Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
Hoạt động17/7/1956 (&0000000000000064.00000064 năm, &0000000000000193.000000193 ngày)
Quốc gia Việt Nam
Phục vụFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Phân loạiBảo tàng Quân đội (Nhóm 5)
Chức năngLà bảo tàng đầu ngành trong Quân đội
Quy mô100 người
Bộ phận củaTổng cục Chính trị
Bộ chỉ huy28A, Điện Biên Phủ, Hà Nội
Các tư lệnh
Giám đốcLê Vũ Huy
Chỉ huy danh nghĩaLê Vũ Huy

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam [1][2] là một trong các bảo tàng quốc gia và đứng đầu trong hệ thống Bảo tàng Quân đội, hiện đang lưu giữ, trưng bày hơn 15 vạn tài liệu, hiện vật, trong đó có nhiều sưu tập độc đáo và 4 Bảo vật Quốc gia, đó là: Máy bay MiG-21 số hiệu 4324; Máy bay MiG-21 số hiệu 5121, Bản đồ Quyết tâm chiến dịch Hồ Chí Minh; Xe tăng T-54B số hiệu 843. Bảo tàng tọa lạc tại số 28A đường Điện Biên Phủ, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, đối diện Công viên Lenin.

Hệ thống trưng bày của bảo tàng giới thiệu hàng nghìn hiện vật, hình ảnh, tài liệu khoa học bổ trợ, phim tư liệu, sa bàn phản ánh lịch sử quân sự Việt Nam qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc; nội dung trưng bày được giới thiệu theo tiến trình lịch sử từ thời đại Hùng Vương dựng nước cho đến thời đại Hồ Chí Minh với hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; bảo tàng có 4 phòng trưng bày chuyên đề cùng với hệ thống trưng bày ngoài trời. Trong khuôn viên có di tích lịch sử quốc gia Cột cờ Hà Nội với kiến trúc độc đáo.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là điểm đến hấp dẫn đối với khách tham quan trong nước và quốc tế khi đến Thủ đô Hà Nội.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Thực hiện sắc lệnh số 65/SL-TN, ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Về bảo tồn di sản văn hóa”, ngay trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chú trọng thu thập, lưu giữ các tài liệu, hình ảnh, hiện vật phản ánh cuộc kháng chiến của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Trên cơ sở đó, cuối năm 1954, Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) đã có chủ trương xây dựng Bảo tàng Quân đội.

Ban xây dựng Bảo tàng Quân đội có 13 người với nhiệm vụ “Nghiên cứu sưu tầm các tài liệu hiện vật, di tích lịch sử thuộc về quân đội; tiến hành thu thập, sắp xếp các tài liệu, hiện vật cho có hệ thống; tổ chức bảo quản các tài liệu hiện vật lịch sử, đồng thời liên hệ với các địa phương để hướng dẫn bảo quản những di tích lịch sử của quân đội ở địa phương; nghiên cứu kế hoạch và thực hiện trình bày, tổ chức nên Bảo tàng Quân đội”.

Ngay sau khi thành lập, Ban Xây dựng Bảo tàng Quân đội bắt tay vào soạn thảo các văn bản về công tác bảo tồn, bảo tàng giúp Tổng cục Chính trị chỉ đạo toàn quân sưu tầm tài liệu, hiện vật vừa để xây dựng phòng truyền thống của đơn vị, vừa đóng góp hiện vật cho Bảo tàng. Với tinh thần làm việc khẩn trương, được sự chỉ đạo sát sao của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, sau hơn 3 năm tiến hành xây dựng và trưng bày, ngày 21/12/1959, nhân kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/1959), Bảo tàng Quân đội chính thức mở cửa phục vụ khách tham quan. Tới duyệt nội dung trưng bày bảo tàng trước khi mở cửa đón khách tham quan, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bảo tàng Quân đội là một cuốn sử sống có tác dụng rất to lớn đến việc giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta cho người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ. Bảo tàng Quân đội còn giúp khách nước ngoài hiểu rõ về Việt Nam ta, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Vì vậy, Bảo tàng phải tạo điều kiện tốt nhất để cho khách đến tham quan”.

Ghi sổ vàng lưu niệm khi tới dự Lễ khánh thành Bảo tàng Quân đội, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Bảo tàng Quân đội nhắc lại lịch sử vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam ta, một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Bảo tàng Quân đội là một trường học và là nguồn phấn khởi đối với người xem, đối với nhân dân ta và Quân đội ta”.

Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng và khai trương bảo tàng, Ban Xây dựng Bảo tàng Quân đội chuyển thành Phòng Bảo tàng quân đội trực thuộc Cục Tuyên huấn/ Tổng cục Chính trị với nhiệm vụ “Đón tiếp, hướng dẫn khách tham quan, bảo vệ, bảo quản hiện vật, kho tàng, tu bổ sửa chữa nhỏ hệ thống trưng bày”.

Sau gần 5 năm mở cửa đón khách tham quan, ngày 15/5/1964, Tổng cục Chính trị ra Quyết định nâng cấp Phòng Bảo tàng Quân đội thành Viện Bảo tàng Quân đội trực thuộc Tổng cục Chính trị. Viện có nhiệm vụ: Nghiên cứu, sưu tầm hiện vật và tuyên truyền giáo dục truyền thống quân đội; thực hiện công tác nghiên cứu khoa học; giúp Tổng cục Chính trị chỉ đạo hoạt động bảo tàng, nhà truyền thống toàn quân. Đây là một bước ngoặt đánh dấu sự trưởng thành của Bảo tàng Quân đội, nâng vị thế bảo tàng lên một tầm cao mới.

Lúc này, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra ngày càng ác liệt, không chỉ ở chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ đã leo thang ra cả miền Bắc. Vì vậy, tổ chức biên chế, chức năng nhiệm vụ và hoạt động của Viện Bảo tàng Quân đội cũng có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện cả nước có chiến tranh. Nhiều cán bộ Viện Bảo tàng Quân đội đã trực tiếp dấn thân vào cuộc chiến đấu, theo sát bộ đội trên các chiến trường để sưu tầm hiện vật, có đồng chí đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, tiêu biểu như liệt sĩ Dương Quang Chính. Trong 10 năm, từ 1965 đến năm 1975, Viện Bảo tàng Quân đội đã phục vụ tham quan cho gần 2 triệu khách trong và ngoài nước thuộc hơn 80 quốc gia trên thế giới.

Sau khi đất nước thống nhất, cùng với sự hồi sinh, phát triển của đất nước, của quân đội, Viện Bảo tàng Quân đội cũng có bước trưởng thành mới. Năm 1987, Phân viện Điện Biên Phủ trên cơ sở tiếp nhận Khu di tích Điện Biên Phủ được thành lập. Năm 1988, sáp nhập Xưởng Mỹ thuật Quân đội vào Viện Bảo tàng. Tháng 7/1994, Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) công nhận Viện Bảo tàng Quân đội là bảo tàng cấp quốc gia. Cơ cấu tổ chức của Viện được điều chỉnh cho phù hợp với chức năng nhiệm vụ mới.

Đến ngày 4/12/2002, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 1155/QĐ-TTg đổi tên Viện Bảo tàng Quân đội thành Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Với việc đổi tên, vai trò, chức năng, nhiệm vụ cũng như vị thế của Bảo tàng được nâng lên ngang tầm với các bảo tàng quốc gia; quy mô, phạm vi trưng bày được mở rộng. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị, sự giúp đỡ của các đơn vị trong toàn quân cùng sự nỗ lực, cố gắng của các cán bộ, nhân viên bảo tàng. Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã hoạt động xứng đáng với tầm vóc của một thiết chế văn hóa của xã hội, một bộ phận quan trọng trong hệ thống công tác đảng, công tác chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam trở thành một trong 6 bảo tàng quốc gia và là bảo tàng đầu hệ của hệ thống bảo tàng quân đội, hàng năm tiếp đón và phục vụ hàng chục vạn lượt khách trong và ngoài nước tới tham quan, học tập.

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giám đốc, Bí thư Đảng uỷ: Thượng tá, Thạc sĩ Lê Vũ Huy
  • Phó Giám đốc: Trung tá,Thạc sĩ Nguyễn Thành Lê

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng Hành chính - Tổng hợp
  • Phòng Sưu tầm
  • Phòng Kiểm kê - Bảo quản
  • Phòng Trưng bày - Triển lãm
  • Phòng Tuyên truyền - Giáo dục
  • Phòng Hướng dẫn nghiệp vụ
  • Ban Thông tin - Tư liệu - Thư viện
  • Ban Tài chính

Giới thiệu trưng bày[sửa | sửa mã nguồn]

Thời đại Hùng Vương, An Dương Vương đến trước năm 1930

Lịch sử quân sự Việt Nam từ khi hình thành nhà nước đầu tiên (Nhà nước Văn Lang) cho đến khi đất nước giành được nền độc lập tự chủ (năm 938); quá trình đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ nền độc lập của các triều đại phong kiến cho đến đầu thế kỷ XX.

Lịch sử quân sự Việt Nam từ 1930 – 1953

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và sự hình thành các tổ chức vũ trang cách mạng Việt Nam trong phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã đập tan ách thống trị của giặc ngoại xâm và chế độ phong kiến tay sai, giành chính quyền trên cả nước lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (giai đoạn 1930 – 1945); Quá trình phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh vận động chiến vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (giai đoạn 1946 – 1953).

Chiến cuộc Đông – Xuân 1953 – 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ

Quá trình tác chiến trong giai đoạn Đông – Xuân 1953 – 1954, quyết tâm chiến đấu của quân và dân Việt Nam đã lập nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Lịch sử quân sự Việt Nam giai đoạn 1954 – 1968

Nhân dân miền Bắc xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại, đáp ứng yêu cầu chi viện cho cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới, chống lại đế quốc Mỹ xâm lược; Phong trào cách mạng miền Nam làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ, đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” với các chiến thắng lớn, đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Lịch sử quân sự Việt Nam giai đoạn 1969 – 1974

Quân và dân Việt Nam phối hợp với nhân dân Lào, Cam-pu-chia đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Ở miền Bắc, đánh bại chiến tranh phá hoại lần thứ 2, đỉnh cao là chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, góp phần vào thắng lợi cả hai miền, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút quân Mỹ và các nước chư hầu ra khỏi miền Nam; Cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân miền Nam nhằm giữ vững vùng giải phóng, tạo thời cơ tiến lên giải phòng hoàn toàn.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trưng bày chuyên đề

- Vũ khí thô sơ tự tạo: Giới thiệu sưu tập các loại vũ khí thô sơ, tự tạo của Việt Nam sử dụng đánh địch trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 – 1975).

- Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh: Biểu tượng của ý chí thống nhất đất của nhân dân Việt Nam.

- Thế giới ủng hộ Việt Nam kháng chiến: Phản ánh sự giúp đỡ của các nước trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

- Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Phản ánh vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.

Trưng bày ngoài trời

Sưu tập vũ khí, phương tiện chiến tranh, trang bị khối lớn của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và những chiến lợi phẩm, vũ khí, trang bị thu được; Sưu tập súng thần công thời nhà Nguyễn và một số loại trong thế kỷ XIX. Trong khuôn viên có di tích lịch sử Cột cờ Hà Nội.

Địa chỉ và đường đến bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

- Địa chỉ: số 28A Điện Biên Phủ, P. Điện Biên, Q. Ba Đình, TP. Hà Nội.

- Điện thoại: 024.6253.1367.

- Website: www.btlsqsvn.org.vn

- Email: trangtin.btlsqsvn@gmail.com

- Giờ mở cửa: Các ngày Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy và Chủ Nhật.

+ Buổi sáng từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

+ Buổi chiều từ 13 giờ đến 16 giờ 30 phút.

* Trong 02 ngày Thứ Hai và Thứ Sáu, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam mở cửa phục vụ khách đoàn (có đăng ký).

- Các tuyến xe buýt: 02, 09, 18, 22, 25, 32, 33, 34, 41, 45, 50.

- Sơ đồ Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn cảnh khu trưng bày ngoài trời của bảo tàng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]