Sekong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sekong
ເຊກອງ
—  Tỉnh  —
Lawae082143a.jpg
Map of Sekong Province
Bản đồ tỉnh Sekong
Map showing Sekong of Attapeu Province in Laos
Tỉnh Sekong trên bản đồ
Sekong trên bản đồ Thế giới
Sekong
Sekong
Quốc Gia  Lào
Tỉnh lị Sekong
Diện tích
 • Tổng cộng 7,665 km2 (2,959 mi2)
Dân số (Điều tra năm 2015)
 • Tổng cộng 113,048
 • Mật độ 15/km2 (38/mi2)
Múi giờ UTC+07
Mã ISO 3166 LA-XE

Sekong (còn được gọi là Xekong, Tiếng Lào là ເຊກອງ) là một tỉnh của Lào, nằm ở đông nam quốc gia. Tỉnh có diện tích nhỏ với dân cư thưa thớt. Đường giao thông hạn chế. Kinh tế chậm phát triển phụ thuộc nhiều vào kinh tế rừng. Phật giáo và các cơ sở tôn giáo không hiện diện nhiều tại tỉnh này.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sekong được thành lập vào năm 1984, từ khu vực địa lý tách ra từ tỉnh SalavanAttapeu. Sau khi trở thành một tỉnh riêng, nó đã trở thành cộng đồng đa dạng sắc tộc nhất ở Lào với 14 dân tộc và tổng dân số là 85.000 người. Vì những nhóm này không phải là người Phật giáo, nên không có nhiều chùa chiền trong tỉnh. Họ duy vật hơn và chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Dưới chế độ cộng sản, tỉnh đã được tạo ra để mang lại lợi ích cho các nhóm dân tộc ít người sinh sống tại địa phương. Tuy nhiên, lợi thế này dường như đang giảm dần khi các nhóm dân tộc Lào ngày càng chiếm ưu thế cả về chính trị và kinh tế trong bộ máy chính quyền địa phương.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thác Tad Fane trên Cao nguyên Bolevan

Sekong là một tỉnh của Lào, là tỉnh nhỏ thứ hai với diện tích 7.665 km2. Phía Đông giáp [[Việt Nam], tỉnh Attapeu phía nam, tỉnh Salavan ở phía bắc, và tỉnh Champasak ở phía tây. Sekong cũng có qui mô dân số thấp nhất (khoảng 83.000 người) và mật độ dân số thấp nhất cả nước. Sekong được chia thành bốn huyện: Thateng thuộc Cao nguyên Bolaven, Lamam ở đồng bằng vùng đồng bằng, Dakchung và Kaleum ở vùng núi giáp với Việt Nam. Thác Tad Xe Noi nằm cách thị xã Sekong 25 km về phía Nam.

Sông Sekong, chạy giữa tỉnh này, chảy theo hướng Nam rồi đổ sang Campuchia và là một trong số ít sông của Lào có để đi lại bằng thuyền. Tàu thuyền qui mô vừa có thể di chuyển dọc theo các tuyến sông nằm bên rìa cao nguyên Bolaven. Cá heo nước ngọt có thể được nhìn thấy trên sông. Có nhiều thác nước trên dòng chảy của sông; một số thác nổi tiếng là Tad Hia, Tad Faek và Tad Se Noi (hay Tad Hua Khon). Thác nước nổi tiếng nhất là Nam Tok Katamtok nằm trên sông Huay Katam, ở sâu trong rừng thuộc cao nguyên Bolaven. Thung lũng sông Sekong có vùng đồng bằng phì nhiêu với các cánh đồng lúa và vườn cây ăn trái. Rừng nhiệt đới phong phú với rất nhiều loài động thực vật quý hiếm.

Sekong là một trong những vùng hẻo lánh nhất của Lào; thậm chí một số ngôi làng lớn của nó gần như không thể tiếp cận bằng đường bộ trong suốt 6 tháng mùa mưa. Cơ sở hạ tầng kém phát triển. Đặc biệt, các huyện phía đông của Dakchung và Kaleum được đặc trưng bởi địa hình đồi núi chủ yếu là núi đá gồ ghề và khó tiếp cận. Sự cô lập này đồng nghĩa với việc độ che phủ rừng, đa dạng sinh học và truyền thống sắc tộc ít thay đổi hơn trong những năm gần đây so với các vùng khác ở Lào. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỉnh đã trở nên ít bị cô lập hơn, với việc nâng cấp một con đường chính từ thành phố Pakse ven bờ Mê Công, cộng thêm hai tuyến đường chính nối Sekong tới Việt Nam về phía đông. Cơ sở hạ tầng đường bộ được Việt Nam hỗ trợ là một phần trong chiến lược phát triển liên khu vực do chính quyền Việt nam khởi xướng gọi là Sáng kiến ​​Tam giác phát triển, nhằm phát triển mối liên kết giữa Việt Nam với các tỉnh kém phát triển ở Campuchia và Lào.

Các khu bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Cao nguyên Dakchung là Tràm Chim Quan Trọng (IBA). Nó có diện tích 5.140ha và nằm ở độ cao so với mực nước biển từ 800m - 1.400m. Môi trường sống được đặc trưng bởi rừng thông, đồng cỏ, rừng nửa rụng lá, rừng xanh khô, đất ngập mặn và các khu vực cao nguyên. Trong loài chim điển hình gồm "nấm vàng" (Sitta solangiae) được xếp vào nhóm có nguy cơ đe doạ tiệt chủng, trong khi loài Actinodura sodangorum được coi là dễ bị tổn thương. Các loài động vật khác bao gồm các loài rái cá móng vuốt phương Đông (Aonyx cinerea), hổ (Panthera tigris), rùa đầu to (Platysternon megacephalum) '), và các đàn voi châu Á (Elephas maximus).

IBA Sông Xe Sap nằm trong Khu Bảo tồn Đa dạng Sinh học Quốc gia Xe Xap (NBCA); IBA này vượt qua ranh giới 1.335 km2 của NBCA (được thành lập vào tháng 2 năm 1996. IBA và NBCA nằm trên địa phận của hai tỉnh SekongSalavan. NBCA nằm ở độ cao 400m-2,066m và rộng 1.335 km2; Đỉnh cao nhất là Dong Be với độ cao 2.066 m, một phần của dãy Trường Sơn phía nam. Môi trường sống được đặc trưng bởi các khu rừng khác nhau (khô xanh, thông, bán xanh và núi cao) cũng như đồng cỏ. Có hai loài nấm được ghi nhận. Các loài chim đặc trưng là Blyth's kingfisher (Alcedo hercules), crested argus (Rheinardia ocellata), và yellow-billed nuthatch (Sitta solangiae). Các loài động vật hoang dã điển hình khác gồm hai loài linh trưởng và một loài rùa. Có một con đường cấp phối chạy từ Salavan đến Ta-Oy và xa hơn nữa phía đông đến Samuoy là ranh giới phía bắc của NBCA Xe Sap. Tuy nhiên, các con đường nhỏ giúp tiếp cận từ con đường chính đến các làng lại nằm ở phía bắc của NBCA. Phía đông nam của NBCA rất khó tiếp cận. Tuy nhiên, Sông Kông (hoặc Xe Kong, hay Sekong) và hai nhánh của nó là Xe Sap và Xe Lon đều cho phép tàu thuyền di chuyển được. Khu bảo tồn có nhiều thác nước, các vách đá và rhododendrons ở độ cao lớn hơn. Có 43 loại động vật có vú (gồm 18 loài chính), 178 loại chim (18 loài chính), 48 loài bò sát và 33 loài lưỡng cư; các loài động vật hoang dã đáng chú ý là hai loài gấu, serow, lớn hươu cao cổ muntjac, một số lượng lớn hổ và báo. Một loài thực vật đặc biệt là loài Pinus dalatensisKinabaluchloa, một chi tre.

Tràm chim IBA Phou Ahyon có diện tích 148.900 héc-ta. Độ cao IBA này thay đổi từ 400m-2.193m so với mực nước biển. Trong khu vực có núi Phou Ahyon cao 2.193m, là dãy núi cao nhất và lớn nhất ở khu vực phía Nam của đất nước. Môi trường sống được đặc trưng bởi rừng xanh khô, rừng Pơ mu và rừng trên núi. Các loại chim chính bao gồm black-crowned barwing (Actinodura sodangorum), black-hooded laughingthrush (Garrulax milleti), chestnut-eared laughingthrush (G. konkakinhensis), crested argus (Rheinardia ocellata), golden-winged laughingthrush (G. ngoclinhensis), và yellow-billed nuthatch (Sitta solangiae).

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh được tạo lập bởi các đơn vị hành chính cấp huyện sau:

Map
Bản đồ Tên tiếng Việt Tên tiếng Lào
15-01 Huyện Lamam ລະມາມ
15-02 Huyện Kaleum ກະເລິມ
15-03 Huyện Dakcheung ດັກເຈິງ
15-04 Huyện Thateng ທ່າແຕງ

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Sekong đa dạng về chủng tộc. Chỉ có khoảng 3% dân số là người Lào. Số đông 97% còn lại đến từ một trong số 14 nhóm dân tộc thiểu số khác nhau tại tỉnh.

  • Người Alak: 21% dân số của tỉnh
  • Người Katu: 20%
  • Người Tarieng: 19% và
  • Người Nge/Krieng: 11% là các nhóm dân tộc chính.

Chính phủ Lào xếp những dân tộc này vào nhóm “Lao Theung” (là nhóm các dân tộc sống tại các vùng trung du Lào). Tuy nhiên, theo phân loại ngôn ngữ, dựa trên các nhóm ngôn ngữ, thì họ nằm trong nhóm Austroasiaticic. Trong nhóm ngôn ngữ đa dân tộc này, nhóm dân tộc tại Sekong nằm trong hai nhánh ngôn ngữ: Katuic (gồm Katu và Nge/Krieng) và Bahnaric (Alak và Tarieng). Khoảng 14.700 người Katu sống trong tỉnh.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Sekong là một trong những tỉnh nghèo nhất ở Lào, đứng thứ hai sau tỉnh Houphanh. Cơ sở hạ tầng kém phát triển, số ít người được dùng nước sạch và vệ sinh vào năm 2000 và tỷ lệ biết chữ rất thấp. Tỉnh Sekong là một trong những vùng sản xuất cà phê quan trọng nhất của Lào cùng với tỉnh Saravane và tỉnh [[Champasak]. Tỉnh Sekong là vùng sản xuất mật ong chính của Lào. Người ta thường khoét các lỗ trên cây để nuôi ong. Phương pháp truyền thống này được thực hiện nhiều ở ba huyện: Đăkchung, Kalum và Lama.

Diện tích rừng còn lại của tỉnh Sekong cao. Các số liệu của Chính phủ cho thấy trên 50% diện tích đất của tỉnh là rừng, phần lớn là rừng rụng lá và rụng lá hỗn hợp, nhưng có các túi rừng khộp khô dọc theo thung lũng sông Sekong và rừng thông ở cao nguyên Dakchung. Phần lớn rừng tự nhiên ở Sekong chưa bao giờ bị khai thác gỗ thương mại, nhưng điều này đang thay đổi nhanh chóng. Khai thác gỗ thương mại đã được mở rộng nhanh chóng trong thập kỷ qua trên địa bàn tỉnh. Kể từ năm 2000 đến năm 2004 khi ngành đồ gỗ tăng trưởng bình quân lên đến 70%/năm đã thúc đẩy việc gia tăng cắt gỗ rừng mang lại lợi ích cho các thương nhân Việt nam cũng như các công ty của Lào (gây nguy cơ phải đối mặt với sự thiếu hụt nguồn gỗ do giảm tài nguyên rừng).

Tính đến năm 2003, lợi nhuận kinh tế từ tài nguyên rừng trong địa bàn tỉnh được ước tính trong khoảng từ US$398 đến US$525 mỗi hộ gia đình, và nhiều hơn thu nhập từ nông nghiệp. Doanh thu từ bán gỗ cũng tăng lên đáng kể, ước tính là US$10,35/ha. Rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh cũng có ích cho việc hấp thụ carbon ước tính là US$124/ha và cải thiện lưu vực sông, tránh xói mòn cũng như hạn chế lũ lụt.

Tham nhũng của các cơ quan cấp tỉnh ở tỉnh Sekong là một vấn đề nan giải; các quan chức đã tiếp tay làm suy yếu tác động dự án "Sáng kiến ​​quản lý rừng bền vững" được tài trợ triển khai trên địa bàn này.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân thuộc dân tộc thiểu số tỉnh Sekong vẫn đóng khố

Các giá trị văn hóa của tỉnh có thể kể đến là: văn hoá Bản địa Lào Teung với các mối liên hệ linh hồn với đất, năm loại ngôn ngữ "Lao Teung" và một ngôn ngữ đã bị tuyệt chủng, một số khu rừng thiêng dùng để mai táng, các di tích Chiến tranh Đông Dương, và một đoạn Đường mòn Hồ Chí Minh. Để tránh bị đánh bom trong cuộc chiến tranh Đông Dương, một số bộ lạc đã đặt bùa lên trên mái lều của họ.

Nghề dệt ở thị xã Sekong với các thiết kế vải độc đáo (với các đường màu xen kẽ) và được sản xuất bởi một hệ thống dệt thoi được gọi là "hip loom". Phụ nữ Katu cũng sử dụng một kỹ thuật cách điệu riêng. Ngoài người Katu, người Talieng (Tarieng) tại thị xã Sekong cũng sử dụng khung dệt back-tensioned, giống như người Harlak ở làng Kasangkang, nằm ngay bên rìa thị xã. Đàn ông Talieng quấn một chiếc Tha Khatil vải truyền thống xung quanh eo. Với những người Mon-Khmer, các đường kẻ dọc được kết hợp vào quần áo bằng dây đeo lưng. Ngoài những sọc hình học, các mẫu trang trí bao gồm động vật hoặc thực vật, được coi là các họa tiết truyền thống, hoặc hình máy bay và bom mang tính lịch sử cao. Sản phẩm dệt may sản xuất bởi nhóm dân tộc Nge rất hấp dẫn. Váy truyền thống của Lào ("sin") là một đặc sản của nhóm dân tộc Alak.

Cũng cần lưu ý là váy Pha BiangPha Kaan (khăn quàng cổ - bao gồm khăn quàng, nón và vương miện). Các chi tiết khắc gỗ và nhà rông truyền thống rất hấp dẫn du khác có thể thấy tại làng Kandone.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tra cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Non-Timber Forest Products Project (Cambodia). Hydropower on the Sesan/Sekong River. Mekong factsheet, 1. Phnom Penh: NTFP Project, Ratanakiri Province, 1997.
  • Saiyavong, Somphāvan. Phao Trīang: vithī sīvit kap sathāpattayakam = The life and house of the Tariang people. [Vīangchan]: Sathāban Khonkhwā Vatthanatham, Kasūang Thalǣng Khāo læ Vatthanatham, 2003.
  • Thongkum, Theraphan L. Phāsā khō̜ng nānā chonphao nai khwǣng Sēkō̜ng Lāo Tai: khwāmrū phư̄nthān phư̄a kānwičhai læ phatthanā = Languages of the tribes in Xekong Province Southern Laos : a foundation for research and development. Krung Thēp: Samnakngān Kō̜ngthun Sanapsanun Kānwičhai, 2001. ISBN 974-03-0128-2
  • United Nations Development Programme (Viangchan, Laos). Socio-Economic Profile of Sekong Province. Lao PDR: province profiles series, no. 3. Vientiane: United Nations Development Programme, 1997.
  • Vythilingam, I., et al. "The prevalence of Anopheles (Diptera: Culicidae) mosquitoes in Sekong Province, Lao PDR in relation to malaria transmission." Tropical Medicine & International Health. 8.6 (2003): 525–535.
Biểu đồ gió Tỉnh Salavan Tỉnh Thừa Thiên–Huế,  Vietnam Biểu đồ gió
B Tỉnh Quảng Nam,  Vietnam
T    Tỉnh Sekong    Đ
N
Tỉnh Champasak Tỉnh Attapeu Tỉnh Kon Tum,  Vietnam
Enclave: {{{enclave}}}