/1995 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
  13. ^ “CEO Viettel Post: "Nếu không nhanh nhạy, chắc chắn bạn sẽ bị bỏ lại phía sau". CafeF. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  14. ^ a ă "Voi sữa" VOIP 178 và chuyện khởi tạo thực tại mới của ngành viễn thông Việt Nam”. Vietnamnet. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  15. ^ “Dãy nhà lụp xụp, đường trục cáp quang lịch sử và ý chí của những người Viettel đời đầu”. Dân Trí. 9 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  16. ^ “Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel)”. CafeF. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  17. ^ “Hành trình đưa Viettel đến ngôi vị nhà mạng nhanh nhất VN”. Báo điện tử Pháp luật TP Hồ Chí Minh. 13 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  18. ^ Quyết định số 262/2003/QĐ-BQP ngày 28/10/2003 của Bộ Quốc Phòng về việc đổi tên Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội thành Công ty Viễn thông Quân đội.
  19. ^ ““Gã nhà quê làm thương hiệu””. Dân Trí. 26 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  20. ^ Quyết định số 51/QĐ-BQP ngày 27/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc điều chuyển Công ty Viễn thông Quân đội thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc về trực thuộc Bộ Quốc phòng.
  21. ^ a ă “Những tháng năm lịch sử của di động 098”. ICT News. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  22. ^ Minh Phương, Khẳng định hướng đi trong phát triển công nghệ thông tin, Báo Nhân Dân, ngày 17/10/2010.
  23. ^ Quyết định số 45/2005/QĐ-BQP ngày 06/04/2005 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc thành lập Tổng Công ty Viễn thông Quân đội.
  24. ^ “Viettel Mobile sẽ tính cước theo block 6s+1”. Dân Trí. 19 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  25. ^ “Viettel cung cấp dịch vụ viễn thông cho Campuchia”. VnExpress. 29 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  26. ^ “Khi Viettel khai phá thị trường nước ngoài”. VnEconomy. 8 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  27. ^ Quyết định số 431/QĐ-TCTVTQĐ ngày 21/3/2007 của Tổng Giám đốc Tổng Công ty Viễn thông Quân đội về việc thành lập Công ty Viễn thông Viettel trực thuộc Tổng Công ty.
  28. ^ Quyết định số 854/QĐ-TCTVTQĐ ngày 20/6/2007 của Tổng Giám đốc Tổng Công ty Viễn thông Quân đội về việc ban hành phê chuẩn Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, biên chế tổ chức của Trung tâm Công nghệ Viettel.
  29. ^ Báo cáo thường niên 2018 của Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel
  30. ^ a ă â b c d đ e “VIETTEL: 10 năm và những dấu ấn”. Báo điện tử VTV News. 14 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  31. ^ a ă “Viettel đạt 2,2 tỷ đô doanh thu sau 10 năm có mặt tại Campuchia”. Dân Trí. 21 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  32. ^ a ă “Unitel – thương hiệu của Viettel tại Lào đã cán mốc 1 tỷ USD doanh thu lũy kế sau 7 năm kinh doanh”. CafeF. 28 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  33. ^ Quyết định số 2079/QĐ-TTg ngày 14/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Viễn thông Quân đội trực thuộc Bộ Quốc phòng trên cơ sở cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty Viễn thông Quân đội.
  34. ^ “Viettel chính thức khai trương mạng 3G”. Diễn đàn Doanh nghiệp. 25 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  35. ^ “100% trường học đã có Internet”. ICT News. 15 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  36. ^ “Viettel chính thức cung cấp dịch vụ tại Haiti”. VnEconomy. 8 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  37. ^ “Hệ thống cảnh báo sóng thần của Viettel: 5 giây phát đi thông báo đầu tiên”. Tài chính Điện tử. 19 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  38. ^ “Việt Nam có hệ thống thông tin giám sát hồ chứa đầu tiên”. Người Lao động. 26 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  39. ^ “Viettel ra mắt trung tâm dữ liệu lớn nhất Đông Nam Á”. VnEconomy. 24 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  40. ^ Quyết định số 3309/QĐ-BQP ngày 12/9/2011 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc thành lập Viện Nghiên cứu và Phát triển Viettel thuộc Tập đoàn Viễn thông Quân đội.
  41. ^ “Hành trình 30 năm từ xây lắp đến ông lớn công nghiệp viễn thông của Viettel”. VnExpress. 21 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  42. ^ Quyết định số 2151/QĐ-TTg ngày 5/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chuyển Công ty Thông tin viễn thông Điện lực từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam sang Tập đoàn Viễn thông Quân đội.
  43. ^ “Viettel khai trương mạng di động tại Mozambique”. VnExpress. 16 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  44. ^ “Chính thức có điện thoại “made by Viettel””. VnEconomy. 12 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  45. ^ “Viễn thông, công nghệ thông tin Việt Nam 2012: Năm dậy sóng”. VnEconomy. 27 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  46. ^ “Viettel từ bỏ khái niệm nhà mạng viễn thông”. Thời báo Tài chính Việt Nam Online. 29 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  47. ^ “Bộ Quốc phòng đặt niềm tin vào Viettel”. Dân Trí. 28 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  48. ^ “Viettel và cuộc tổng điều tra dữ liệu dân số tại Đông Timor: “Telemor đã tạo ra những khác biệt!””. Quân đội nhân dân. 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  49. ^ “Bưu chính Viettel gia nhập “câu lạc bộ nghìn tỷ””. BizLive. 29 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  50. ^ a ă “Viettel lọt vào top 30 doanh nghiệp viễn thông có nhiều khách hàng nhất thế giới”. Đầu tư Online. 21 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  51. ^ a ă “Viettel chính thức khai trương mạng di động Bitel tại Peru”. ICT News. 15 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  52. ^ “Chữ ký số hải quan điện tử Viettel-CA”. Website chính thức của Dịch vụ chữ ký số Viettel. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  53. ^ “Nâng cao quản lý giáo dục với SMAS 3.0”. Diễn đàn Công nghệ & Cuộc sống. 22 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  54. ^ “Viettel chính thức nhảy vào lĩnh vực ứng dụng CNTT trong nông nghiệp”. ICT News. 30 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  55. ^ “Viettel cung cấp dịch vụ chống trộm xe máy Smart Motor”. ICT News. 18 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  56. ^ “MB và Viettel ra mắt Dịch vụ BankPlus- Chuyển tiền tận nhà”. Thời báo Tài chính Việt Nam Online. 23 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  57. ^ “Viettel trao tặng bò giống giúp đồng bào nghèo khu vực biên giới”. Đại đoàn kết. 19 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  58. ^ “Giấc mơ mới của Tổng giám đốc Viettel”. VnEconomy. 29 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  59. ^ “Viettel công bố chương trình 10 năm ‘Vì em hiếu học’”. Zing News. 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  60. ^ “Viettel kinh doanh ra sao tại châu Phi?”. VnEconomy. 22 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  61. ^ “Viettel khai trương mạng tại Tanzania”. Tiền Phong. 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  62. ^ a ă “Đến lượt Viettel chính thức nhận giấy phép cung cấp dịch vụ 4G”. Dân Trí. 4 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  63. ^ “Viettel công bố sản xuất thành công thiết bị thu phát sóng 4G”. Thế giới & Việt Nam. 5 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  64. ^ “Viettel có 36 triệu khách hàng quốc tế năm 2016”. Dân Trí. 26 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  65. ^ “Viettel chính thức khai trương mạng 4G đầu tiên tại Việt Nam”. Dân Trí. 18 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  66. ^ “Viettel sản xuất thành công hệ thống tính cước theo thời gian thực”. Dân Trí. 2 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  67. ^ Quyết định số 1059/QĐ-TTg ngày 19/07/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc công nhận Viettel là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.
  68. ^ “Hạ tầng số của Viettel sẵn sàng để phát triển chính phủ số”. Website chính thức của TCT Giải pháp Doanh nghiệp Viettel. 5 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  69. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Nghị định số 05/2018/NĐ-CP ngày 5/1/2018 của Thủ tướng Chính phủ về Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội.
  70. ^ “Doanh thu và lợi nhuận của Viettel đều tăng trưởng”. Quân đội nhân dân Online. 6 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  71. ^ “Viettel khai trương Mytel - mạng viễn thông lớn nhất Myanmar”. Đầu tư Online. 9 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  72. ^ “Viettel công bố chiến lược giai đoạn 4.0”. Nhân dân. 5 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  73. ^ a ă “Viettel triển khai thành công NB-IoT”. Vietnamnet. 22 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  74. ^ “Viettel tăng trưởng mạnh mẽ cả về doanh thu và lợi nhuận”. Thời báo Tài chính Việt Nam Online. 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  75. ^ “http://ictvietnam.vn/thu-nghiem-cuoc-goi-5g-dau-tien-cua-viettel-dat-toc-do-1-618-gbps.htm”. Tạp chí Điện tử Thông tin và Truyền thông. 10 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  76. ^ “Viettel ra mắt dịch vụ chăm sóc khách hàng lớn nhất từ trước đến nay Viettel++”. Dân Trí. 18 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  77. ^ “e-Cabinet chính thức khai trương vào sáng nay”. Báo Điện tử Chính phủ. 24 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  78. ^ “Huế ra mắt trung tâm giám sát điều hành đô thị thông minh”. Tuổi Trẻ Online. 25 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  79. ^ 'Huế sẽ là đô thị thông minh đầu tiên tại Việt Nam'. VnExpress. 2 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  80. ^ “Thừa Thiên Huế triển khai hiệu quả mô hình đô thị thông minh”. Nhà báo & Công luận. 12 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  81. ^ “Viettel ra mắt sàn thương mại điện tử Voso.vn và ứng dụng gọi xe Mygo”. Dân Trí. 1 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  82. ^ “Viettel sẽ "biến" Mocha thành một siêu ứng dụng”. Sài Gòn Giải phóng Online. 30 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  83. ^ “Các ông lớn ICT "bắt tay" lập liên minh Chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam thành quốc gia hùng cường”. ICT News. 8 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  84. ^ “Sóng 5G chính thức được thử nghiệm tại TP.HCM”. Vietnamnet. 21 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  85. ^ a ă â “Viettel phấn đấu trở thành tập đoàn công nghiệp và công nghệ hùng mạnh mang tầm khu vực và thế giới”. Website chính thức của Ban Thi đua - Khen thưởng. 2 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  86. ^ “Viettel đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động”. VnExpress. 23 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  87. ^ “Viettel kỉ niệm 20 năm thành lập và đón nhận Huân chương độc lập hạng 3”. Website chính thức Bộ Thông tin và Truyền thông. 2 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  88. ^ “Công ty Viễn thông Quân đội đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất”. Website chính thức Bộ Thông tin và Truyền thông. 2 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  89. ^ a ă â b c d đ “Viettel thắng lớn tại ‘giải Oscar’ dành cho giới kinh doanh quốc tế”. Vietnamnet. 24 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  90. ^ “Viettel giành 'cú đúp' tại giải thưởng Viễn thông châu Á”. Vietnamplus. 20 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  91. ^ “ViettelPay được công nhận là dịch vụ tốt nhất trong lĩnh vực tài chính quốc tế”. Thanh tra Việt Nam. 30 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  92. ^ “ViettelPay thắng lớn tại giải thưởng APICTA 2018”. Báo Văn hóa điện tử. 18 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  93. ^ “Phần mềm vOCS 3.0 của Viettel nhận giải vàng kinh doanh quốc tế”. VnExpress. 23 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  94. ^ a ă â b c “Viettel lập kỷ lục tại Giải thưởng kinh doanh Quốc tế Stevie Awards 2017”. VTV News. 23 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  95. ^ a ă â “Viettel nhận nhiều giải IT World Awards 2017”. Thời báo Tài chính Việt Nam Online. 30 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  96. ^ a ă “Bankplus của Viettel giành Giải Vàng thế giới về sản phẩm CNTT”. Thời báo Tài chính Việt Nam Online. 28 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  97. ^ “Viettel đạt giải thưởng công nghệ Đông Nam Á”. Zing News. 28 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  98. ^ a ă â b “Viettel ‘thắng đậm’ tại Stevie Awards 2016”. Vietnamnet. 27 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  99. ^ a ă “Viettel triumphs with two wins at Stevie Awards 2015”. Cổng thông tin điện tử chính phủ. 26 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  100. ^ “Viettel joint venture Movitel wins mobile innovation award”. Nhân dân. 12 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  101. ^ a ă “Viettel đoạt hai danh hiệu tại Giải thưởng Kinh doanh quốc tế 2014”. Nhân dân. 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  102. ^ “Tổng đài Tiếng dân tộc của Viettel nhận Giải thưởng quốc tế Stevie Awards 2014”. ICT News. 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  103. ^ “Dịch vụ BankPlus MasterCard nhận giải thưởng quốc tế”. Tiền Phong. 30 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  104. ^ “Movitel đạt giải "DN dẫn đầu về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực di động". ICT News. 16 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  105. ^ a ă “Hai mạng di động ở nước ngoài của Viettel giành giải thưởng lớn”. Báo điện tử Chính phủ. 16 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  106. ^ “Metfone đoạt giải Nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất”. ICT News. 8 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  107. ^ “Campuchia vươn tầm khu vực với thương hiệu Metfone”. Zing News. 22 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  108. ^ a ă â “Năm 2009: Viettel đứng đầu về tăng trưởng”. Website chính thức Bộ Thông tin và Truyền thông. 22 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  109. ^ “Viettel nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam”. Tạp chí Tài chính. 3 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  110. ^ “Viettel quán quân nộp thuế TNDN năm 2013”. FICA. 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  111. ^ a ă â “Thủ tướng: Phấn đấu đưa Viettel trở thành tập đoàn hàng đầu khu vực”. Bộ Thông tin và Truyền thông. 3 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  112. ^ “Viettel là doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam năm 2015”. Nhân dân. 27 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  113. ^ a ă â “3 năm liên tiếp Viettel nộp thuế lớn nhất Việt Nam”. Thời báo Tài chính Việt Nam. 11 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  114. ^ Hàn Giang, Huyền thoại Google và câu chuyện của ngành viễn thông di động Việt Nam, Báo Tin tức, ngày 24/6/2009
  115. ^ “Viettel muốn đầu tư ra nước ngoài để có thị trường 1 tỷ dân”. ICT News. 25 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  116. ^ “Viettel công bố lãi 8.600 tỷ đồng”. VnEconomy. 14 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  117. ^ “Năm 2009: Viettel lãi 10 nghìn tỷ đồng”. CafeF. 15 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  118. ^ “Doanh thu 2010 của Viettel đạt trên 91.500 tỷ đồng”. VnEconomy. 18 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  119. ^ “Doanh thu Viettel ước đạt gần 400 tỷ/ngày”. Zing News. 16 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  120. ^ “Viettel lần đầu vượt doanh thu VNPT, lợi nhuận gấp 3 lần”. VnExpress. 24 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  121. ^ “2 tỷ USD, khoảng cách doanh thu 2013 của Viettel - VNPT”. VnEconomy. 23 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. 
  122. ^ a ă “Viettel đạt doanh thu “khủng” 226.558 tỷ đồng trong năm 2016”. CafeF. 22 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019.