Nhà xuất bản Quân đội nhân dân (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Hoạt động11/7/1950 (&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000128.000000128 ngày)
Quốc gia Việt Nam
Phục vụFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Phân loạiCơ quan (Nhóm 6)
Chức năngLà cơ quan Xuất bản Tổng hợp Sách, Tài liệu trong Quân đội
Quy mô1000 người
Bộ phận củaTổng cục Chính trị
Bộ chỉ huySố 23, Lý Nam Đế, Hà Nội
Các tư lệnh
Giám đốcĐại tá Kiều Bách Tuấn

Nhà xuất bản Quân đội nhân dân[1][2] trực thuộc Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng Việt Nam thành lập ngày 11 tháng 7 năm 1950 là cơ quan xuất bản tổng hợp chuyên ngành quân sự của Đảng ủy Quân sự Trung ương (Nay là Quân ủy Trung ương) và Bộ Quốc phòng, trung tâm xuất bản của toàn quân do Tổng cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo, đồng thời là một thành viên quan trọng trong hệ thống xuất bản của Nhà nước, chịu trách nhiệm xuất bản sách phát hành rộng rãi và phục vụ nội bộ quân đội.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà xuất bản Quân đội nhân dân được thành lập theo Sắc lệnh số 121/SL ngày 11 tháng 7 năm 1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở hợp nhất Nhà xuất bản Vệ quốc quân và Nhà xuất bản Quân du kích. Quá trình hoạt động, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân luôn bám sát và phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị và quân sự theo từng bước phát triển của cách mạng và quân đội

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giám đốc - Tổng biên tập: Đại tá Đậu Xuân Luận

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng Kế hoạch Sản xuất
  • Phòng Biên tập Sách lý luận Chính trị
  • Phòng Biên tập Sách Quân sự
  • Phòng Biên tập Sách Lịch sử Hội kỳ
  • Phòng Biên tập Sách Văn nghệ
  • Phòng Biên tập Sách Quốc tế
  • Phòng Biên tập Sách Điện tử
  • Ban Tài chính
  • Ban Hành chính
  • Trung tâm Phát hành sách tại Hà Nội
  • Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
  • Đại diện tại Đà Nẵng
  • Đại diện tại Cần Thơ

Khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Chiến công hạng Nhất (1969)
  • Huân chương Quân công hạng Nhất (1982)
  • hai Huân chương Độc lập hạng Ba (1997, 2007)
  • Huân chương Lao động hạng Ba (2015)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]