Sách trắng quốc phòng (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sách trắng quốc phòng Việt Nam năm 2009

Sách trắng quốc phòng của Việt Nam là cuốn sách do Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố với toàn thế giới về những vấn đề cơ bản của chính sách quốc phòng Việt Nam trong đó xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dânDân quân tự vệ là những vấn đề then chốt. Các vấn đề được nêu trong Sách trắng về Quốc phòng Việt Nam nhằm góp phần tăng cường hiểu biết và xây dựng lòng tin giữa Việt Nam với các quốc gia khác trong cộng đồng quốc tế. Sách trắng cũng là tài liệu quan trọng để nâng cao hiểu biết về quốc phòng của đất nước cho công dân Việt Nam, góp phần làm cho mọi công dân, cơ quan, đơn vị và tổ chức xã hội hiểu rõ hơn quyền lợi và trách nhiệm của mình trong tham gia công cuộc củng cố quốc phòng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.[1][2][3][4][5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1998, Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố sách trắng quốc phòng Việt Nam lần thứ nhất mang tên "Việt Nam củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc".[1]

Năm 2004, Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố sách trắng quốc phòng Việt Nam lần thứ hai mang tên "Quốc phòng Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XXI".[1]

Năm 2009, Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố sách trắng quốc phòng Việt Nam lần thứ ba mang tên "Quốc phòng Việt Nam năm 2009".[1]

Bố cục[sửa | sửa mã nguồn]

Sách trắng năm 1998[sửa | sửa mã nguồn]

Sách trắng năm 2004[sửa | sửa mã nguồn]

Sách trắng năm 2009[sửa | sửa mã nguồn]

Sách trắng quốc phòng Việt Nam năm 2009 gồm 3 phần: Phần 1 là Tình hình an ninh và chính sách quốc phòng. Phần 2 là Xây dựng nền quốc phòng. Phần 3 là Xây dựng quân đội nhân dân và dân quân tự vệ. Ngoài ra, còn bao gồm 11 phụ lục kèm theo.

Tóm tắt nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Sách trắng năm 1998[sửa | sửa mã nguồn]

Sách trắng năm 2004[sửa | sửa mã nguồn]

Sách trắng năm 2009[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình an ninh khu vực và trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Sách trắng quốc phòng năm 2009 nêu rõ tình hình an ninh thế giới và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI diễn biến phức tạp, song hòa bình, hợp tác cùng phát triển vẫn là xu thế lớn. Sự phân bố lại sức mạnh kinh tế và quân sự trên phạm vi toàn cầu đang làm cho cục diện chính trị thế giới biến đổi sâu sắc với xu thế đa cực ngày càng thể hiện rõ nét hơn. Tình hình an ninh khu vực Đông Nam Á cơ bản ổn định nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây căng thẳng và xung đột[6]

Việt Nam đã tích cực đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến chủ quyền quốc gia trên bộ, trên biển. Tình hình tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên Biển Đông có những diễn biến phức tạp, tác động không nhỏ đến hoạt động của nhân dân và phát triển kinh tế biển của Việt Nam.[6]

Chính sách quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hoà bình, tự vệ, thể hiện ở chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc 19 gia khác bằng biện pháp hoà bình. Việt Nam chủ trương từng bước hiện đại hoá quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng chỉ nhằm duy trì sức mạnh quân sự ở mức cần thiết để tự vệ[6]

Việt Nam chủ trương không tham gia các tổ chức liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. Việt Nam kiên quyết lên án và chống lại hành động khủng bố dưới mọi hình thức[6]

Đối thoại và hợp tác quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển với chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế theo phương châm: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam mong muốn mở rộng quan hệ quốc phòng song phương với tất cả các quốc gia[6]

Xây dựng tiềm lực quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiềm lực chính trị - tinh thần là thành tố cơ bản của tiềm lực quốc phòng, chứa đựng trong tố chất con người, trong truyền thống lịch sử - văn hoá dân tộc và trong hệ thống chính trị. Tiềm lực kinh tế là khả năng tiềm tàng về kinh tế (bao gồm cả kinh tế quân sự) có thể huy động để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng hoặc tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở vật chất của các tiềm lực khác, thể hiện ở khối lượng, năng xuất, chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất xã hội, ở nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế, nguồn dự trữ tài nguyên, chất lượng, trình độ lực lượng lao động. Tiềm lực khoa học và công nghệ được biểu hiện ở trình độ và khả năng phát triển khoa học; số lượng và chất lượng các nhà khoa học; cơ sở vật chất phục vụ cho công tác nghiên cứu, phổ biến và ứng dụng khoa học và công nghệ vào lĩnh vực quốc phòng. Tiềm lực quân sự là khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong cả thời bình và thời chiến.[6]

Xây dựng lực lượng quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Việc xây dựng lực lượng quốc phòng phải được thể chế hoá bằng hệ thống luật và các văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng lực lượng quốc phòng.[6]

Xây dựng thế trận quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng và tiềm lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo ý định chiến lược thống nhất, bảo đảm đối phó thắng lợi với mọi mưu toan và hoạt động của các thế lực thù địch xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân nếu chiến tranh xảy ra[6]

Lãnh đạo quản lý quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Sách trắng có nói về tổ chức của Đảng Cộng sản trong Quân đội nhân dân Việt Nam, đứng đầu là Quân ủy Trung ương. Tiếp theo là nói về hệ thống tổ chức cơ quan trong Quân đội và lý giải một số chức năng của một số cơ quan như Tổng cục Chính trị, các Tổng cục khác.[6]

Bộ Quốc phòng là cơ quan tham mưu cho Đảng và Nhà nước về đường lối, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; quản lý nhà nước về lĩnh vực quốc phòng trong phạm vi cả nước; tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý và chỉ huy Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ; quản lý các dịch vụ công theo quy định của pháp luật.[6]

Tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong sách trắng có nêu ra tổ chức của Quân đội Việt Nam gồm Lục quân, Hải quân, PK-KQ, các quân khu, quân đoàn, binh chủng,...Lực lượng dự bị động viên bao gồm quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, đã được lựa chọn và sắp xếp trong kế hoạch sẵn sàng bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội.[6]

Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác. Ngày nay, lực lượng Dân quân tự vệ được phát triển cả về chất lượng, số lượng, biên chế trang bị. Tổ chức, biên chế tinh gọn hơn nhưng chất lượng tổng hợp của Dân quân tự vệ được nâng cao, đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ mới[6]

Các phụ lục[sửa | sửa mã nguồn]
  • Phụ lục 1: Sơ đồ tổ chức của Bộ Quốc phòng Việt Nam[6]
  • Phụ lục 2: Tùy viên quốc phòng Việt Nam tại nước ngoài (tính đến 3/2009)[6]
  • Phụ lục 3: Các Học viện nhà trường trong Quân đội[6]
  • Phụ lục 4: Các viện nghiên cứu trong quân đội[6]
  • Phụ lục 5: Ngày truyền thống của một số đơn vị trực thuộc Bộ.[6]
  • Phụ lục 6: Danh sách các khu kinh tế quốc phòng[6]
  • Phụ lục 7: Danh sách các tổng công ty trong quân đội[6]
  • Phụ lục 8: Danh sách các hiệp định đến biên giới đã được ký kết.[6]
  • Phụ lục 9: Quân kỳ, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam[6]
  • Phụ lục 10: Trao đổi đoàn quân sự cấp cao (2005-2009)[6]
  • Phụ lục 11: Các chuyến thăm hữu nghị của các đoàn tàu quân sự.[6]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Sách trắng quốc phòng năm 2009, lần đầu tiên nhiều thông tin mới được công bố như ngân sách quốc phòng, tổng quân số, cơ cấu của Bộ Quốc phòng, các quân binh chủng, những thay đổi lớn về quốc phòng trong năm 5 qua[10]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]