Di sản tư liệu thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Di sản tư liệu thế giới (còn gọi là Chương trình Ký ức thế giới) của UNESCO ra đời từ năm 1994. Mục đích của chương trình là để ghi nhận các di sản văn hóa thuộc dạng tư liệu (Documentary Heritage) trên thế giới, đó có thể là cuốn sách, bộ phim, bức ảnh, giọng nói (băng ghi âm), hay là bút tích...[1]

Di sản tư liệu thế giới tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thế giới đầu tiên tại Việt Nam do UNESCO công nhận ngày 31 tháng 7 năm 2009. Số mộc bản này hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV- Đà Lạt, Lâm Đồng.
  2. Ngày 9/3/2010, tại Macau, Trung Quốc. Sau Mộc bản triều Nguyễn, Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long đã được công nhận là di sản tư liệu thứ hai của Việt Nam được đưa vào danh mục Di sản tư liệu thế giới.

Di sản tư liệu châu Á - Thái Bình Dương tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là các di sản tư liệu được công nhận ở cấp khu vực châu Á - Thái Bình Dương, và đang được đề nghị nâng tầm công nhận lên di sản tư liệu thế giới sau năm 2017:[2]

STT Di sản Nơi lưu trữ Năm công nhận
1 Mộc bản kinh Phật thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm Chùa Vĩnh Nguyêm, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 2012
2 Châu bản triều Nguyễn Tỉnh Thừa Thiên-Huế 2014
3 Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế 2016
4 Mộc bản trường Phúc Giang Tỉnh Hà Tĩnh 2016

Các đề cử mới[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Miếu-Quốc Tử Giám tại Hà Nội, nơi có những bia đá là di sản tư liệu thế giới

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]