Lê Đức Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lê Đức Anh
(Sáu Nam)
Lê Đức Anh.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ23 tháng 9 năm 1992 – 23 tháng 9 năm 1997
&0000000000000005.0000005 năm, &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 ngày
Tiền nhiệmVõ Chí Công
Kế nhiệmTrần Đức Lương
Vị tríCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Nhiệm kỳtháng 6 năm 1991 – tháng 9 năm 1992
Tiền nhiệmNguyễn Thanh Bình
Kế nhiệmĐào Duy Tùng
Nhiệm kỳ16 tháng 2 năm 1987 – 10 tháng 8 năm 1991
&0000000000000004.0000004 năm, &0000000000000175.000000175 ngày
Tiền nhiệmVăn Tiến Dũng
Kế nhiệmĐoàn Khuê
Nhiệm kỳtháng 12 năm 1986 – 16 tháng 2 năm 1987
Tiền nhiệmLê Trọng Tấn
Kế nhiệmĐoàn Khuê
Vị tríQuân đội Nhân dân Việt Nam
Nhiệm kỳ31 tháng 3 năm 1982 – 29 tháng 12 năm 1997
&0000000000000015.00000015 năm, &0000000000000273.000000273 ngày
Vị tríCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Nhiệm kỳ1981 – 1986
Tư lệnh Quân khu 7
Nhiệm kỳ1978 – 1981
Tiền nhiệmTrần Văn Trà
Kế nhiệmĐồng Văn Cống
Tư lệnh Quân khu 9
Nhiệm kỳ1974 – 1975
Tiền nhiệmPhạm Ngọc Hưng
Kế nhiệmNguyễn Chánh
Nhiệm kỳ1975 – 1976
Tư lệnh Quân khu 9
Nhiệm kỳ1969 – 1973
Tiền nhiệmĐồng Văn Cống
Kế nhiệmPhạm Ngọc Hưng
Thông tin chung
Đảng pháiĐảng Cộng sản Việt Nam
Danh hiệu

Huân chương Hồ Chí Minh

Sinh(1920-12-01)1 tháng 12, 1920
huyện Phú Vang, Thừa Thiên, Trung Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất22 tháng 4, 2019(2019-04-22) (98 tuổi)
nhà Công vụ, số 5A, phố Hoàng Diệu, Thành phố Hà Nội.
Dân tộcKinh
Tôn giáoKhông
Vợ
  • Phạm Thị Anh (s. 1925-m. 2011)
  • Võ Thị Lê (s. 1928 - m. 2016)
Con cái
  • Lê Xuân Hồng (s. 1951)
  • Lê Mạnh Hà (s. 1957)
  • Lê Xuân Hồng (s. 1959)
Binh nghiệp
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ19451992
Cấp bậcVietnam People's Army General.jpg Đại tướng
Chỉ huyFlag of North Vietnam (1945-1955).svg Việt Minh
FNL Flag.svg Quân Giải phóng Miền Nam
Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiến

Lê Đức Anh (1 tháng 12 năm 1920 - 22 tháng 4 năm 2019) là Chủ tịch nước thứ tư của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 19921997. Trước đó ông từng là một tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Đại tướng, từng là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam (19871991), Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (19861987).

Tiểu sử

Lê Đức Anh, sinh ngày 1 tháng 12 năm 1920 tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế, quê quán tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế.[1]

Ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 5/1938.[1]

Năm 1944, ông tổ chức và Phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh.

Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Lê Đức Anh trong Chiến tranh Việt Nam trước năm 1960.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn, chi đội 1 và Trung đoàn 301. Từ tháng 10 năm 1948 đến năm 1950, ông là tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ năm 1951 đến 1954, giữ chức tham mưu phó, quyền tham mưu trưởng bộ tư lệnh Nam Bộ.[2]

Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc. Tháng 5 năm 1955, ông được cử giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu; hàm Đại tá (1958). Từ tháng 8 năm 1963, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 2 năm 1964, ông được điều vào Nam với bí danh Sáu Nam, giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam. Năm 1969, được điều về làm Tư lệnh Quân khu 9.

Cuối năm 1974, ông được điều trở lại chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam và được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Năm 1975, ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn.

Từ tháng 5 năm 1976, ông là Tư lệnh Quân khu 9. Đến tháng 6 năm 1978, là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, chỉ huy trưởng cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòngmặt trận Tây-Nam; được phong Thượng tướng năm 1980. Năm 1981, khi đang giữ chức Tư lệnh Quân khu 7, ông được phân công kiêm chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Phó trưởng ban, rồi Trưởng ban lãnh đạo chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Năm 1984, ông được phong hàm Đại tướng.

Tháng 12 năm 1986, ông được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ ngày 16 tháng 2 năm 1987[3] đến 10 tháng 8 năm 1991, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, phó bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Năm 1991 là Thường trực Bộ chính trị. Năm 1992, ông được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bầu vào chức vụ Chủ tịch nước. Ông cũng là Ủy viên BCH TƯ khóa IV-VIII, Ủy viên Bộ Chính trị khóa V-VIII, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX.

Ngày 22 tháng 4 năm 2019, vì tuổi đã cao, sức yếu, ông qua đời ở tuổi 98, hưởng thọ tuổi 99 tại nhà Công vụ, Hoàng Diệu, Hà Nội.[4].[2]

Chủ tịch nước

Tháng 9 năm 1992, ông được bầu vào chức vụ mới Chủ tịch nước, thay thế cho một chức danh Tổng thống bầu tập thể. Mặc dù một vị trí này chủ yếu mang tính biểu tượng, chức Chủ tịch nước trở nên quan trọng hơn nhiều trong nhiệm kỳ của ông. [5] Vào ngày 23 tháng 9 năm 1992, ông là người kế nhiệm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công và do đó là Chủ tịch nước Việt Nam. Ông giữ chức danh chủ yếu mang tính nghi lễ này cho đến khi đượcTrần Đức Lương thay thế vào ngày 24 tháng 9 năm 1997.

Tướng Lê Đức Anh đã được ghi công với một số giải thưởng, bao gồm Huân chương Sao Vàng và Huân chương Hồ Chí Minh.

Lê Đức Anh được nhiều người coi là (về mặt tư tưởng) là người bảo thủ nhất trong số ba nhà lãnh đạo chính trị trong nhiệm kỳ của mình. [5] Thủ tướng Võ Văn Kiệt được liên kết với phe cải cách [6] và do đó thường không đồng ý với Lê Đức Anh. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười thì linh hoạt hơn về mặt tư tưởng và được coi là đại diện cho sự trung dung giữa Anh và Kiệt, nhưng dường như có xu hướng bảo thủ. [7]

Sự phản đối của ông đối với tham vọng cải cách kinh tế của Kiệt là một phần của sự cạnh tranh lâu dài giữa hai người. Năm 1991, Lê Đức Anh ủng hộ Đỗ Mười nhằm ứng cử cương vị lãnh đạo đảng chống lại Võ Văn Kiệt . [8] Phe của ông Kiệt sau đó đã lan truyền tin đồn về những hành động sai trái được cho là có liên quan đến Lê Đức Anh trong thời gian ông ở Campuchia. [8]

Từ chức

Vào giữa tháng 11 năm 1996, Lê Đức Anh phải nhập viện sau một lần đột quỵ lớn. [9] Điều này xảy ra vào thời điểm phe cải cách mà ông phản đối đang suy tàn và trong một thời gian, bệnh của ông dường như thay đổi động lực trong giới lãnh đạo chính trị, làm suy yếu phe bảo thủ và khôi phục lại xu hướng cải cách. [8] Tuy nhiên, lãnh đạo Đảng Đỗ Mười đã lãnh đạo một cuộc phản công chống lại xu hướng cải cách, cảnh báo về sự nguy hiểm của 'nền kinh tế thị trường hiện tại'. Phe bảo thủ đã tăng thêm động lực khi Lê Đức Anh bất ngờ hồi phục vào tháng 4 năm 1997. [8] Ông từ chức chủ tịch nước vào tháng 9 năm 1997 sau Đại hội Đảng Cộng sản, và được Trần Đức Lương thay thế. Ông là Cố vấn của Trung ương Đảng từ tháng 12 năm 1997 - 2001.

Nghỉ hưu và qua đời

Từ tháng 9 năm 1997, ông nghỉ chức vụ Chủ tịch nước, sau đó trở thành Cố vấn Trung ương Đảng. Đến năm đến tháng 4 năm 2001, ông chính thức nghỉ hưu.

Ông qua đời vào hồi 20 giờ 10 phút, ngày 22 tháng 4 năm 2019 tại nhà Công vụ, số 5A, phố Hoàng Diệu, Thành phố Hà Nội.

Lịch sử thụ phong quân hàm

Năm thụ phong 1958 1974 1980 1984
Quân hàm Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg Vietnam People's Army Lieutenant General.jpg Vietnam People's Army Colonel General.jpg Vietnam People's Army General.jpg
Cấp bậc Đại tá Trung tướng

(phong vượt cấp)

Thượng tướng Đại tướng

Phong tặng

Đại tướng Lê Đức Anh được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất,... Năm 2008, ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tặng Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Năm 2013, ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.Năm 2018,ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tăng Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng tại bệnh viện quân đội 108 [1][10]

Gia đình

Ông lập gia đình lần đầu với bà Phạm Thị Anh (tự Bảy Anh, sinh năm 1925, mất 2011).[11][12] Bà Phạm Thị Anh là con của một điền chủ nhỏ ở huyện Bến Cát, Bình Dương. Ông và bà có với nhau 2 người con. Người con gái đầu mất hai ngày sau khi sinh do sinh thiếu tháng và phải chạy giặc. Người con gái thứ 2 tên Lê Xuân Hồng sinh năm 1951 ở xã An Tây, huyện Bến Cát[13], là Tiến sĩ tâm lý học, nguyên là Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm mẫu giáo Trung ương 3 (nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh), nay đã nghỉ hưu.[khi nào?][11] Sau hiệp định Geneva 1954, ông tập kết ra Bắc còn bà vẫn ở lại miền Nam. Sau khi ra Bắc, trong cuộc "chỉnh huấn, chỉnh quân" do cố vấn Trung Quốc chỉ đạo, ông bị kiểm điểm nặng nề do lấy vợ thuộc thành phần tư sản, địa chủ và phải tuyên bố "ly khai với gia đình vợ".[12] Ở miền Nam, bà Bảy Anh nhận được tin này nhưng không đi bước nữa. Từ đó đến khi bà Bảy Anh mất ông và bà chưa bao giờ gặp lại nhau.[12]

Năm 1956 ông kết hôn với bà Võ Thị Lê (sinh năm 1928, tại xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam - mất ngày 18 tháng 11 năm 2016 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội.[14] Bà Lê là bác sĩ y khoa, công tác tại Bệnh viện Việt Xô Hà Nội. Bà Lê có một con gái với chồng trước tên là Huỳnh Thị Lệ Hạnh, sinh năm 1950, là kỹ sư thông tin, cán bộ hàng không, nay đã nghỉ hưu.[11] Ông Lê Đức Anh và bà Võ Thị Lê có với nhau 2 người con. Người con đầu là Lê Mạnh Hà (sinh năm 1957), nguyên là Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, người con gái thứ 2 ông cũng đặt tên là Lê Xuân Hồng, sinh năm 1959, Cử nhân kinh tế, nguyên là cán bộ ngành hải quan Thành phố Hồ Chí Minh, nay đã nghỉ hưu. Các con của ông đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.[11][12]

Câu nói

Tham khảo

  1. ^ a ă â Trao tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho đồng chí Lê Đức Anh, Báo điện tử Chính phủ
  2. ^ a ă Hoàng Thùy - Viết Tuân (22 tháng 4 năm 2019). “Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh từ trần”. VnExpress. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  3. ^ Nghị quyết 782/ NQ/HĐNN7 năm 1987.
  4. ^ Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh từ trần Báo điện tử Chính phủ
  5. ^ a ă Bolton 1999, 176
  6. ^ Bolton 1999, tr. 182
  7. ^ Bolton 1999, 182-83
  8. ^ a ă â b Bolton 1999, 187
  9. ^ Mydans, Seth (20 tháng 12 năm 1996). “Domino Effect at the Top Is Looming for Vietnam”. The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010. 
  10. ^ “Trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho Đại tướng Lê Đức Anh”. VOV. 29 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2017. 
  11. ^ a ă â b “ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG (HỒI KÝ) (NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - HÀ NỘI 2015), Chương 11”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. 12 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  12. ^ a ă â b Sách Bên Thắng Cuộc, Phần 2 Quyền Bính, Chương XVIII: Tam nhân phân quyền
  13. ^ Hoàng Hương (10 tháng 5 năm 2018). “Nữ tiến sĩ hai lần từ chối làm thứ trưởng”. Báo Tuổi trẻ. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2018. 
  14. ^ “Phu nhân nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh từ trần”. Báo điện tử Thừa Thiên Huế. 20 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  15. ^ Ngọc Quang (9 tháng 2 năm 2012), Đại tướng Lê Đức Anh: "Sử dụng bộ đội để cưỡng chế là tuyệt đối sai", Báo Giáo dục Việt Nam.

Nguồn tham khảo

  • Bolton, Kent (1999): "Domestic Sources of Vietnam's Foreign Policy: Normalizing Relations with the United States". in Thayer, Carlyle A., Amer, Ramses (ed.): Vietnamese Foreign Policy in Transition. Institute of Southeast Asian Studies, Singapore
  • Thayer, Carlyle A. (1999): "Vietnamese Foreign Policy: Multilateralism and the Threat of Peaceful Evolution". in Thayer, Carlyle A., Amer, Ramses (1999): Vietnamese Foreign Policy in Transition. Institute of Southeast Asian Studies, Singapore
  • Wurfel, David (1999): "Between China and ASEAN: The Dialectics of Recent Vietnamese Foreign Policy". in Thayer, Carlyle A., Amer, Ramses (ed.): Vietnamese Foreign Policy in Transition. Institute of Southeast Asian Studies, Singapore

Liên kết ngoài