Lê Khả Phiêu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Lê Khả Phiêu
Mr. Le Kha Phieu.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ26 tháng 12 năm 1997 – 22 tháng 4 năm 2001
&0000000000000003.0000003 năm, &0000000000000117.000000117 ngày
Tiền nhiệmĐỗ Mười
Kế nhiệmNông Đức Mạnh
Thường trực Bộ Chính trị khoá VIII
Nhiệm kỳ1 tháng 7 năm 1996 – 16 tháng 12 năm 1997
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000168.000000168 ngày
Tổng Bí thưĐỗ Mười
Tiền nhiệmNguyễn Hà Phan
Kế nhiệmPhạm Thế Duyệt
Nhiệm kỳ28 tháng 6 năm 1996 – 22 tháng 4 năm 2001
&0000000000000004.0000004 năm, &0000000000000298.000000298 ngày
Nhiệm kỳ17 tháng 4 năm 1996 – 1 tháng 7 năm 1996
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000075.00000075 ngày
Tiền nhiệmNguyễn Hà Phan
Nhiệm kỳTháng 9 năm 1991 – Tháng 12 năm 1997
Tiền nhiệmNguyễn Quyết
Kế nhiệmPhạm Thanh Ngân
Nhiệm kỳTháng 8 năm 1988 – Tháng 9 năm 1991
Chủ nhiệmNguyễn Quyết
Thông tin chung
Quốc tịch Việt Nam
Sinh(1931-12-27)27 tháng 12, 1931
Đông Khê, Đông Sơn, Thanh Hóa, Liên bang Đông Dương
Mất7 tháng 8, 2020(2020-08-07) (88 tuổi)
nhà số 7/36/C1 Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Dân tộcKinh
Tôn giáokhông
Đảng pháiFlag of the Communist Party of Vietnam.svg Đảng Cộng sản Việt Nam
VợNguyễn Thị Bích (cưới 1959)
ChaLê Khả Phan
Con cáiLê Minh Diễn (trai cả)
Lê Quốc Khánh (trai út)
Binh nghiệp
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ19501997
Cấp bậcVietnam People's Army Colonel General.jpg Thượng tướng
Chỉ huySư đoàn 304
Tham chiến

Lê Khả Phiêu (27 tháng 12 năm 19317 tháng 8 năm 2020) là một cựu chính trị gia người Việt Nam. Ông từng giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12 năm 1997 đến tháng 4 năm 2001. Ông cũng từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Quân ủy Trung ương, Trưởng Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương. Ông cũng đồng thời là một tướng lĩnh, từng giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Xuất thân và binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Khả Phiêu sinh ngày 27 tháng 12 năm 1931 ở làng Thạch Khê Thượng , xã Đông Khê, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, Việt Nam. Năm 1945, ông tham gia phong trào Việt Minh tại địa phương và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 19 tháng 6 năm 1949.

Ngày 1 tháng 5 năm 1950, Lê Khả Phiêu được tổ chức Việt Minh điều động gia nhập quân đội. Ông bắt đầu trưởng thành từ một binh nhì thăng tiến dần đến chức vụ Chính trị viên Đại đội thuộc Trung đoàn 66 Đại đoàn 304. Từ tháng 9 năm 1954 đến năm 1958, ông lần lượt giữ các chức vụ Phó chính trị viên, Chính trị viên tiểu đoàn rồi Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 66.

Từ tháng 6 năm 1961 đến năm 1966, ông lần lượt giữ chức vụ Phó trưởng ban, Trưởng ban Cán bộ tổ chức Sư đoàn 304, sau đó là Phó chính ủy, rồi Chính ủy kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9, Sư đoàn 304.

Năm 1967, Lê Khả Phiêu được điều động cùng Trung đoàn 9 vào chiến trường Trị Thiên, làm Chính ủy Trung đoàn. Năm 1968, ông làm Trưởng phòng Tổ chức Quân khu Trị Thiên. Đến năm 1970, là Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu Trị Thiên.

Tháng 5 năm 1974, khi Quân đoàn 2 được thành lập, ông được cử giữ chức Chủ nhiệm Cục chính trị Quân đoàn, hàm Thượng tá.

Năm 1978, Lê Khả Phiêu là Phó chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị, rồi Phó tư lệnh về chính trị Quân khu 9, hàm Đại tá. Đồng thời ông cũng kiêm nhiệm một chức vụ dân sự là Phó Bí thư Khu ủy Khu IX.

Tháng 4 năm 1984, Lê Khả Phiêu được thăng hàm Thiếu tướng, giữ chức vụ Chủ nhiệm chính trị, rồi Phó tư lệnh về chính trị kiêm Chủ nhiệm chính trị, Phó Bí thư Ban Cán sự Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (mật danh Mặt trận 719).

Tháng 8 năm 1988, sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, ông được thăng hàm Trung tướng và được điều về làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 9 năm 1991, Lê Khả Phiêu là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1992, ông được phong quân hàm Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng bí thư Lê Khả Phiêu tiếp Tổng thống Vladimir Putin tại Hà Nội, 2001

Tháng 6 năm 1991 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Lê Khả Phiêu được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Về phía quân đội, ông giữ chức Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Tháng 6 năm 1992 tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 13 của Đảng, Lê Khả Phiêu được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Tháng 1 năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam, ông được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII bầu vào Bộ Chính trị.

Tháng 4 năm 1996 Lê Khả Phiêu được phân công làm Thường trực Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thay Nguyễn Hà Phan bị kỷ luật.[1]

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc khoá VIII Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6 năm 1996), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị, Thường trực Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương.

Ngày 26 tháng 12 năm 1997 tại Hội nghị Trung ương lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) Lê Khả Phiêu được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ ngày 26 tháng 12 năm 1997, ông cũng là Bí thư Quân ủy Trung ương (Việt Nam).

Tháng 10 năm 2006, Lê Khả Phiêu nghỉ công tác theo chế độ, qua đó chính thức hưu trí khi mới 75 tuổi.

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 1 năm 2009, vào dịp Tết Kỷ Sửu, một loạt hình ảnh nhà riêng của Lê Khả Phiêu được phát tán trên Internet.[2] Theo một số nguồn tin thì những hình ảnh này đã gây xôn xao dư luận[3]

Qua đời và quốc tang[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một thời gian lâm bệnh, ông qua đời vào lúc 2 giờ 52 phút, ngày 7 tháng 8 năm 2020 tại nhà riêng số 7/36/C1 Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.[4] Theo thông cáo đặc biệt, tang lễ của nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu được Nhà nước Việt Nam được tổ chức theo nghi thức Quốc tang trong hai ngày, 1415 tháng 8 năm 2020. Lễ viếng của ông được tổ chức tại Nhà tang lễ quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội bắt đầu từ 8 giờ, ngày 14 tháng 8 năm 2020 đến 12 giờ, ngày 15 tháng 8 năm 2020. Lễ truy điệu được tổ chức vào 12 giờ 30 phút, ngày 15 tháng 8 năm 2020 tại Nhà tang lễ quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ an táng lúc 14 giờ cùng ngày tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Cùng thời gian này tại Hội trường Thống nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hội trường 25B, đường Quang Trung, Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa cũng tổ chức lễ viếng, lễ truy điệu nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu.[5]

Theo di nguyên của Lê Khả Phiêu, sau khi mất, ông muốn được rải tro cốt xuống ba dòng sông đã gắn liền kỉ niệm với cuộc đời ông nhưng do dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp nên gia đình cũng không muốn kéo dài thời gian tang lễ. Theo một người thân trong gia đình Lê Khả Phiêu chia sẻ, ba con sông đó là sông Mã, sông Hồngsông Cửu Long. Nơi an nghỉ của ông tại nghĩa trang Mai Dịch nằm tại vị trí thứ tư (cạnh mộ Hoàng Quốc ViệtLê Văn Lương), bên phải (từ cổng nghĩa trang hướng vào sân chính).

Tặng thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử thụ phong quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thụ phong 1962 1966 1970 1974 1978 1984 1988 1992
Quân hàm Vietnam People's Army Captain.jpg Vietnam People's Army Major.jpg Vietnam People's Army Lieutenant Colonel.jpg Vietnam People's Army Colonel.jpg Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg Vietnam People's Army Major General.jpg Vietnam People's Army Lieutenant General.jpg Vietnam People's Army Colonel General.jpg
Cấp bậc Đại úy Thiếu tá Trung tá Thượng tá Đại tá Thiếu tướng Trung tướng Thượng tướng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]