Truyền hình kỹ thuật số

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Truyền hình kỹ thuật số (tiếng Anh: Digital television - DTV) là một hệ thống viễn thông phát và nhận tín hiệu hình ảnhâm thanh bằng các tín hiệu kỹ thuật số, trái với các tín hiệu tương tự (analog) được các đài truyền hình truyền thống sử dụng. Vào thời điểm phát triển, nó được coi là một tiến bộ đổi mới và đại diện cho sự phát triển quan trọng đầu tiên trong công nghệ truyền hình kể từ truyền hình màu vào những năm 1950.[1] Truyền hình kỹ thuật số hiện đại được truyền ở độ phân giải cao (HDTV) lớn hơn so với TV analog. Nó thường sử dụng tỷ lệ khung hình màn hình rộng (thường là 16:9) khác với định dạng khung hình hẹp của TV analog. Nó làm cho việc sử dụng tiết kiệm hơn không gian phổ vô tuyến khan hiếm; nó có thể truyền tối đa bảy kênh trong cùng dãy sóng như một kênh analog[2], và cung cấp nhiều tính năng mới mà truyền hình analog không thể. Một quá trình chuyển đổi từ truyền hình tương tự sang kỹ thuật số bắt đầu vào khoảng năm 2000. Các tiêu chuẩn phát sóng truyền hình kỹ thuật số khác nhau đã được áp dụng ở các khu vực khác nhau trên thế giới; dưới đây là một số tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi:

  • DTV sử dụng các dữ liệu điều biến, được nén bằng kỹ thuật số và yêu cầu giải mã bởi bộ giải mã thiết kế riêng cho tivi, hay một bộ thiết bị nhận tiêu chuẩn với một set-top box, hay một PCcạc tivi được tích hợp sẵn. Được giới thiệu cuối thập niên 1990, công nghệ truyền hình này đã hấp dẫn ngành kinh doanh truyền hình và ngành điện tử tiêu dùng do nó mang lại nhiều tính năng vượt trội và nhiều cơ hội tài chính mới. Ở Việt Nam, nhà nước cấp phép thành lập 03 đơn vị kinh doanh truyền hình kỹ thuật số vệ tinh là: K+, VTC (VOV) và mobiTV (Mobifone).
  • Hệ thống truyền hình tiên tiến (ATSC) sử dụng dải phụ di tích tám cấp (8VSB) để phát sóng mặt đất. Tiêu chuẩn này đã được 6 quốc gia áp dụng: Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Hàn Quốc, Cộng hòa Dominican và Honduras.
  • Dịch vụ tích hợp Phát sóng kỹ thuật số (ISDB) là một hệ thống được thiết kế để cung cấp khả năng thu sóng tốt cho các máy thu cố định và cả máy thu di động hoặc di động. Dịch vụ này sử dụng OFDM và xen kẽ hai chiều. Hỗ trợ truyền phân cấp lên đến ba lớp và sử dụng video MPEG-2 và Mã hóa âm thanh nâng cao. Tiêu chuẩn này đã được áp dụng ở Nhật Bản và Philippines. ISDB-T International là bản phóng tác của tiêu chuẩn này sử dụng H.264 / MPEG-4 AVC, được áp dụng ở hầu hết các quốc gia châu Phi nói tiếng Bồ Đào Nha và Bồ Đào Nha.
  • Phát sóng đa phương tiện mặt đất kỹ thuật số (DTMB) áp dụng công nghệ OFDM đồng bộ miền thời gian (TDS) với khung tín hiệu giả ngẫu nhiên để đóng vai trò là khoảng bảo vệ (GI) của khối OFDM và ký hiệu đào tạo. Tiêu chuẩn DTMB đã được áp dụng tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm cả Hồng Kông và Ma Cao.[3]
  • Digital Multimedia Broadcasting (DMB) là một công nghệ truyền dẫn vô tuyến kỹ thuật số được phát triển ở Hàn Quốc như một phần của dự án CNTT quốc gia để gửi đa phương tiện như TV, radio và dữ liệu tới các thiết bị di động như điện thoại di động, máy tính xách tay và hệ thống định vị GPS.
Bảng đồ về các chuẩn định dạng truyền hình kỹ thuật số xuất hiện trên thế giới


Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của truyền hình kỹ thuật số đã được liên kết rất chặt chẽ với sự sẵn có của các máy tính hiệu suất cao, rẻ tiền. Mãi đến những năm 1990, TV kỹ thuật số mới trở nên khả dụng[4]. Truyền hình kỹ thuật số trước đây không khả thi trên thực tế do yêu cầu băng thông cao không chính thức của video kỹ thuật số không nén, chúng yêu cầu tốc độ bit khoảng 200 Mbit / s (25 MB / s) cho tín hiệu truyền hình độ nét tiêu chuẩn (SDTV), và hơn 1 Gbit / s cho truyền hình độ nét cao (HDTV).[5]

Truyền hình kỹ thuật số đã trở nên khả thi trên thực tế vào đầu những năm 1990 do sự phát triển công nghệ lớn: nén video biến đổi cosine (DCT) rời rạc. Mã hóa DCT là một kỹ thuật nén lần đầu tiên được đề xuất để nén hình ảnh bởi Nasir Ahmed vào năm 1972[6], và sau đó được điều chỉnh thành thuật toán mã hóa video DCT bù chuyển động, cho các tiêu chuẩn mã hóa video như định dạng H.26x từ năm 1988 trở đi và các định dạng MPEG từ năm 1991 trở đi[7][8]. Nén video DCT bù chuyển động đã giảm đáng kể lượng băng thông cần thiết cho tín hiệu TV kỹ thuật số.[5][9] Mã hóa DCT đã giảm các yêu cầu băng thông của tín hiệu truyền hình kỹ thuật số xuống khoảng 34 Mpps bit cho SDTV và khoảng 70 - 140 Mbit/s cho HDTV trong khi duy trì truyền dẫn chất lượng gần studio, biến truyền hình kỹ thuật số thành hiện thực trong những năm 1990..[5]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Một dịch vụ truyền hình kỹ thuật số đã được đề xuất vào năm 1986 bởi Nippon Telegraph and Telephone (NTT) và Bộ Bưu chính Viễn thông (MPT) tại Nhật Bản, nơi đang có kế hoạch phát triển dịch vụ về "Hệ thống mạng tích hợp". Tuy nhiên, thực tế không thể thực hiện một dịch vụ truyền hình kỹ thuật số như vậy cho đến khi việc áp dụng công nghệ nén video biến đổi cosine (DCT) rời rạc vào đầu những năm 1990.[9]

Vào giữa những năm 1980, khi các công ty điện tử tiêu dùng Nhật Bản phát triển trước công nghệ HDTV và định dạng analog MUSE được NHK của đài truyền hình công cộng Nhật Bản đề xuất như một tiêu chuẩn trên toàn thế giới, những tiến bộ của Nhật Bản được coi là sự đe dọa làm lu mờ các thiết bị điện tử của các công ty Hoa Kỳ. Cho đến tháng 6 năm 1990, tiêu chuẩn MUSE của Nhật Bản dựa trên một hệ thống tín hiệu analog, đã trở thành người đi đầu trong số hơn 23 khái niệm kỹ thuật khác nhau đang được xem xét.

Từ năm 1988 đến 1991, một số tổ chức châu Âu đã làm việc về các tiêu chuẩn mã hóa video kỹ thuật số dựa trên DCT cho cả SDTV và HDTV. Dự án EU 256 của CMTTETSI, cùng với nghiên cứu của đài truyền hình RAI của Ý, đã phát triển một codec video DCT phát SDTV ở tốc độ bit 34 Mbit /s và HDTV chất lượng gần studio ở khoảng 70 bit140 Mbit /s bit-rate. RAI đã chứng minh điều này với một FIFA World Cup 1990 phát sóng vào tháng 3 năm 1990[5][10]. Một công ty của Mỹ, General Instrument, cũng đã chứng minh tính khả thi của tín hiệu truyền hình kỹ thuật số vào năm 1990. Điều này dẫn đến việc FCC bị thuyết phục trì hoãn quyết định của mình đối với tiêu chuẩn ATV cho đến khi tiêu chuẩn kỹ thuật số có thể được phát triển.

Vào tháng 3 năm 1990, khi chắc chắn rằng tiêu chuẩn kỹ thuật số rất khả thi, FCC đã đưa ra một số quyết định quan trọng. Đầu tiên, Ủy ban tuyên bố rằng tiêu chuẩn TV mới có nhiều sự phát triển hơn so với tín hiệu analog, nhưng để có thể cung cấp tín hiệu HDTV chính hãng đòi hỏi độ phân giải ít nhất gấp đôi so với hình ảnh truyền hình hiện có. Sau đó, để đảm bảo rằng những người xem không muốn mua một bộ truyền hình kỹ thuật số mới có thể tiếp tục nhận được các chương trình phát sóng truyền hình thông thường, họ đã ra lệnh rằng tiêu chuẩn ATV mới phải có khả năng "mô phỏng" trên các kênh khác nhau. Tiêu chuẩn ATV mới cũng cho phép tín hiệu DTV mới dựa trên các nguyên tắc thiết kế hoàn toàn mới. Mặc dù không tương thích với tiêu chuẩn NTSC hiện có, tiêu chuẩn DTV mới sẽ có thể kết hợp nhiều cải tiến.[11]

Tiêu chuẩn cuối cùng được chấp nhận bởi FCC không yêu cầu một tiêu chuẩn duy nhất cho các định dạng quét, tỷ lệ khung hình hoặc đường phân giải. Kết quả này là do sự tranh chấp giữa ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng (có sự tham gia của một số đài truyền hình) và ngành công nghiệp máy tính (có sự tham gia của ngành công nghiệp phim ảnh và một số nhóm lợi ích công cộng) về hai quá trình quét xen kẽ hay tiến bộ. Quét xen kẽ, được sử dụng trong các TV trên toàn thế giới, quét các dòng được đánh số chẵn trước, sau đó là các số lẻ. Quét liên tục, là định dạng được sử dụng trong máy tính, quét các dòng theo trình tự, từ trên xuống dưới. Ngành công nghiệp máy tính lập luận rằng quét tiến bộ là vượt trội vì nó không "nhấp nháy" theo cách quét xen kẽ. Họ cũng lập luận rằng việc quét lũy tiến cho phép kết nối Internet dễ dàng hơn và được chuyển đổi rẻ hơn sang các định dạng xen kẽ hơn là ngược lại. Ngành công nghiệp phim ảnh cũng ủng hộ quan điểm về quét lũy tiến vì nó cung cấp một phương tiện hiệu quả hơn để chuyển đổi chương trình quay phim sang định dạng kỹ thuật số. Về phần mình, ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng và các đài truyền hình lập luận rằng quét xen kẽ là công nghệ duy nhất có thể truyền hình ảnh chất lượng cao nhất sau đó (và hiện tại) tức là, 1.080 dòng trên mỗi hình ảnh và 1.920 pixel mỗi dòng. Các đài truyền hình cũng thích quét xen kẽ vì kho lưu trữ lập trình xen kẽ rộng lớn của họ không dễ tương thích với định dạng lũy ​​tiến.[12]

Chính thức ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

DirecTV tại Hoa Kỳ đã ra mắt nền tảng vệ tinh kỹ thuật số thương mại đầu tiên vào tháng 5 năm 1994, sử dụng tiêu chuẩn Hệ thống vệ tinh kỹ thuật số (DSS).[13][14] Phát sóng cáp kỹ thuật số đã được thử nghiệm và ra mắt tại Hoa Kỳ vào năm 1996 bởi TCI và Time Warner.[15][16] Nền tảng mặt đất kỹ thuật số đầu tiên được ra mắt vào tháng 11 năm 1998 với tên ONdigital tại Vương quốc Anh, sử dụng tiêu chuẩn DVB-T.[17]

Lịch sử truyền hình kỹ thuật số tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bài đọc tham khảo thêm: Đài Truyền hình Việt Nam (VTV)

Truyền hình đến với Việt Nam có lẽ chậm hơn so với thế giới, tuy nhiên trải qua khoảng thời gian hoạt động thì đã có rất nhiều những tiến bộ và phát triển đáng kể. Dưới đây là các mốc thời gian đáng nhớ của truyền hình Việt Nam nói chung cũng như truyền hình kỹ thuật số nói riêng.

1970 - 1980: Khởi đầu của truyền hình[18][sửa | sửa mã nguồn]

7/9/1970 đánh dầu mốc thời gian quan trọng nhất khi chương trình đầu tiên được phát triển thử nghiệm. Hầu hết trong giai đoạn này truyền hình đều được phát dưới định dạng đen trắng. Ngay từ cuối những năm 1970, dưới sự chỉ đạo của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Ngoạn (khi đó là Kỹ sư trưởng), Đài THVN đã bắt đầu thử nghiệm truyền hình màu. Để góp phần nâng cao trình độ đội ngũ, Đài THVN còn cử một đoàn gồm 8 kỹ sư sang thực tập về truyền hình màu tại Đài truyền hình Berlin của Cộng hòa Dân chủ Đức trong thời gian 1,5 năm. Tháng 9/1978 truyền hình màu được đưa vào thử nghiệm.

1980 - 1990: Giai đoạn của khó khăn và những sự chuyển dịch[18][19][sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1986 đánh dấu bước ngoặc cho việc truyền hình hoàn toàn được chuyển sang truyền hình màu. Và từ đây phát triển với nhiều kênh truyền hình đa dạng hơn.

Vào giai đoạn này kinh tế Việt Nam hết sức khó khăn do mới trải qua chiến tranh và bị Mỹ bao vây cấm vận. Một điều đáng nói nữa là Việt Nam khi đó là thành viên của OIRT (Organization International of Radio and Television) – Tổ chức phát thanh truyền hình của các nước xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô. Truyền hình Việt Nam bắt buộc phải sử dụng tiêu chuẩn màu SECAM, trong khi hầu hết các máy quay gọn nhẹ, máy ghi hình, thiết bị xử lý tín hiệu tại trung tâm lại nhập của Nhật, hệ PAL hoặc đa hệ, ngoại trừ một số máy ghi hình chuyên dụng của Liên Xô cung cấp sử dụng hệ SECAM. Lúc này công nghệ truyền hình màu trên thế giới có 3 tiêu chuẩn: NTSC, PAL, SECAM, mỗi tiêu chuẩn đều có mặt mạnh, yếu riêng nhưng nổi trội hơn cả là hệ PAL. Các chuyên gia trong và ngoài ngành của truyền hình Việt Nam khi đó đều có nguyện vọng chuyển đổi sang hệ PAL. Về góc độ kỹ thuật thuần túy, việc chuyển đổi không có khó khăn gì lớn vì hầu hết các thiết bị ở trung tâm sử dung hệ PAL, tuy nhiên hệ SECAM lại là hệ chính được sử dụng ở các nước thành viên OIRT.

Năm 1990 khi Liên Xô sụp đổ, OIRT cũng không còn thì ban lãnh đạo quyết định chuyển hướng sang truyền hình màu hệ PAL.

Từ cuối thập niên 90 đến những năm 2000: Quá trình chuyển đối sang công nghệ truyền hình số[20][sửa | sửa mã nguồn]

Công nghệ phát sóng truyền hình có lẽ vẫn "êm ả" nếu như những năm cuối của thập kỷ 90 thế kỷ thứ 20 trên thế giới không xuất hiện 3 tiêu chuẩn phát sóng truyền hình số. Mở đầu là tiêu chuẩn ATSC của Mỹ (1995), tiếp theo là DVB-T của châu Âu (1997) và cuối cùng là DiBEG của Nhật. Phát sóng truyền hình bằng công nghệ số có quá nhiều ưu điểm nổi bật so với công nghệ tương tự (analog) và là một xu thế không thể đảo ngược. Tuy nhiên, lịch sử gần như đã lặp lại, cũng giống như giai đoạn chuyển đổi từ đen trắng sang màu, ngành truyền hình của tất cả các quốc gia trên thế giới lại phải đối mặt với sự lựa chọn một trong 3 tiêu chuẩn ATSC, DVB-T và DiBEG. Truyền hình Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ.

Qua các cuộc thử nghiệm khác nhau về 3 tiêu chuẩn truyền hình kỹ thuật số thì cuối cùng Hội đồng Khoa học Đài Truyền hình Việt Nam đã nhất trí trình lãnh đạo Đài ký quyết định lựa chọn tiêu chuẩn truyền hình số mặt đất cho Việt Nam. Vào 11h30 ngày 26/3/2001, ông Hồ Anh Dũng - Tổng Giám đốc Đài THVN - đã chính thức ký quyết định lựa chọn tiêu chuẩn truyền hình số mặt đất DVB-T, đánh dấu thời điểm bắt đầu của quá trình chuyển đổi từ công nghệ phát sóng truyền hình tương tự sang truyền hình số của truyền hình Việt Nam.

2004: Khai trương dịch vụ truyền hình số vệ tinh DTH.

2005

  • Cung cấp dịch vụ Internet băng thông rộng trên mạng DTH và Truyền hình Cáp.
  • Tổ chức thành công Hội nghị lần thứ 42 Hiệp hội các tổ chức phát thanh và truyền hình châu Á.
  • Thái Bình Dương (ABU) lần đầu tiên.

2007

VTV6 phát thử nghiệm trên hệ thống truyền hình Cáp Việt Nam.

2009

  • Chính thức phát quảng bá VTV6.
  • Truyền hình số vệ tinh K+ ra mắt tháng 6/2009, là Liên doanh giữa Trung tâm KTTH cáp và Công ty Canal Oversea.
  • Phát thử nghiệm TV Mobile ở Hà Nội, hoàn thiện thủ tục cấp phép phát sóng truyền hình số di động T-DMB trên toàn quốc.
  • Thành lập cơ quan thường trú THVN tại Mỹ

2010: Công ty Nghe nhìn Toàn cầu (AVG) phát sóng truyền hình số mặt đất theo phiên bản DVB-T2, phủ sóng khoảng 50% hộ dân.

2013: VTV đã phát sóng chính thức tại một số thành phố lớn theo tiêu chuẩn DVB-T2.

Ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Với dân số hơn 90 triệu dân, đã tạo ra một lượng khách hàng khổng lồ cho các đơn vị kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền. Hiện nay mới chỉ đạt hơn 4,2 triệu thuê bao qua hơn 4 năm có mặt dịch vụ truyền hình trả tiền. Như vậy, truyền hình trả tiền rồi sẽ phố biến như viễn thông, có lẽ trong tương lai không xa sẽ là thời vàng kinh doanh bề thế nhất của dịch vụ truyền hình.

Hiện nay tại Việt Nam có nhiều dịch vụ truyền hình:

1. Truyền hình cáp: HTVC, SCTV,...

2. Truyền hình Internet (tích hợp trên dịch vụ ADSL) hay còn gọi là truyền hình xem lại: MyTV (VNPT), ViettelTV, NextTV (Viettel), Truyền hình FPT (FPT)

3. Truyền hình kỹ thuật số vệ tinh: mobiTV, K+, VTC

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Ứng dụng vào ngành truyền thông tiếp thị[sửa | sửa mã nguồn]

Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt của truyền số (gần 25% trong 5 năm qua), đã tạo nên nhu cầu đáng kể cho nội dung số. Ngoài nội dung người dùng tự tạo nên hay những bộ phim thì nguồn lớn nhất của nội dung là nằm ở truyền hình trên các phương tiện truyền thông số. Truyền hình hiện nay là nội dung video, có thể được xem trên truyền hình truyền thống, điện thoại di động, máy tính xách tay, máy tính bảng. Và thay vì lỗi thời truyền hình vẫn đóng góp vào ngành truyền thông tiếp thị thông qua những cách mới, số hóa và hiện đại hơn. Dưới đây là một số nhận định về xu hướng của truyền hình số trong tương lai cũng như sự chuyển dịch trong cơ cấu nội dung trên truyền hình kỹ thuật số.

Video trực tuyến mạnh lên nhưng tivi vẫn là thống soái [21][sửa | sửa mã nguồn]

Các năm qua, quảng cáo trên nền tảng video trực tuyến mạnh lên rõ rệt chưa dứt điểm được tivi truyền thống mà nó chỉ đang gặm nhấm thị phần của tivi thôi. Tại Mỹ mức suy giảm của tivi truyền thống và mức lấn thị phần của video trực tuyến là 1,5-2% mỗi năm, nhưng ở châu Á tivi đang đi ngang với mức tiếp cận 83% người dùng.

Các thống kê và dự báo cho thấy doanh thu truyền hình giảm rõ rệt, song vẫn còn khá lớn trong cơ cấu chi tiêu, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở khắp các nước. Phân bổ ngân sách cho quảng bá trên tivi trước kia có thể lên đến 80% tổng chi tiêu thì nay vẫn còn mức 60-70%.

Chính tivi thông minh đã làm cho tivi truyền thống hồi sức lại một chút. Còn video trên Facebook chưa khai thác thương mại hiệu quả được và vẫn còn sơ khai, còn khá lúng túng trong việc tạo ảnh hưởng và khai thác thương mại.

Truyền hình đang trở thành trải nghiệm của cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng ta không còn thấy các gia đình quây quần bên chiếc tivi để cùng xem một chương trình truyền hình. Truyền hình hiện nay là những nội dung video, có thể được xem trên truyền hình truyền thống điện thoại di động, máy tính xách tay, máy tính bảng. Địa điểm và thời gian để để xem truyền hình là không hạn chế. Ranh giới giữa nội dung trên truyền hình và nội dung số dần bị xóa mờ bởi mọi người có thể xem miễn phí các chương trình truyền hình trên các thiết bị di động của họ hoặc ngược lại có thể xem các nội dung số ngay trên chiếc tivi truyền thống. Kết quả là khán giả có thể tự do lựa chọn những gì họ muốn xem chứ không phải bị giới hạn thời gian phát sóng. Hơn nữa với sự phát triển của Internet ngày nay, mỗi khán giả đều có rất nhiều sự lựa chọn trên hàng triệu nội dung video vô cùng phong phú. (Nguồn: Brand Việt Nam

Xu hướng màn hình xếp chồng (hay hành vi đa màn hình) và sự phân tán chú ý[sửa | sửa mã nguồn]

Người tiêu dùng Việt Nam ngày càng có xu hướng xem truyền hình và thao tác trên các thiết bị khác cùng một lúc ngày cả ở thời gian chính (buổi tối muộn) khi truyền hình đạt tỉ suất cao nhất – đây được xem là xu hướng màn hình xếp chồng mới. Đa số người xem sử dụng các thiết bị khác của họ như: PC, máy tính bảng, điện thoại di động thông minh trong khi xem truyền hình để có thêm thông tin về chương trình đang chiếu, giao tiếp với những người khác, hay tìm kiếm những sản phẩm dịch vụ được quảng cáo. Theo thống kê của TNS Connected Life, vào năm 2015, hoạt động phổ biến nhất của xu hướng màn hình chồng là mạng xã hội. (Nguồn: Brand Việt Nam)


So sánh analog với kỹ thuật số[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Truyền hình tương tự

DTV có một số lợi thế so với TV analog, đáng kể nhất là các kênh kỹ thuật số chiếm ít dãy sóng hơn và nhu cầu dãy sóng liên tục thay đổi, với chất lượng hình ảnh giảm tương ứng tùy thuộc vào mức độ nén cũng như độ phân giải của hình ảnh truyền đi. Điều này có nghĩa là các đài truyền hình kỹ thuật số có thể cung cấp nhiều kênh kỹ thuật số hơn trong cùng một không gian, cung cấp dịch vụ truyền hình độ nét cao hoặc cung cấp các dịch vụ phi truyền hình khác như đa phương tiện hoặc tương tác. DTV cũng cho phép các dịch vụ đặc biệt như ghép kênh (nhiều chương trình trên cùng một kênh), hướng dẫn chương trình điện tử và ngôn ngữ bổ sung (nói hoặc phụ đề). Việc bán các dịch vụ phi truyền hình có thể cung cấp một nguồn doanh thu bổ sung.[22]

Tín hiệu số và tín hiệu tương tự phản ứng với nhiễu khác nhau. Ví dụ, các vấn đề phổ biến với truyền hình analog bao gồm bóng mờ hình ảnh, nhiễu từ tín hiệu yếu và nhiều vấn đề tiềm ẩn khác làm giảm chất lượng hình ảnh và âm thanh, mặc dù tài liệu chương trình vẫn có thể xem được. Với truyền hình kỹ thuật số, âm thanh và video phải được đồng bộ hóa kỹ thuật số, do đó việc thu tín hiệu kỹ thuật số phải gần như hoàn tất nếu không cả âm thanh và video đều không thể sử dụng được. Nói ngắn gọn về sự thất bại hoàn toàn này, video "blocky" được nhìn thấy khi tín hiệu số gặp nhiễu.

TV analog bắt đầu với âm thanh đơn âm, và sau đó phát triển âm thanh truyền hình đa kênh với hai kênh tín hiệu âm thanh độc lập. DTV cho phép tối đa 5 kênh tín hiệu âm thanh cộng với kênh bass loa trầm phụ, với các chương trình phát sóng có chất lượng tương tự như rạp chiếu phim và DVDs.[23]

Tạo tác nén, giám sát chất lượng hình ảnh và phân bổ dải băng[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh DTV có một số khiếm khuyết hình ảnh không có trên truyền hình analog hoặc rạp chiếu phim chuyển động, vì những hạn chế ngày nay của tốc độ bit và thuật toán nén như MPEG-2. Khiếm khuyết này đôi khi được gọi là " tiếng ồn muỗi ".[24]

Do cách thức hoạt động của hệ thống thị giác của con người, các khiếm khuyết trong một hình ảnh được định vị theo các đặc điểm cụ thể của hình ảnh. Tuy nhiên, hệ thống DTV được thiết kế để tận dụng các hạn chế khác của hệ thống thị giác của con người để giúp che giấu những khiếm khuyết này, ví dụ như bằng cách cho phép tạo tác nén nhiều hơn khi chuyển động nhanh trong đó mắt không thể theo dõi và giải quyết chúng một cách dễ dàng và ngược lại, giảm thiểu các tạo tác trong ảnh nền có thể được kiểm tra chặt chẽ trong một cảnh (vì thời gian cho phép).

Các nhà khai thác DTV phát sóng, truyền hình cáp, vệ tinh và Internet kiểm soát chất lượng hình ảnh của mã hóa tín hiệu truyền hình bằng các thuật toán phức tạp, dựa trên khoa học thần kinh, chẳng hạn như công cụ đo lường chất lượng video cấu trúc tương tự (SSIM). Một công cụ khác, được gọi là Visual Information Fidelity (VIF), là một thuật toán hoạt động hàng đầu ở cốt lõi của hệ thống giám sát chất lượng video Netflix VMAF, chiếm khoảng 35% tổng mức tiêu thụ dải băng của Hoa Kỳ.

Ảnh hưởng của việc tiếp nhận kém[sửa | sửa mã nguồn]

Những thay đổi trong việc thu tín hiệu từ các yếu tố như làm giảm kết nối ăng-ten[25] hoặc thay đổi điều kiện thời tiết có thể làm giảm dần chất lượng của TV analog. Bản chất của TV kỹ thuật số dẫn đến một video có thể giải mã hoàn hảo ban đầu, cho đến khi thiết bị thu bắt đầu thu nhiễu gây nhiễu quá mức tín hiệu mong muốn hoặc nếu tín hiệu quá yếu để giải mã. Một số thiết bị sẽ hiển thị hình ảnh bị cắt xén với thiệt hại đáng kể, trong khi các thiết bị khác có thể chuyển trực tiếp từ video có thể giải mã hoàn hảo sang không có video nào hoặc bị khóa. Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng vách đá kỹ thuật số.

Lỗi khối có thể xảy ra khi sự truyền được thực hiện với hình ảnh nén. Một lỗi khối trong một khung hình thường dẫn đến các hộp đen trong một số khung tiếp theo, khiến việc xem khó khăn.

Đối với các địa điểm ở xa, các kênh ở xa, tín hiệu tương tự vẫn có thể sử dụng được ở trạng thái tuyết và tình hình thời tiết xấu nhưng đối với tín hiệu kỹ thuật số hoặc có thể giải mã hoàn hảo hoặc có thể hoàn toàn không khả dụng. Việc sử dụng tần số cao hơn sẽ làm tăng thêm các vấn đề này, đặc biệt là trong trường hợp không có đường ngắm rõ ràng từ ăng ten thu đến máy phát.

Ảnh hưởng đến công nghệ analog cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Phần này cần được cập nhật. Vui lòng cập nhật bài viết này để phản ánh các sự kiện gần đây hoặc thông tin mới có sẵn.(Tháng 2 năm 2017)

Các TV chỉ có bộ điều chỉnh tương tư(analog) không thể giải mã sự truyền kỹ thuật số. Khi ngừng phát sóng tương tự qua không khí, người dùng các bộ điều chỉnh tương tự có thể sử dụng các nguồn lập trình khác (ví dụ: cáp, phương tiện được ghi) hoặc có thể mua các hộp chuyển đổi set-top để điều chỉnh tín hiệu số.

Sự biến mất của máy thu âm thanh TV[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi chuyển đổi sang TV kỹ thuật số, truyền hình analog phát âm thanh cho các kênh TV trên tín hiệu sóng FM riêng biệt từ tín hiệu video. Tín hiệu âm thanh FM này có thể được nghe bằng radio tiêu chuẩn được trang bị các mạch điều chỉnh thích hợp.

Tuy nhiên, sau khi nhiều quốc gia chuyển sang truyền hình kỹ thuật số, không có nhà sản xuất radio di động nào phát triển một phương pháp thay thế cho radio cầm tay để chỉ phát tín hiệu âm thanh của các kênh truyền hình kỹ thuật số. (Đài phát thanh DTV không giống nhau.)

Các vấn đề môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Việc áp dụng một tiêu chuẩn phát sóng không tương thích với các máy thu tương tự hiện có đã tạo ra vấn đề số lượng lớn các máy thu tương tự bị loại bỏ trong quá trình chuyển đổi truyền hình kỹ thuật số.

Theo một nhóm chiến dịch, một màn hình máy tính CRT hoặc TV chứa trung bình 8 pound (3,6 kg) chì.[26]  Theo một nguồn khác, chì trong thủy tinh của CRT thay đổi từ 1,08 lb đến 11,28 lb, tùy thuộc vào kích thước và loại màn hình, nhưng chì ở dạng oxit chì "ổn định và bất động" trộn vào kính[27].  Người ta cho rằng chì có thể có tác động tiêu cực lâu dài đến môi trường nếu bị đổ như bãi rác.  Tuy nhiên, thủy tinh có thể được tái chế tại các cơ sở được trang bị phù hợp[28].  Các phần khác của máy thu có thể bị xử lý như vật liệu nguy hiểm.

Hạn chế của địa phương đối với việc xử lý các tài liệu này rất khác nhau; trong một số trường hợp, các cửa hàng đã qua sử dụng đã từ chối chấp nhận các máy thu truyền hình màu đang hoạt động để bán lại do chi phí xử lý TV không bán được ngày càng tăng. Những cửa hàng tiết kiệm vẫn đang chấp nhận TV được tặng đã báo cáo sự gia tăng đáng kể về máy thu truyền hình đã qua sử dụng có điều kiện tốt bị bỏ rơi bởi những người xem thường mong muốn chúng không hoạt động sau khi chuyển đổi kỹ thuật số.[29]

Tại Michigan vào năm 2009, một người tái chế đã ước tính rằng cứ 4 hộ gia đình là sẽ có 1 hộ sẽ vứt bỏ hoặc tái chế một chiếc TV vào năm sau.[30]  Việc chuyển đổi truyền hình kỹ thuật số, chuyển đổi sang các máy thu truyền hình độ nét cao và thay thế CRT bằng màn hình phẳng là tất cả các yếu tố làm tăng số lượng máy thu truyền hình dựa trên CRT bị loại bỏ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Digital Television: An Overview”. 2002. 
  2. ^ “HDTV Set Top Boxes and Digital TV Broadcast Information”. 22 tháng 5 năm 2016. 
  3. ^ Ong, C. Y., Song, J., Pan, C., & Li, Y.(2010, May). Technology and Standards of Digital Television Terrestrial Multimedia Broadcasting [Topics in Wireless Communications], IEEE Communications Magazine, 48(5),119-127
  4. ^ Benton Foundation (23 tháng 12 năm 2008). “The Origins and Future Prospects of Digital Television”. 
  5. ^ a ă â b Barbero, M.; Hofmann, H.; Wells, N. D. (14 November 1991). "DCT source coding and current implementations for HDTV". EBU Technical Review. European Broadcasting Union (251): 22–33. Retrieved 4 November 2019.
  6. ^ Ahmed, Nasir (January 1991). "How I Came Up With the Discrete Cosine Transform". Digital Signal Processing. 1 (1): 4–5. doi:10.1016/1051-2004(91)90086-Z.
  7. ^ Ghanbari, Mohammed (2003). Standard Codecs: Image Compression to Advanced Video Coding. Institution of Engineering and Technology. pp. 1–2. ISBN 9780852967102.
  8. ^ Li, Jian Ping (2006). Proceedings of the International Computer Conference 2006 on Wavelet Active Media Technology and Information Processing: Chongqing, China, 29-31 August 2006. World Scientific. p. 847. ISBN 9789812709998.
  9. ^ a ă Lea, William (1994). Video on demand: Research Paper 94/68. 9 May 1994: House of Commons Library. Retrieved 20 September 2019.
  10. ^ Barbero, M.; Stroppiana, M. (October 1992). "Data compression for HDTV transmission and distribution". IEE Colloquium on Applications of Video Compression in Broadcasting: 10/1–10/5.
  11. ^ VTV (12 tháng 3 năm 2019). “Ngưng phát sóng kênh truyền hình tương tự tại 21 tỉnh thành”. 
  12. ^ "The Origins and Future Prospects of Digital Television"Benton Foundation
  13. ^ "History of U.S. Satellite Broadcasting Company, Inc. – FundingUniverse" www.fundinguniverse.com. Retrieved 9 August 2018.
  14. ^ "Business Insider: Digital satellite TV has Indy roots" Retrieved 9 August 2018.
  15. ^ "NextLevel signs cable deal - Dec. 17, 1997" money.cnn.com. Retrieved 9 August 2018.
  16. ^ "TCI faces big challenges - Aug. 15, 1996" money.cnn.com. Retrieved 9 August 2018.
  17. ^ "CANAL+ TECHNOLOGIES and the world's first digital terrestrial television service in the United Kingdom" Retrieved 9 August 2018.
  18. ^ a ă “Lịch sử phát triển Đài truyền hình Việt Nam”. Báo điện tử VTV. 10 tháng 6 năm 2014. Truy cập 29/5/2020.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  19. ^ “Kỹ thuật Truyền hình Việt Nam - 45 năm phát triển và những điều đáng nhớ (Kỳ 1)”. Báo điện tử VTV. 5 tháng 8 năm 2015. Truy cập 29/5/2020.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  20. ^ “Kỹ thuật Truyền hình Việt Nam - 45 năm phát triển và những điều đáng nhớ (Kỳ 2)”. Báo điện tử VTV. 5 tháng 11 năm 2015. Truy cập 29/5/2020.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  21. ^ “8 xu hướng sống còn của digital marketing ở Việt Nam trong năm 2020”. VnEconomy. NGUYỄN BÁ NGỌC. 1 tháng 2 năm 2020. 
  22. ^ “sự khác nhau giữa truyền hình kĩ thuật số và truyền hình analog”. 
  23. ^ "Digital TV: A Cringley Crash Course — Digital Vs. Analog" Pbs.org. Retrieved 2014-01-13.
  24. ^ Le Dinh, Phuc-Tue; Patry, Jacques (February 24, 2006). "Video compression artifacts and MPEG noise reduction". Video Imaging DesignLine. Retrieved April 30, 2010
  25. ^ “Digital Antenna Cho DVB-T2 Với Bàn Tay Của Họ”. 
  26. ^ Campaigners highlight 'toxic TVs', Maggie Shiels, BBC News, 9 January 2009
  27. ^ "Lead in Cathode Ray Tubes (CRTs) Information Sheet**"Electronic Industries Alliance 2001-11-30. p. 1. Archived from the original (PDF) on 2011-05-20. Retrieved 2009-09-29.
  28. ^ What To Do With Your Old TV's, Mike Webster, WCSH-TV, January 28, 2009 - dead link
  29. ^ Many people throwing out perfectly good TVs over digital confusionArchived 2009-01-23 at the Wayback Machine, Daniel Vasquez, Sun-Sentinel, Florida, January 19, 2009
  30. ^ Trashing the tube: Digital conversion may spark glut of toxic waste Jennifer Chambers, Detroit News, January 23, 2009

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo thêm: Đầu thu DVB T2