Tổng cục Tình báo, Quân đội nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tổng cục Tình báo
Quân đội nhân dân Việt Nam
Quốc gia Việt Nam
Thành lập25 tháng 10 năm 1945; 76 năm trước (1945-10-25)[1]
Phân cấpTổng cục (Nhóm 3)
Nhiệm vụCơ quan Tình báo quân sự
Bộ phận củaFlag of Viet Nam Peoples Army.svg Bộ Quốc phòng
Bộ chỉ huyĐường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Chỉ huy
Tổng cục trưởngPhạm Ngọc Hùng
Chính ủyLê Quang Minh
Tổng cục trưởng đầu tiênĐặng Vũ Chính
Chỉ huy nổi bậtCác tướng lĩnh tiêu biểu:

Tổng cục Tình báo Quốc phòng hay Tổng cục 2 thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam được thành lập trên cơ sở Cục Tình báo (Cục 2), Bộ Quốc phòng năm 1995 và hoạt động theo Pháp lệnh tình báo do Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ký ngày 14 tháng 12 năm 1996 và nghị định 96/CP do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký ngày 11 tháng 9 năm 1997.

Lịch sử hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lực lượng Tình báo Quốc phòng bắt nguồn từ phòng Tình báo Quân ủy hội do Hoàng Minh Đạo (tên thật là Đào Phúc Lộc) phụ trách, thành lập ngày 25 tháng 10 năm 1945 (được lấy làm ngày truyền thống của Tình báo Quốc phòng Việt Nam). Hoàng Minh Đạo được coi là thủ trưởng đầu tiên của ngành tình báo quân sự.
  • Theo sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa số 34 ngày 25 tháng 4 năm 1946, Điều thứ 10: "Tình báo cục" có nhiệm vụ trinh sát tình hình quân địch, tình hình quân đội của mình, và thu thập các tin tức lợi cho việc hành binh.
  • Tháng 9 năm 1946, Phòng Tình báo Quân ủy hội mở một lớp huấn luyện nghiệp vụ tại Sơn Tây, do Đại tá Lâm Sơn (người Nhật), làm giảng viên về nghiệp vụ tình báo.
  • Cục Tình báo được thành lập ngày 20 tháng 3 năm 1947, thuộc Bộ Quốc phòng – Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam. Tháng 4 tháng 1950, Cục Tình báo giải thể.
  • Ngày 15 tháng 7 năm 1951, Cơ quan Tình báo Chiến lược của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tên gọi Nha Liên lạc thuộc Thủ tướng Phủ được thành lập.
  • Tháng 9 năm 1954, tranh thủ thời gian thực hiện hiệp định Geneva, Thủ tướng Phạm Văn Đồng (thay mặt Ban Chấp hành Trung ương phụ trách Tình báo), theo tham mưu của Nha liên lạc, đề xuất phương án xây dựng tổ chức nắm địch của các cấp ủy Đảng ở địa phương.[2]
  • Ngày 18 tháng 10 năm 1954, Ban Địch tình trực thuộc Xứ ủy được thành lập, phụ trách thống nhất các lực lượng tình báo tại miền Nam. Văn Viên - Xứ ủy viên là Trưởng Ban, Mai Chí Thọ, Mười Hương, Cao Đăng ChiếmHoàng Minh Đạo là Phó Ban.
  • Từ năm 1955 đến 1958, vì sự hoạt động có hiệu quả của các cơ quan phản gián Việt Nam Cộng hòa, nhiều đầu mối quan trọng của Ban Địch tình bị phát hiện và theo dõi, nhiều lãnh đạo của Ban cũng bị bắt. Đây cũng là một trong những thời điểm khó khăn nhất của Cách mạng miền nam nói chung và lực lượng tình báo nói riêng.
  • Ngày 10 tháng 6 năm 1957, Nha Liên lạc hợp nhất với Cục Quân báo – Bộ Tổng tham mưu (Cục Nghiên cứu hay cục 2). Từ đây, hoạt động tình báo tại miền nam được chuyển giao cho Quân đội.[3]
  • Năm 1968, theo yêu cầu của Bộ Tổng tham mưu và lãnh đạo cục, phòng điệp báo ngoài nước (Cục 25 ngày nay) phối hợp với các tổ điệp báo tại Thái Lan, đã tấn công làm hư hại nhiều máy bay tại các sân bay UtapaoUdon[4].
  • Tháng 7 năm 1969, cụm A22 - cụm điệp báo được cho là leo cao luồn sâu nhất trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa bị phát hiện. Trong thời gian này, ít nhất 2 lưới tình báo A22 và A26 bị vỡ, một số lưới hoạt động không hiệu quả hoặc bị theo dõi, khiến phòng tình báo miền phải tổ chức hội nghị đặc biệt để bảo toàn các lưới khác[5].
  • Năm 1971, ít nhất 3 nguồn tin từ các tổ điệp báo đã phát hiện kế hoạch điều quân của quân đội Việt Nam Cộng hòa ra Hạ Lào, góp phần làm thất bại chiến dịch Lam Sơn 719[6].
  • Năm 1977, Cục Quân báo thu được tài liệu cho thấy Khmer Đỏ coi Việt Nam là đối thủ truyền kiếp, từ đó Trung ương đánh giá những sự kiện diễn ra tại biên giới Tây Nam không đơn thuần là xung đột biên giới thông thường, mà là chiến tranh toàn diện bảo vệ Tổ quốc[7]
  • Tháng 2 năm 1979, chiến tranh biên giới phía bắc nổ ra. Cục không dự đoán được quy mô xung đột với Trung Quốc. Tổng kết sau chiến tranh, Bộ Tổng tham mưu nhận xét về mặt chiến thuật chúng ta thành công, nhưng về mặt chiến lược Việt Nam bị bất ngờ
  • Tháng 5 năm 1983, xảy ra sự kiện Xiêm Rệp, bộ phận quân báo của mặt trận 479 ( Ngày nay là cục 12) - bị phản tình báo, đã đưa đến nhận định sai lầm, gây ra hậu quả lớn trong quan hệ giữa 2 nước Campuchia và Việt Nam. [8]
  • Khi kết thúc chiến tranh lạnh, Cục có đóng góp rất to lớn vào việc phá thế bao vây chiến lược của các nước lớn đối với Việt Nam, góp phần bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội sau này.
  • Năm 1995, Cục Tình báo - Bộ Tổng tham mưu được nâng cấp lên thành Tổng cục Tình báo (Tổng cục 2) thuộc Bộ Quốc phòng.
  • Năm 1996, Pháp lệnh Tình báo được thông qua, quy định Tổng cục 2 là cơ quan tình báo chiến lược của Nhà nước Việt Nam.
  • Năm 2016, Tổng cục 2 thành lập trung tâm T1, chuyên trách trên hình thái tình báo mới, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức lực lượng, nâng cao hiệu quả dự báo quốc phòng.[9]

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Lực lượng Tình báo Quốc phòng là lực lượng chuyên trách về công tác tình báo chiến lược hoạt động trên các lĩnh vực tình báo chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học kĩ thuật, công nghệ môi trường, văn hoá xã hội, thu thập và xử lý tin liên quan đến lợi ích quan trọng, sống còn của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, góp phần tham mưu cho ĐảngNhà nước hoạch định đường lối, sách lược đối nội, đối ngoại và các chủ trương, kế hoạch, biện pháp, quyết sách để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược..." (Điều 1 chương 1 của nghị định 96/CP).
  • "Đối tượng và mục tiêu của Lực lượng Tình báo Quốc phòng là những nơi có tin tức, tài liệu liên quan đến nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó đặc biệt chú ý đến các quốc gia, tổ chức và các cá nhân ở trong nước và ngoài nước có âm mưu hoạt động, đe dọa chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam." (Điều 11, chương 2 của nghị định 96/CP).

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Họ tên Quân hàm Chức vụ trước đó Ghi chú
Tổng cục trưởng Phạm Ngọc Hùng Trung tướng Phó Tổng cục trưởng Tổng cục II
Chính ủy Lê Quang Minh Trung tướng Phó Tổng cục trưởng Tổng cục II
Phó Tổng cục trưởng Lê Hồng Sơn Thiếu tướng
Nguyễn Tân Tiến Thiếu tướng
Lê Minh Dũng Thiếu tướng
Bùi Xuân Khang Thiếu tướng
Phó Chính ủy Lê Vĩnh Thuộc Thiếu tướng Chính ủy Cục 11, Tổng cục II[10][11]

Tổ chức chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn vị Ngày thành lập Trần quân hàm Chức năng Địa chỉ
Văn phòng Tổng cục Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Thanh tra Tổng cục Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Phòng Tài chính Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Bộ Tham mưu Thiếu tướng Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Cục Chính trị Thiếu tướng Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Cục Hậu cần Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Cục Kỹ thuật Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Cục 11[12] 3/7/1982

(39 năm, 199 ngày)

Thiếu tướng Tiền thân là đoàn 11 - Cục 2.

Phụ trách địa bàn miền trung và các nước liên quan

Quận Hải Châu, Đà Nẵng
Cục 12[13] 5/2/1980

(41 năm, 347 ngày)

Thiếu tướng Tiền thân là phòng tình báo Bộ Tư lệnh miền J22.

Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới sau 1975, tái tổ chức thành đoàn 817 năm 1980.

Phụ trách địa bàn phía nam và các nước liên quan[14]

Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh
Cục 16 Thiếu tướng Tiền thân là đoàn 6 - Cục 2.

Phụ trách địa bàn phía bắc và các nước liên quan

Hà Nội
Cục 25 7/8/1968

(53 năm, 164 ngày)

Thiếu tướng Tiền thân là phòng 76 Cục 2.

Chuyên trách tình báo ngoài nước.

Hà Nội
Cục 70 Thiếu tướng Tiền thân là Viện 70 - Cục 2 (nay là Cục 70 - Tổng Cục II).

Chức năng, nhiệm vụ chính là nghiên cứu, đánh giá, nhằm tham mưu cho Đảng, Nhà nước, quân đội trong việc hoạch định đường lối, chiến lược

Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Cục 71 Thiếu tướng Phụ trách hoạt động quân báo trinh sát[15] Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Cục 72 Đại tá
Cục 75 Đại tá Trước là trung tâm 75, tiền thân là trung đoàn 75.

Phụ trách trinh sát kỹ thuật

Hà Nội
Cục 78 Năm 1957 Đại tá Trước là viện 78

Phụ trách việc sưu tầm, nghiên cứu và đánh giá các thông tin về khoa học công nghệ phục vụ quốc phòng

Cục 701 Đại tá Trước là trung tâm 701.

Chuyên trách địa bàn Tây Nguyên của Tổng cục

Hà Nội
Cục T1 Năm 2016 Đại tá Trước là trung tâm T1. Phụ trách tình báo không gian mạng.

Ra đời sau sự kiện Hacker Trung Quốc tấn công hạ tầng thông tin sân bay Việt Nam.[16]

Năm 2017, một đoạn ghi âm nội dung điện đàm giữa tổng thống Philipin Rodrigo Duterte và tổng thống Hoa Kỳ Donal Trump được tung lên mạng có sự dính lứu của chính phủ Việt Nam[17]Là đơn vị vinh dự được Thủ tướng đến thăm và kiểm tra trực chiến tết 2020.

Cơ quan Tổng cục,

Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm,

Hà Nội

Phòng A Đại tá Tiền thân là phòng 73 - Cục 2.

Xử lý và đánh giá tin tình báo.

Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Phòng F Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Phòng B Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Phòng C Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Phòng D Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Phòng E Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Phòng G Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Phòng H Đại tá Đường Phạm Hùng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Học viện Khoa học Quân sự Thiếu tướng số 322, đường Lê Trọng Tấn, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội
Trường Đại học Ngoại ngữ quân sự Đại tá
Trường Cao đẳng Trinh sát Đại tá
Viện Cơ cấu chiến lược Đại tá
Viện nghiên cứu chiến lược kỹ thuật thông tin viễn thông Đại tá
Viện Quan hệ Quốc tế về Quốc phòng (Viện 26) 21/12/2002

(19 năm, 28 ngày)

Thiếu tướng
Lữ đoàn K3 Đại tá Đoàn tình báo hành động phụ trách khu vực miền bắc Hà Nội
Lữ đoàn 74[18] Đại tá Đoàn tình báo hành động phụ trách khu vực miền trung và tây nguyên Đà Nẵng
Lữ đoàn 94 Đại tá Đoàn tình báo hành động phụ trách khu vực miền nam Đường ĐT 743, xã Bình Hòa huyện Thuận An Bình Hòa, huyện Thuận An, Bình Dương

Hệ thống cơ quan Tình báo trong Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổng cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng.
  • Phòng quân báo thuộc các Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Tổng cục và tương đương.
  • Cụm quân báo phân chia theo các khu vực, dưới sự chỉ đạo của phòng quân báo

Tổng cục trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Họ tên Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Hoàng Minh Đạo
(1923–1969)
19451947 Trung tướng Trưởng phòng Tình báo Quân ủy Hội Hi sinh tại chiến trường miền nam. Truy phong trung tướng
2 Trần Hiệu
(1914–1997)
19471950 Đại tá (1958) Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (1960–1984) Cục trưởng Cục Quân báo đầu tiên
3 Lê Trọng Nghĩa
(1922–2015)
19501951 Đại tá (1950) Cục trưởng Cục Quân báo
4 Trần Hiệu
(1914–1997)
19511960 Đại tá (1958) Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (1960–1984) Giám đốc Nha liên lạc - cơ quan Tình báo Trung ương của chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
5 Lê Trọng Nghĩa
(1922–)
19601962 Đại tá (1950) Cục trưởng Cục Quân báo Bị bắt trong chuyên án X77 vì làm gián điệp cho Liên Xô
6 Phan Bình
(1934–1987)
19621987 Trung tướng (1974) Cục trưởng Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu Bí danh Ba Hùng. Tự sát bằng súng lục tại TPHCM
7 Nguyễn Như Văn
(1924–2001)
19871995 Trung tướng (1993) Tổng cục trưởng tổng cục 2 Bí danh Tư Văn
8 Đặng Vũ Chính 19952002 Trung tướng Tổng cục trưởng Tổng cục 2 Cha vợ Nguyễn Chí Vịnh
9 Nguyễn Chí Vịnh
(1957–)
20022009 Trung tướng (2004)
Thượng tướng (2011)
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (2009–2021) Con rể Đặng Vũ Chính
10 Lưu Đức Huy
(1954–)
20092014 Trung tướng (2009)
11 Phạm Ngọc Hùng
(1959–)
2014 – nay Trung tướng (2010)

Chính ủy qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Phó Tổng cục trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Phó Chính ủy qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Các tướng lĩnh tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đặng Trần Đức, Thiếu tướng (1990), nguyên Cục trưởng Cục 12, Tổng cục 2
  • Phùng Quang Định, Thiếu tướng, Viện trưởng Viện Cơ cấu chiến lược
  • Nguyễn Quang Trung, Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục 2
  • Phan Sỹ Minh (sinh năm 1960), PGS.TS, Thiếu tướng (2012), Cục trưởng Cục 16 (2011–2019)
  • Dương Quốc Huy, Thiếu tướng, Viện trưởng Viện 34, Tổng cục 2
  • Phan Hải Quân, PGS.TS, Thiếu tướng (2007), Viện trưởng Viện 70, Tổng cục 2
  • Nguyễn Đức Long, (1960) Thiếu tướng (2011), Viện trưởng Viện 78.
  • Đỗ Văn Nghị, Thiếu tướng (2008), nguyên Cục trưởng Cục 25, Tổng cục 2

Những điệp viên nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Phong tặng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú dẫn nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Tình báo Quốc phòng nhận Huân chương quân công - VnExpress”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 27 tháng 12 năm 2016.
  2. ^ cand.com.vn. “Đồng chí Trần Quốc Hương - Người đặt nền móng cho công tác Điệp báo an ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước”. Báo Công an Nhân dân điện tử (bằng tiếng Việt). Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2021.
  3. ^ Lực lượng tình báo Bộ Công an được tổ chức riêng thành Vụ Phái khiển (Tiền thân của cục tình báo A13 - tổng cục an ninh) - Ở miền nam, Vụ Phái Khiển có 5 cụm điệp báo trực thuộc
  4. ^ Trích nguyệt san kỷ niệm thành lập cục 25
  5. ^ “Phòng tình báo Miền B2 trước sự đổ vỡ của Cụm A-22”. trian.vn (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2021.
  6. ^ Bao gồm một lưới điệp báo trong Bộ Tổng tham mưu, Tống Văn Trinh ở Lào và Phạm Xuân Ẩn
  7. ^ Cụm điệp báo này dưới sự chỉ huy của Đặng Trần Đức
  8. ^ Trích Hồi ký Đại tướng Lê Đức Anh. Liên quan đến việc này, tham mưu trưởng quân tình nguyện Việt Nam Hồ Quang Hóa bị giáng chức xuống đại tá. Đại tướng Chu Huy Mân được cử qua để xin lỗi Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia
  9. ^ https://kienthuc.net.vn (22 tháng 5 năm 2016). “Tổng cục 2 thành lập đơn vị mới”. trithuccuocsong.vn. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2021.
  10. ^ Thanh Xuân (25 tháng 4 năm 2019). “Tổng cục II-Bộ Quốc phòng: Tổ chức chương trình Quân dân y kết hợp tại xã Ia Đal, huyện Ia H'Drai”. Trang TTĐT huyện Iah'drai. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2021.
  11. ^ CÔNG TÂM (25 tháng 10 năm 2017). “Lãnh đạo thành phố thăm Cục 11, Tổng cục 2 (Bộ Quốc phòng)”. Cổng TTĐT TP. Đà Nẵng. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2021.
  12. ^ “Cục 11, Tổng cục 2 (Bộ Quốc phòng) đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND 2012”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2016.
  13. ^ “Cục 12 đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất”. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015.
  14. ^ “Cục 12 đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất”. Báo Sài Gòn Giải Phóng. 1 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2021.
  15. ^ “Cụm Trinh sát Kỹ thuật 79 kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống - Báo Quân khu Một điện tử”. baoquankhu1.vn. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2021.
  16. ^ “10 Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân năm 2020”. https://www.qdnd.vn (bằng tiếng Việt). Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2021. Liên kết ngoài trong |website= (trợ giúp)
  17. ^ “A stolen Trump-Duterte transcript appears to be just one part of a larger hacking story”. CyberScoop (bằng tiếng Anh). 31 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2021.
  18. ^ “Xem chiến sĩ Lữ đoàn 74, Tổng cục II huấn luyện 2014”.
  19. ^ “TRẦN NAM PHI, PHÓ TỔNG CỤC VỀ CHÍNH TRỊ TỔNG CỤC 2, BỘ QUỐC PHÒNG”.
  20. ^ “Tổng cục II trao gần 185 triệu đồng hỗ trợ xây dựng cơ sở”. Báo Hà Tĩnh điện tử. 26 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2017.
  21. ^ “Quỹ khuyến học Phan Văn Đường”.
  22. ^ “Lãnh đạo một số Bộ, ngành, địa phương chúc mừng Bộ Thông tin và Truyền thông nhân dịp kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 6/2014”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2014.
  23. ^ “Vụ Giáo dục Quốc phòng – An ninh đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba”.[liên kết hỏng]
  24. ^ “Tổng cục II trao gần 185 triệu đồng hỗ trợ xây dựng cơ sở”. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2017.
  25. ^ “Tổng cục II- Bộ Quốc phòng tổ chức chương trình quân- dân y kết hợp tại xã Hải Dương 7/2014”.
  26. ^ “Người chiến sĩ điệp báo trong hạ viện Sài Gòn”. Truy cập 26 tháng 4 năm 2013.
  27. ^ Những Chiến công Thầm lặng - Tổng cục Tình báo, Bộ Quốc phòng - Hà Nội, tháng 8 năm 2008.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]