Bộ Tư lệnh (Quân đội nhân dân Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search

Bộ Tư lệnh là cơ quan chỉ huy cấp cao về mặt quân sự trên một đơn vị lãnh thổ nhất định (bộ tư lệnh quân khu,...) hoặc chỉ huy một cấp đơn vị quân đội (bộ tư lệnh quân đoàn; bộ tư lệnh binh chủng, quân chủng...) hoặc làm nhiệm vụ chỉ huy khác (Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh,...)hoặc làm nhiệm vụ chỉ huy các chiến dịch quân sự ở quy mô lớn. Trước đây và hiện nay trong ngành an ninh của Việt Nam cũng thành lập những bộ tư lệnh để quản lý một số lực lượng chuyên trách như bộ tư lệnh công an vũ trang, bộ tư lệnh cảnh vệ,... Người đứng đầu bộ tư lệnh là một tư lệnh. Bộ tư lệnh có một số cơ quan có chức năng tham mưu giúp tư lệnh làm nhiệm vụ của mình.

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, trong Quân đội nhân dân Việt Nam có cấp chỉ huy cao nhất là Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Tổng Tư lệnh đầu tiên là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trong Quân đội nhân dân Việt Nam Bộ tư lệnh được tổ chức ở 2 cấp:

  • Cấp thứ nhất bao gồm các bộ tư lệnh có chức năng chỉ huy các quân chủng, quân khu,... Người tư lệnh đứng đầu cấp này mang quân hàm cao nhất thường là trung tướng.
  • Cấp thứ hai bao gồm các bộ tư lệnh có chức năng chỉ huy các quân đoàn, binh chủng, và các cơ quan, đơn vị khác trực thuộc bộ quốc phòng. Người tư lệnh đứng đầu cấp này mang quân hàm cao nhất thường là thiếu tướng.

Dưới cấp Bộ tư lệnh là các bộ chỉ huy hoặc ban chỉ huy thường thấy ở các tỉnh, sư đoàn, huyện, trung đoàn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]