Đỗ Bá Tỵ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đỗ Bá Tỵ
Đại tướng Đỗ Bá Tỵ.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 5 tháng 4 năm 2016 – nay
1 năm, 137 ngày
Tiền nhiệm Huỳnh Ngọc Sơn
Kế nhiệm đương nhiệm
Vị trí Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Nhiệm kỳ 22 tháng 12 năm 2010 – 21 tháng 5 năm 2016
5 năm, 151 ngày
Tiền nhiệm Nguyễn Khắc Nghiên
Kế nhiệm Phan Văn Giang
Nhiệm kỳ 22 tháng 10 năm 2010 – 27 tháng 4 năm 2016
5 năm, 188 ngày
Tiền nhiệm Nguyễn Khắc Nghiên
Kế nhiệm Phan Văn Giang
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 1 tháng 12, 1954 (62 tuổi)
Đoan Hùng, Phú Thọ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Dân tộc Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Tôn giáo Không
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Vietnam.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1972 – nay
Cấp bậc Vietnam People's Army General.jpg Đại tướng
Chỉ huy

Các đơn vị:

Đỗ Bá Tỵ (sinh năm 1954) là một Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Namchính trị gia người Việt Nam. Ông hiện là Phó Chủ tịch Quốc hội khóa XIV phụ trách quốc phòng - an ninh, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội và là đại biểu quốc hội Việt Nam khóa XIV nhiệm kì 2016–2021 thuộc đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Lào Cai. Ông từng là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (20102016). Trong Đảng Cộng sản Việt Nam, ông giữ chức vụ Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII.[1]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Bá Tỵ sinh ngày 1 tháng 12 năm 1954 tại xã Hùng Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, nguyên quán Đan Phượng, Hà Nội.[2]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1972, ông nhập ngũ vào Quân đội Nhân dân Việt Nam. Không có nhiều thông tin trong giai đoạn đầu của ông. Từ năm 1985 đến năm 1988, Đỗ Bá Tỵ giữ cấp bậc Thiếu tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 192 (đóng quân ở Lào Cai), Sư đoàn 355, Quân đoàn 29 (Binh đoàn Sông Thao), Quân khu 2. Được cử đi học và tốt nghiệp Học viện Lục quân (Đà Lạt), sau đó tốt nghiệp Đào tạo Chỉ huy Tham mưu Cao cấp Binh chủng hợp thành khóa XII (1992-1994) tại Học viện Quốc phòng Việt Nam. Ông được điều động trở lại Quân khu 2 và lần lượt giữ các chức vụ: Sư đoàn phó, Sư đoàn trưởng, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Thọ, Tham mưu phó Quân khu 2.

Năm 2001, ông giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2, hàm Thiếu tướng.

Năm 2006, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X.

Ngày 7 tháng 2 năm 2007, ông được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân khu 2.[3], hàm Trung tướng[4], thay cho Trung tướng Ma Thanh Toàn.

Ngày 22 tháng 10 năm 2010, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Sau khi Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên qua đời, ngày 22 tháng 12 năm 2010, ông được Chủ tịch nước bổ nhiệm giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.[5]

Tháng 1 năm 2011 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam ông được bầu lại làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI.

Tháng 5 năm 2011, ông được bầu vào Quốc hội Việt Nam khóa XIII tại đơn vị bầu cử là tỉnh Điện Biên.

Ngày 5 tháng 12 năm 2011, ông được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phong quân hàm Thượng tướng cùng với 8 tướng lĩnh cấp cao khác của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.

Ngày 5 tháng 10 năm 2015 ông được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phong quân hàm Đại tướng[6]. Cùng được phong quân hàm Đại tướng với ông trong ngày này còn có ông Ngô Xuân Lịch.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1 năm 2016) ông là một trong bốn trường hợp quá tuổi, được BCH Trung ương Đảng khóa XI giới thiệu để tái cử[7] và được bầu lại vào BCH Trung ương Đảng khóa XII.[8]

Ngày 5 tháng 4 năm 2016 tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIII, ông được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội phụ trách quốc phòng - an ninh.

Ngày 27 tháng 04 năm 2016, ông được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ký quyết định thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng để nhận nhiệm vụ mới.[9]

Tháng 5 năm 2016, ông tiếp tục được bầu vào Quốc hội Việt Nam khóa XIV tại đơn vị bầu cử là tỉnh Lào Cai.

Huân huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

Huân chương Hiệp sĩ bội tinh Đệ nhất của Hoàng gia Thái Lan[10]

Lịch sử thụ phong quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thụ phong 2001 2007 2011 2015
Quân hàm Vietnam People's Army Major General.jpg Vietnam People's Army Lieutenant General.jpg Vietnam People's Army Colonel General.jpg Vietnam People's Army General.jpg
Cấp bậc Thiếu tướng Trung tướng Thượng tướng Đại tướng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Trung tướng Ma Thanh Toàn
Tư lệnh Quân khu 2
2007-2010
Kế nhiệm:
Trung tướng Dương Đức Hòa
Tiền nhiệm:
Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên
Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam
2010-2016
Kế nhiệm:
Phan Văn Giang
Tiền nhiệm:
Huỳnh Ngọc Sơn
Phó Chủ tịch Quốc hội
2016-nay
Kế nhiệm:
Đương nhiệm