Đặng Trần Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thiếu tướng Đặng Trần Đức

Đặng Trần Đức (1922-2004), sinh tại Thanh Trì, Hà Nội; bí danh Ba Quốc3Q, Nguyễn Văn Tá; là Thiếu tướng tình báo Quân đội nhân dân Việt Nam. nguyên Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Cục trưởng Cục 12, Tổng cục II, Bộ Quốc phòng Việt Nam, phụ trách lực lượng tình báo phía nam và Campuchia.

Tháng 3 năm 1945 tham gia Việt Minh tại khu Hàng Trống, Hà Nội; được tuyển vào Công an xung phong, từng giữ chức Trung đội trưởng Công an thanh niên xung phong Mặt trận Việt Minh khu Khâm Thiên, Hà Nội.[1]

Năm 1954, sau khi được Nha Liên lạc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa điều vào miền Nam Việt Nam, ông được bố trí làm kế toán viên tại Nha Công an Nam phần. Sau đó năm 1957 chuyển về ban công tác đặc biệt Phủ Tổng thống của Việt Nam Cộng hòa, đặc trách tổ chức việc thu thập thông tin buôn lậu vàng. Tháng 4 năm 1959, Ba Quốc bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam khi thực thi chính sách tố cộng, diệt cộng (Luật 10-59).

Trong chiến tranh Việt Nam, vào những năm 60 đến khoảng đầu những năm 70 của thế kỷ 20, Ba Quốc hoạt động trong cơ sở tình báo số H.67. Từ năm 1963, Ba Quốc được cài vào làm một trong những trợ lý "trung thành" của Bác sĩ Trần Kim Tuyến tại bộ phận tình báo trong nước thuộc Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng hòa (CIO) do Trần Kim Tuyến đứng đầu. Ở vị trí này, Ba Quốc được tiếp cận với hầu hết các tài liệu quan trọng trong mạng lưới tình báo của Việt Nam Cộng hòa.[2]

Trong thời kỳ chiến tranh, Đặng Trần Đức đã tìm cách tiếp cận với Phạm Xuân Ẩn, một nhân viên tình báo khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đang hoạt động dưới vỏ bọc nhà báo, để khai thác tin tức. Cả ông và Phạm Xuân Ẩn đều không biết đối phương là đồng đội cùng chiến tuyến. Tuy nhiên thượng cấp đã ra lệnh ông Đức cắt đứt quan hệ với ông Ẩn, viện cớ ông Ẩn là người của CIA.[3]

Khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, ông tiếp tục công tác trong ngành Tình báo quốc phòng và trở thành cán bộ Tình báo. Ông đóng góp rất to lớn vào thành công của lực lượng tình báo trong giai đoạn chiến tranh tây nam. Năm 1977, cụm điệp báo Hà Tiên/Kiên Giang mà ông là cụm trưởng, đã móc nối thành công với Heng Samrin - tư lệnh sư đoàn 4 của Khmer Đỏ, nắm được ý đồ của Khmer đỏ coi "Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp"[4]. Từ đó Trung ương Đảng xác định, đây không chỉ là "xung đột biên giới" đơn thuần mà là cuộc chiến tranh Bảo vệ Tổ Quốc. Năm 1978, ông Heng Sarim tiến hành đảo chính không thành công, Việt Nam buộc phải tiến hành biện pháp cứng, phản công trên toàn biên giới tây nam với hơn 25 vạn quân và tiến vào Phnom Penh lật đổ chế độ Kmer đỏ.

Trong thời gian công tác tại Campuchia và là cục trưởng phụ trách lực lượng tình báo phía nam của tổng cục, ông là cấp trên của Nguyễn Chí Vịnh. Ông là người duy nhất đi từ tình báo viên trong chiến tranh Việt Nam, trở thành cán bộ tình báo rồi lãnh đạo tình báo quốc phòng sau chiến tranh.

Ông mất hồi 5h30 phút, ngày 26 tháng 3 năm 2004 tại Quân y viện 175, thành phố Hồ Chí Minh.[5]

Phong tặng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã được Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam tặng thưởng nhiều huân huy chương:

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Đặng Trần Đức có hai vợ là bà Phạm Thị Thanh (cả, đã mất) và bà Ngô Thị Xuân (lẽ); con trai cả là Đại tá Đặng Trần Thành, con gái lớn là bà Đặng Thị Chính Giang.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Khuất Quang Thụy (24/08/2010). “Bản sao đã lưu trữ”. Báo Đại Đoàn Kết. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010. Đã định rõ hơn một tham số trong |tên bài=|title= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày= (trợ giúp)
  2. ^ Theo Tuổi Trẻ (10 tháng 3 năm 2007). “Điệp viên hoàn hảo (kỳ 5)”. VnExpress. Truy cập 15/12/2010. Theo Tuổi Trẻ Kiểm tra giá trị |url lưu trữ= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày truy cập= (trợ giúp)
  3. ^ https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/ong-tuong-tinh-bao-bi-an-va-nhung-diep-vu-sieu-hang-ky-31-tuong-tinh-bao-ba-quoc-duoi-mat-tuong-tinh-bao-pham-xuan-an-464659/
  4. ^ News, VietNamNet. “Cuộc gặp của Thượng úy Vịnh với nhà lãnh đạo số 2 của Đảng”. VietNamNet. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2021.
  5. ^ a b TRONGQUANG (Báo Hànộimới). “Bản sao đã lưu trữ”. Báo Hànộimới. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010. Theo Nhân dân Đã định rõ hơn một tham số trong |tên bài=|title= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày= (trợ giúp)