Bước tới nội dung

Thanh Hải (nhà thơ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nhà thơ
Thanh Hải
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên khai sinh
Phạm Bá Ngoãn
Ngày sinh
4 tháng 11 năm 1930
Nơi sinh
Phong Điền, Thừa Thiên – Huế, Liên bang Đông Dương
Mất
Ngày mất
15 tháng 12, 1980(1980-12-15) (50 tuổi)
Nơi mất
Huế, Việt Nam
Giới tínhnam
Quốc tịch Việt Nam
Đảng chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam
Nghề nghiệpnhà thơ
Lĩnh vựcvăn học
Sự nghiệp văn học
Tác phẩm
  • Những đồng chí kiên trung
  • Tuyển thơ Thanh Hải
Giải thưởngDanh sách
Giải thưởng
Giải thưởng Nhà nước 2001
Văn học Nghệ thuật

Thanh Hải (tên thật Phạm Bá Ngoãn; 1930-1980) là nhà thơ Việt Nam, được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.

Nhà thơ Thanh Hải sinh ngày 4 tháng 11 năm 1930 tại xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.[1]

Ông xuất thân trong một gia đình trí thức nghèo. Khi 17 tuổi, Thanh Hải đã tham gia cách mạng ở huyện Hương Thủy và làm chính trị viên cho Đoàn văn công Thừa Thiên – Huế.[2]

Giai đoạn 1954 - 1964, ông làm cán bộ tuyên huấn ở tỉnh. Trong các năm 1964 - 1967, ông phụ trách báo Cờ giải phóng của thành phố Huế.

Từ sau năm 1975, ông làm Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, đồng thời là Ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.

Ông qua đời vào ngày 15 tháng 12 năm 1980 do căn bệnh hiểm nghèo xơ gan cổ trướng.

Sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Hải có 5 tập thơ, gồm: Ánh mắt, Người đồng chí trung kiên, Huế mùa xuân, Mùa xuân nho nhỏ và Mưa xuân đất này.

Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được ông viết lúc đang nằm Bệnh viện Trung ương Huế trước lúc qua đời một thời gian.[3]

Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật với các tập thơ: Những đồng chí kiên trung, Tuyển thơ Thanh Hải.

Tác phẩm chính

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Ánh Mắt (1956)
  • Những đồng chí trung kiên (1962)
  • Huế mùa xuân (tập 1-1970, tập 2-1975)
  • Mùa xuân nho nhỏ (11/1980) (được nhạc sĩ Trần Hoàn phổ nhạc tháng 12/1980)
  • Mưa xuân đất này (1982).

Nhận xét

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001 (truy tặng)

Giải thưởng văn học

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu (1965)
  • Giải nhất cuộc thi thơ của tuần báo Thống nhất (1959).
  • Giải nhì cuộc thi thơ của tuần báo Thống nhất (1962).[2]

Gia đình

[sửa | sửa mã nguồn]

Cha ông làm nghề dạy học, mẹ ông là nông dân. Ông có hai em trai là Phạm Bá Chất và Phạm Bá Liên đều tham gia hoạt động cách mạng.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Nhà thơ Thanh Hải (1930-1980)". Bảo tàng Văn học Việt Nam. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
  2. ^ a b Trang Hiền (ngày 15 tháng 12 năm 2020). "Tưởng nhớ nhà thơ Thanh Hải". Huế ngày nay. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
  3. ^ Ngô Minh (ngày 31 tháng 8 năm 2008). "Nhớ anh Thanh Hải". Tiền phong. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
  4. ^ Từ điển văn học (bộ mới), trang 1632.

Sách tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Trần Hữu Tá, mục từ Thanh Hải, in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản thế giới, 2004.
  • Phong Lê, bài viết về Thanh Hải in trong Nhà thơ Việt Nam hiện đại. Viện văn học tổ chức biên soạn, nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1984 tại Hà Nội.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]