Cục Xe - Máy, Quân đội nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cục Xe-Máy
Vietnamese People's Army Department Motorcycle.png
Phù hiệu của Cục Xe-Máy
Hoạt động18/4/1955 (&0000000000000064.00000064 năm, &0000000000000093.00000093 ngày)
Quốc gia Việt Nam
Phục vụFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân chủngVietnamese People's Army Motorcycle Vector.png
Phân loạiCục chuyên ngành (Nhóm 5)
Chức năngLà cơ quan quản lý xe-máy đầu ngành
Quy mô1.500 người
Bộ phận củaVietnamese People's Army Engineering Vector.pngTổng cục Kỹ thuật
Bộ chỉ huySố 5, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội
Đặt tên theothứ tự thời gian:

1955: Cục Quản lý xe hơi máy kéo
1974: Cục Quản lý Xe
1980: Cục Ô tô - máy kéo
1984: Cục Ôtô máy kéo trạm nguồn
1993: Cục Quản lý Xe máy

2007: Cục Xe-máy
Khẩu hiệuYêu xe như con, quý xăng như máu
Hành khúcBài hát truyền thống ngành Xe-Máy
Lễ kỷ niệmngày 18 tháng 4 năm 1955
Các tư lệnh
Cục trưởngTrần Minh Đức
Chính ủyNguyễn Minh Tuấn
Cục trưởng
đầu tiên
Đại tá Trần Cư

Cục Xe-Máy trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam, thành lập ngày 18 tháng 4 năm 1955 [1] là cơ quan đầu ngành quản lý và bảo đảm kỹ thuật xe-máy cấp chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cục Xe - Máy có ngày truyền thống là ngày 28 tháng 3 năm 1951. Đó là ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và động viên 2 đại đội ô tô đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, tại Nà Roác, Hòa An, Cao Bằng và căn dặn ngành Xe - Máy: "Xe, xăng là mồ hôi nước mắt, xương máu của nhân dân, các chú phải chăm sóc xe, yêu xe như con, quý xăng như máu".[2] Ngày thành lập Cục Xe - Máy vào ngày 18 tháng 4 năm 1955, tên ban đầu của Cục là Quản lý xe với Trần Cư là cục trưởng đầu tiên.
  • Ngày 18 tháng 4 năm 1955, Tổng Quân ủy thông qua đề án của Tổng cục Hậu cần quyết định tổ chức lại Cục Vận tải thành ba cơ quan trực thuộc Tổng cục Hậu cần: Cục Quản lý xe hơi máy kéo, các đoàn ô tô, Phòng Xăng dầu.
  • Ngày 21 tháng 11 năm 1974, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định 756/QĐ-QP về việc thành lập Cục Quản lý Xe.
  • Ngày 16 tháng 10 năm 1980, Cục Quản lý Xe đổi tên thành Cục ô tô - máy kéo trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật.
  • Ngày 29 tháng 3 năm 1984, Cục được đổi tên là Cục Ô tô - máy kéo - trạm nguồn trực thuộc Bộ Quốc phòng
  • Ngày 12 tháng 2 năm 1993, Cục được đổi tên là Cục Quản lý Xe-Máy trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật.
  • Tháng 10 năm 2007, Cục được đổi tên là Cục Xe-Máy trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật.[3]

Lãnh đạo Cục Xe-Máy[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cục trưởng: Thiếu tướng Trần Minh Đức
  • Phó Cục trưởng: Đại tá Nguyễn Minh Tuấn
  • Phó Cục trưởng: Đại tá Đinh Văn Tuynh
  • Phó Cục trưởng: Đại tá Nguyễn Văn Khánh
  • Phó Cục trưởng: Đại tá Nguyễn Quế Lâm

Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng Tham mưu Kế hoạch
  • Phòng Chính trị
  • Phòng Sửa chữa
  • Phòng Quản lý Sử dụng
  • Phòng Quân huấn Nhà trường
  • Phòng Kiểm tra xe quân sự
  • Phòng Bảo đảm trang bị vật tư
  • Phòng Hậu cần
  • Ban Tài chính
  • Ban Hành chính

Đơn vị cơ sở trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống cơ quan Xe-máy trong Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cục Xe-Máy thuộc Tổng cục Kỹ thuật.
  • Phòng Xe-Máy thuộc Cục Kỹ thuật của các Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Tổng cục và tương đương.
  • Ban Xe-Máy thuộc Phòng Kỹ thuật của các Sư đoàn, Lữ đoàn, Vùng Cảnh sát biển, Bộ CHQS tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Bộ CHBP tỉnh, thành phố trực thuộc TW và tương đương.
  • Trợ lý, Nhân viên xe-máy thuộc Ban Kỹ thuật của các Trung đoàn, Ban chỉ huy quân sự quận, huyện, thị xã và tương đương.

Cục trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Chính ủy qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Bộ Quốc phòng, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
  2. Lịch sử Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà nội 1999.
  3. Lịch sử Ngành xe-máy Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân 1996.