Thừa Thiên - Huế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thừa Thiên - Huế
Tỉnh
Langco.jpg
Bãi biển Lăng Cô
Địa lý
Tọa độ: 16°27′49″B 107°35′05″Đ / 16,463744°B 107,58482°Đ / 16.463744; 107.58482Tọa độ: 16°27′49″B 107°35′05″Đ / 16,463744°B 107,58482°Đ / 16.463744; 107.58482
Diện tích 5.033,2 km²[1]
Dân số (2012)  
 Tổng cộng 1.115.523 người[1]
 Thành thị 51.7 %
 Nông thôn 48.3 %
 Mật độ 222 người/km²
Dân tộc Việt, Tà Ôi, Cơ Tu, Bru – Vân Kiều,[2] Hoa
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Bắc Trung Bộ
Tỉnh lỵ Thành phố Huế
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Ngọc Thiện
 Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Ngọc Thiện
Phân chia hành chính 1 thành phố, 2 thị xã, 6 huyện
Mã hành chính VN-26
Mã bưu chính 53xxxx
Mã điện thoại 54
Biển số xe 75
Website http://www.thuathienhue.gov.vn/

Thừa Thiên - Huế là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam có tọa độ ở 16-16,8 Bắc và 107,8-108,2 Đông. Diện tích của tỉnh là 5.053,990 km², dân số theo kết quả điều tra tính đến năm 2012 là 1.115.523 người [3].

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều sông Hương

Thừa Thiên-Huế giáp tỉnh Quảng Trị về phía bắc, biển Đông về phía đông, thành phố Đà Nẵng về phía đông nam, tỉnh Quảng Nam về phía nam, dãy Trường Sơn và các tỉnh SaravaneSekong của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào về phía tây. Thừa Thiên-Huế cách Hà Nội 654 km, Nha Trang 627 km và Thành phố Hồ Chí Minh 1.071 km.

Phần lớn núi rừng nằm ở phía tây. Những ngọn núi đáng kể là: núi Động Ngai cao 1.774m, Động Truồi cao 1.154m, Co A Nong cao 1.228m, Bol Droui cao 1.438m, Tro Linh cao 1.207m, Hói cao 1.166m (nằm giữa ranh giới tỉnh Quảng Nam), Cóc Bai cao 787m, Bạch Mã cao 1.444m, Mang cao 1.708m, Động Chúc Mao 514m, Động A Tây 919m.

Sông ngòi thường ngắn nhưng lại lớn về phía hạ lưu. Những sông chính là Ô Lâu, Rào Trang, Rào Lau, Rào Mai, Tả Trạch, Hữu Trạch, An Cựu, Nước Ngọt, Lăng Cô, Bồ, Rau Bình Điền, Đá Bạc, Vân Xá, Truồi,... Hai cửa biển quan trọng là cửa Thuận An và cửa Tư Hiền.

Tọa độ[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông. Phần đất liền Thừa Thiên Huế có tọa độ địa lý như sau:

  • Điểm cực Bắc: 16°44'30 vĩ Bắc và 107°23'48 kinh Đông tại thôn Giáp Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền.
  • Điểm cực Nam: 15°59'30 vĩ Bắc và 107°41'52 kinh Đông ở đỉnh núi cực nam, xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông.
  • Điểm cực Tây: 16°22'45 vĩ Bắc và 107°00'56 kinh Đông tại bản Paré, xã Hồng Thủy, huyện A Lưới.
  • Điểm cực Đông: 16°13'18 vĩ Bắc và 108°12'57 kinh Đông tại bờ phía Đông đảo Sơn Chà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc.

Giới hạn, diện tích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phía Bắc, từ Đông sang Tây, Thừa Thiên Huế trên đường biên dài 111,671 km tiếp giáp với các huyện Hải Lăng, Đakrông, tỉnh Quảng Trị.
  • Từ mặt Nam, tỉnh có biên giới chung với huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam dài 56,66 km, với huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng dài 55,82 km.
  • Ở phía Tây, ranh giới tỉnh (cũng là biên giới quốc gia) kéo dài từ điểm phía Bắc (ranh giới tỉnh Thừa Thiên Huế với tỉnh Quảng Trị và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) đến điểm phía Nam (ranh giới tỉnh Thừa Thiên Huế với tỉnh Quảng Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) dài 87,97 km.
  • Phía Đông, tiếp giáp với biển Đông theo đường bờ biển dài 120 km.
  • Phần đất liền, Thừa Thiên Huế có diện tích 503.320,52ha (theo niên giám thống kê năm 2010), kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nơi dài nhất 120 km (dọc bờ biển), nơi ngắn nhất 44 km (phần phía Tây); mở rộng chiều ngang theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với nơi rộng nhất dọc tuyến cắt từ xã Quảng Công (Quảng Điền), thị trấn Tứ Hạ (Hương Trà) đến xã Sơn Thủy - Ba Lé (A Lưới) 65 km và nơi hẹp nhất là khối đất cực Nam chỉ khoảng 2–3 km.
  • Vùng nội thủy: rộng 12 hải lý
  • Vùng đặc quyền kinh tế mở rộng đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
  • Trên thềm lục địa biển Đông ở về phía Đông Bắc cách mũi cửa Khém nơi gần nhất khoảng 600m có đảo Sơn Chà. Tuy diện tích đảo không lớn (khoảng 160ha), nhưng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng đối với nước ta nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng.
  • Thừa Thiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc-Nam, trục hành lang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo đường 9. Thừa Thiên Huế ở vào vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta. Thừa Thiên Huế cách Hà Nội 660 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.080 km.
  • Bờ biển của tỉnh dài 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân Mây với độ sâu 18 *20m đủ điều kiện xây dựng cảng nước sâu với công suất lớn, có cảng hàng không Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu Thừa Thiên-Huế gần giống như Quảng Trị với kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa. Những tháng đầu năm có nắng ấm. Thỉnh thoảng lụt vào tháng 5. Các tháng 6, 7, 8 có gió mạnh. Mưa lũ và có gió đông vào tháng 9, 10. Tháng 11 thường có lụt. Cuối năm mưa kéo dài.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Ga Huế, Tp.Huế

Quốc lộ 1, 14đường sắt Bắc-Nam nối Thừa Thiên-Huế với các tỉnh khác. Phía tây có cửa khẩu Hồng Vân-A Đớt nằm ở huyện A Lưới. Thành phố Huế cách sân bay quốc tế Phú Bài - Thị xã Hương Thuỷ khoảng 15 km, cảng Thuận An 12 km và cảng nước sâu Chân Mây 50 km.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thừa Thiên-Huế có 06 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố, với 152 xã, phường, thị trấn.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Tên Diện tích, km² Dân số
Thành phố
Thành phố Huế 83,30 335.575
Huyện (6)
Phú Vang 280,3 170.380
Quảng Điền 163,1 82.811
A Lưới 1.232,73 42.521
Tên Diện tích, km² Dân số
Nam Đông 651,95 22.566
Phong Điền 953,8 88.090
Phú Lộc 729,56 134.322
Thị xã (2)
Hương Thủy[4] 458,17 96.525
Hương Trà[5] 518,53 118.354
  • Năm 1989 tái lập tỉnh Thừa Thiên-Huế có thành phố Huế và 4 huyện: A Lưới, Hương Điền, Hương Phú và Phú Lộc.
  • Năm 1990 huyện Hương Điền chia thành 3 huyện: Hương Trà, Phong Điền và Quảng Điền; huyện Hương Phú chia thành 2 huyện: Hương Thủy và Phú Vang; huyện Phú Lộc chia thành 2 huyện: Phú Lộc (mới) và Nam Đông.
  • Năm 2010 huyện Hương Thủy được nâng cấp thành thị xã.
  • Ngày 15/11/2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết 99/NQ-CP thành lập thị xã Hương Trà thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế trên cơ sở toàn bộ huyện Hương Trà.

Hiện nay, Ủy ban nhân dân Tỉnh Thừa Thiên Huế đang lập đề án đưa cả tỉnh thành thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2015. Ngày 11 tháng 12 năm 2008, Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế đã thông qua nghị quyết Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Thừa Thiên - Huế đến năm 2025 với mục tiêu đề ra là xây dựng tỉnh Thừa Thiên - Huế trở thành đô thị loại I trực thuộc trung ương.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ hành chính Việt Nam Cộng hòa cho thấy địa giới tỉnh Thừa Thiên năm 1967.

Thừa Thiên Huế, Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế là vùng đất có lịch sử lâu đời. Những phát hiện khảo cổ học gần đây cho thấy rõ dấu vết của người xưa trên mảnh đất này. Những di vật như rìu đá, đồ gốm được tìm thấy ở Phụ Ổ, Bàu Ðưng (Hương Chữ, Hương Trà) cho phép khẳng định đây là các di tích có niên đại cách đây trên dưới 4.000 năm. Những chiếc rìu đá được phát hiện trên nhiều địa bàn khác nhau, đặc biệt tại các xã Hồng Bắc, Hồng Vân, Hồng Hạ, Hồng Thủy, Bắc Sơn (A Lưới); Phong Thu (Phong Ðiền) đã chứng minh sự có mặt của con người ở vùng đất này trên dưới 5.000 năm. Di tích khảo cổ quan trọng gắn liền với nền văn hóa Sa Huỳnh được tìm thấy lần đầu tiên tại Thừa Thiên Huế năm 1987 là di tích Cồn Ràng (La Chữ, Hương Chữ, Hương Trà) nói lên rằng chủ nhân của nền văn hóa này đã đạt đến trình độ cao trong đời sống vật chất lẫn tinh thần cách đây trên dưới 2.500 năm. Dấu ấn này còn được tìm thấy ở Cửa Thiềng năm 1988 (Phú Ốc, Tứ Hạ, Hương Trà). Cùng với văn hóa Sa Huỳnh, tại Thừa Thiên Huế còn có sự hiện diện của văn hóa Ðông Sơn. Năm 1994, trống đồng loại một đã được phát hiện ở Phong Mỹ, Phong Ðiền. Ðây là một trong những di vật độc đáo của nền văn hóa Việt cổ.

Các cứ liệu xưa cho biết, từ xa xưa Thừa Thiên Huế từng là địa bàn giao tiếp của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, cùng cư trú và cùng phát triển.. Trong thời kỳ phát triển của Văn Lang - Âu Lạc, tương truyền Thừa Thiên Huế vốn là một vùng đất của bộ Việt Thường. Trong thời kỳ nước Nam Việt lại thuộc về Tượng Quận. Năm 116 trước Công nguyên, quận Nhật Nam ra đời thay thế cho Tượng Quận. Thời kỳ Bắc thuộc, trong suốt thời gian dài gần 12 thế kỷ, vùng đất này là địa đầu phía Bắc của Vương quốc Chămpa độc lập. Sau chiến thắng Bạch Ðằng lịch sử của Ngô Quyền (năm 938), Ðại Việt trở thành quốc gia độc lập và qua nhiều thế kỷ phát triển, biên giới Ðại Việt đã mở rộng dần về phía Nam. Năm 1306, công chúa Huyền Trân em gái vua Trần Anh Tông, "nước non ngàn dặm ra đi" làm dâu vương quốc Chămpa, vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Rí (Lý) để làm sính lễ. Năm sau, vua Trần đổi hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị. Thừa Thiên Huế trở thành địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của phương Ðông với nền văn hóa của các cư dân bản địa.

Từ khi trở về với Đại Việt, Châu Hóa và vùng đất Thuận Hóa đã từng là nơi ghi dấu những công cuộc khai phá mở làng, lập ấp, nơi Đặng Tất xây dựng căn cứ kháng chiến chống quân Minh xâm lược, nơi cung cấp "kho tinh binh" cho Lê Lợi giải phóng đất nước.

Bản đồ Kinh thành Huế và một số di tích.

Với lời sấm truyền "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (một dải Hoành sơn, có thể yên thân muôn đời); năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vào trấn giữ xứ Thuận Hoá mở đầu cho cơ nghiệp của các chúa Nguyễn. Sự nghiệp mở mang của 9 đời chúa NguyễnÐàng Trong đã gắn liền với quá trình phát triển của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân. Hơn ba thế kỷ từ khi trở về với Ðại Việt, Thuận Hóa là vùng đất của trận mạc, ít có thời gian hòa bình nên chưa có điều kiện hình thành được những trung tâm sinh hoạt sầm uất theo kiểu đô thị. Sự ra đời của thành Hóa Châu (khoảng cuối TK XV, đầu TK XVI) có lẽ chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn với tư cách là một tòa thành phòng thủ chứ chưa phải là nơi sinh hoạt đô thị của xứ Thuận Hóa thời ấy. Mãi cho đến năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Huế sau này. Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi, đổi là Phú Xuân, ở vị trí Tây Nam trong kinh thành Huế hiện nay, tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát đạt của xứ Ðàng Trong. Chỉ trừ một thời gian ngắn (1712 - 1738) phủ chúa dời ra Bác Vọng, song khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân nhưng dựng ở "bên tả phủ cũ", tức góc Ðông Nam Kinh thành Huế hiện nay. Sự nguy nga bề thế của Ðô thành Phú Xuân dưới thời Nguyễn Phúc Khoát đã được Lê Quý Ðôn mô tả trong "Phủ Biên Tạp Lục" năm 1776 và trong Ðại Nam Nhất Thống Chí, với tư cách là một đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ Sông Hương, từ Kim Long - Dương Xuân đến Bao Vinh - Thanh Hà. Phú Xuân là thủ phủ của xứ Ðàng Trong (1687-1774); rồi trở thành Kinh đô của nước Ðại Việt thống nhất dưới triều đại Quang Trung (1788 - 1801) và cuối cùng là Kinh đô của nước Việt Nam gần 1,5 thế kỷ dưới triều đại nhà Nguyễn (1802 - 1945). Phú Xuân-Huế, Thừa Thiên Huế đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa nghệ thuật quan trọng của đất nước từ những thời kỳ lịch sử ấy.

Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Ðà Nẵng, mở đầu cho quá trình xâm lược của tư bản phương Tây, rồi của Mỹ vào Việt Nam. Thừa Thiên Huế trải qua hai cuộc kháng chiến chống ngọai xâm giành hòa bình, độc lập và thống nhất Tổ quốc với biết bao chiến tích và sự tích anh hùng.

Huế năm 1967.

Từ những năm thuộc Pháp cho đến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất 1975, Thừa Thiên Huế liên tục diễn ra những cuộc đấu tranh yêu nước mạnh mẽ, quyết liệt. Mãnh đất này là nơi tụ hội của các nhà cách mạng trên đường cứu nước. Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh cùng nhiều nhân sĩ yêu nước khác đã từng có mặt. Cũng tại đây, người thanh niên Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã sống gần 10 năm thời niên thiếu và ra đi vào Nam tìm đường cứu nước. Năm 1916, Việt Nam Quang Phục Hội tổ chức khởi nghĩa trên qui mô nhiều tỉnh, vua Duy Tân xuất giá tham gia. Tỉnh bộ Ðông Dương Cộng Sản Ðảng Thừa Thiên Huế thành lập đầu tháng 7-1929. Tỉnh ủy lâm thời Ðông Dương Cộng sản Liên đoàn ra đời đầu năm 1930. Và tháng 4-1930, thống nhất hai tổ chức thành Ðảng bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế, lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến giải phóng dân tộc. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, nhân dân Thừa thiên Huế vinh dự tự hào vùng dậy với khí thế "Cách mạng Mùa thu" trực tiếp lật đổ triều đại nhà Nguyễn cuối cùng. Ngày 30 -8-1945, nhân dân Thừa Thiên Huế thay mặt cả nước chứng kiến lễ thoái vị của vua Bảo Ðại, ngôi vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, những địa danh Dương Hòa, Hòa Mỹ...vang dội khắp cả nước, từng ghi dấu bao chiến công oanh liệt vì độc lập tư do của Tổ quốc.

Văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Dàn nhạc ca Huế trên sông, Huế.

Thừa Thiên Huế là trung tâm văn hoá lớn và đặc sắc của Việt Nam. Thừa Thiên Huế có 2 di sản văn hoá thế giới là:

Hiện nay, tỉnh đang xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và bản sắc văn hoá Huế gắn với bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền thống, là khâu đột phá để phát triển du lịch. Nghiên cứu, từng bước hoàn thiện bản sắc văn hoá Huế, đặc trưng văn hoá Huế để xây dựng Huế trở thành trung tâm văn hoá đặc sắc của Việt Nam; xem đây là lợi thế so sánh lâu dài để phát triển Huế, làm cho Huế ngày càng đặc sắc, thúc đẩy các ngành du lịch, dịch vụ phát triển. Trong đó quy hoạch, xây dựng hệ thống công viên, tượng đài, các công trình văn hoá, trọng tâm là: Trung tâm hội nghị, Bảo tàng Lịch sử Cách mạng, Bảo tàng thiên nhiên các tỉnh Duyên hải miền Trung, Trung tâm Điện ảnh, Địa đạo Khu ủy Trị Thiên. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tập trung đầu tư hoàn thành cơ bản trùng tu Đại Nội và một số di tích quan trọng để xứng đáng là trung tâm du lịch đặc sắc của Việt Nam. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của các kỳ Festival, các hoạt động đối ngoại để tăng cường quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam, văn hoá Huế, nhất là Nhã nhạc Cung đình, quần thể di tích Cố đô Huế, vịnh đẹp Lăng Cô.

Kinh Tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thừa Thiên-Huế là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền trung. Nền kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng khá với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm thời kỳ 2001 - 2008 đạt 11%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp (năm 2008, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 36,5%, ngành dịch vụ 45,3%, ngành nông nghiệp giảm còn 18,2%). Thu ngân sách tăng bình quân đạt 18,3%/năm. Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP đạt trên 12%, xếp thứ 20/63 tỉnh, thành cả Việt Nam. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nằm trong nhóm 20 tỉnh, thành dẫn đầu toàn quốc. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ vị thứ 15 (năm 2007) đã vươn lên đứng thứ 10 toàn quốc trong năm 2008. GDP bình quân đầu người năm 2009 vượt qua 1.000 USD/năm.

Thừa Thiên Huế quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá. Thành phố Huế vừa mang dáng dấp hiện đại, vừa mang nét đẹp cổ kính với di sản văn hoá thế giới, đóng vai trò hạt nhân đô thị hoá lan toả và kết nối với các đô thị vệ tinh. Môi trường thu hút đầu tư lành mạnh và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư có năng lực. Hạ tầng giao thông ngày càng hiện đại, chống được chia cắt vùng miền, tạo ra động lực phát triển giữa nông thôn và thành thị. Năng lực sản xuất mới hình thành và mở ra tương lai gần sẽ có bước tăng trưởng đột phá: Phía Bắc có các khu công nghiệp Phong Điền, Tứ Hạ, xi măng Đồng Lâm; phía Nam có khu công nghiệp Phú Bài, khu kinh tế-đô thị Chân Mây-Lăng Cô sôi động; phía Tây đã hình thành mạng lưới công nghiệp thuỷ điện Tả Trạch, Hương Điền, Bình Điền, A Lưới, xi măng Nam Đông; phía Đông phát triển mạnh khai thác và nuôi trồng thuỷ sản và Khu kinh tế tổng hợp Tam Giang-Cầu Hai.

Thừa Thiên Huế được Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam Khoá X ra Kết luận số 48-KL/TW về "Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020, trong đó xây dựng Thừa Thiên Huế sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới"[cần dẫn nguồn].

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thừa Thiên - Huế là trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước với 3 đơn vị đang được nhà nước đầu tư triển khai thực hiện dự án Trung tâm Y tế chuyên sâu khu vực miền Trung - Tây nguyên và cả nước là: Bệnh viện Trung ương Huế, Trường Đại học Y Dược Huế và Trung tâm Kiểm nghiệm dược phẩm, hóa mỹ phẩm Trung ương.

Trong kết luận 48 của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về phương hướng "Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020" có nêu rõ[6]:

  • Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, có cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, tiên tiến; là trung tâm khoa học, công nghệ cao về y học, ngang tầm các trung tâm y tế lớn của cả nước và khu vực Đông Nam Á.
  • Giảm các yếu tố nguy cơ gây bệnh, giảm tỷ lệ mắc bệnh và chết, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ của người dân, xây dựng được tập quán tốt về vệ sinh phòng bệnh, mọi người đều được sống trong môi trường và cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần.
  • Xây dựng, phát triển ngành y tế trở thành ngành dịch vụ chất lượng cao, đóng góp lớn vào quá trình phát triển toàn diện con nguời, nâng cao mức sống, đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững.
  • Xây dựng, phát triển hệ thống tổ chức y tế trên địa bàn theo hướng Thừa Thiên Huế là một trong 3 Trung tâm dịch vụ y tế chất lượng cao của cả nước.

Các bệnh viện trên địa bàn tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bệnh viện Trung ương Huế (3000 giường)
  • Bệnh viện quốc tế Huế (200 giường, sẽ mở rộng lên 500 giường)
  • Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế (700 - 800 giường).
  • Bệnh viện Đa khoa Tỉnh (500 giường)
  • Bệnh viện Đa Khoa Hoàng Viết Thắng (90 giường).
  • Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ (80 giường).
  • Bệnh viện Ngoại Khoa Nguyễn Văn Thái (30 giường).
  • Bệnh viện Giao thông vận tải Huế
  • Bệnh viện y học cổ truyền
  • Bệnh viện Điều Dưỡng và Phục hồi chức năng
  • Bệnh viện Răng Hàm Mặt Huế
  • Bệnh viện Mắt Huế
  • Bệnh viện Tâm thần
  • Bệnh viện Đa Khoa Chân Mây
  • Bệnh viện Bình Điền
  • Bệnh viện chấn thương chỉnh hình - phẩu thuật tạo hình
  • Bệnh viện Quân Y 268
  • Bệnh viện chấn thương chỉnh hình - điều dưỡng phục hồi chức năng (Đang xây dựng)

Giáo dục - Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Quốc Học Huế.

Thừa Thiên Huế từ lâu đã được biết đến là một trung tâm giáo dục đào tạo lớn của khu vực miền trung và cả nước.

  • Đại học Huế có bề dày lịch sử trên 50 năm, là một trung tâm đào tạo đại học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, có quy mô đào tạo lớn nhất khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Đại học Huế hiện là đại học vùng và là đại học trọng điểm của cả nước; tỉnh Thừa Thiên Huế đã và đang đầu tư xây dựng Đại học Huế trở thành Đại học Quốc gia trước năm 2015 với các thiết chế của trung tâm đào tạo đa ngành, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đào tạo đại học và sau đại học cho khu vực miền Trung và cả nước.
  • Mạng lưới trường học từ mầm non đến Trung học phổ thông ở Thừa Thiên Huế rộng khắp trên địa bàn với các loại hình công lập, dân lập, tư thục, quốc tế được phân bố theo điều kiện phù hợp với thành thị, nông thôn, miền núi và gắn với địa bàn dân cư. Trong đó trường THPT Chuyên Quốc Học đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định xây dựng thành một trong ba trường Trung học phổ thông trọng điểm chất lượng cao của cả nước.
  • Mạng lưới giáo dục thường xuyên với các Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm kỹ thuật thực hành hướng nghiệp và Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) đang hoạt động ở các xã/phường, thị trấn có hiệu quả, góp phần vào thực hiện mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, bồi dưỡng kiến thức, chuyển giao công nghệ và đào tạo nghề cho người lao động, đào tạo tại chức...[7]

Các trường đại học - cao đẳng - trung cấp trên địa bàn:

  • Đại học Huế
  • Đại Học Y Dược Huế
  • Đại học sư phạm HUế
  • Đại học khoa học Huế
  • Đại học nông lâm Huế
  • Đại học kinh tế Huế
  • Đại học Ngoại Ngữ Huế
  • Đại học Nghệ Thuật Huế
  • Học viện Âm Nhạc Huế
  • Trường Đại Học Phú Xuân
  • Phân viện học viện hành chính Quốc Gia
  • Phân viện trường đại học tài chính marketing tại Huế
  • Trung tâm bồi dưỡng và đào tạo cán bộ ngành tài chính
  • Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực VietinBank tại Huế
  • Học viện phật giáo Huế
  • Khoa luật - đại học Huế
  • Khoa du lịch đại học Huế
  • Khoa giáo dục thể chất - đại học huế
  • Viện Tài nguyên và Môi trường - Đại hoc Huế
  • Trường Cao đẳng Y tế Huế
  • Trường Cao đẳng Sư phạm Huế
  • Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế
  • Trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế
  • Trường Cao đẳng nghề Nguyễn Tri Phương
  • Trường Cao Đẳng Nghề Thừa Thiên Huế
  • Phân viện Cao đẳng Xây dựng công trình đô thị tại Huế
  • Trường Trung học Giao thông vận tải Huế

Các vùng,thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Qua các kì Festival và nhiều hoạt động hợp tác,ngày càng nhiều thành phố, tỉnh, vùng kết nghĩa với Thừa Thiên-Huế như:

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Biểu đồ gió Quảng Trị Biểu đồ gió
Salavan B Biển Đông
T    Thừa Thiên-Huế    Đ
N
Xekong Quảng Nam Đà Nẵng
Enclave: {{{enclave}}}