Trần Quý Hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trần Quý Hai
Trung tướng Trần Quý Hai.jpg
Trung tướng Trần Quý Hai
Tiểu sử
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh 1913
Tịnh Châu, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, Liên bang Đông Dương
Mất 1985
Hà Nội, Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1945 - 1985
Cấp bậc Vietnam People's Army Lieutenant General.jpg Trung tướng
Chỉ huy Flag of North Vietnam (1945-1955).svg Việt Minh
Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Khen thưởng Huân chương Sao vàng (truy tặng)
Huân chương Hồ Chí Minh...
Công việc khác Trưởng ban cơ yếu Trung ương

Trần Quý Hai (1913-1985) tên thật là Bùi Chấn, là một nhà hoạt động quân sự, trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông quê ở xã Châu Sa (Gò Rồng, Kim Lộc, Tịnh Châu; nay là xã Tịnh Châu, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi). Theo cuốn Bên thắng cuộc thì ông là người trực Quân ủy Trung Ương vào ngày xảy ra Sự kiện Vịnh Bắc Bộ lần thứ nhất (ngày 2 tháng 8 năm 1964), và chính ông đã ra lệnh cho phép nổ súng.[1]

Quá trình công tác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kháng chiến chống Pháp[sửa | sửa mã nguồn]
  • Kết nạp Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1930.
  • Năm 1944, bị bắt rồi đưa đi an trí ở Ba Tơ. Sau nhiều tháng, ông thoát ra và gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam tháng 3 năm 1945.
  • Tham gia thành lập Uỷ ban Vận động Cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi. Tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa Ba Tơ. Ông giữ chức bí thư tỉnh ủy.
  • Năm 1946, là xứ uỷ viên dự khuyết Xứ uỷ Trung Bộ, phụ trách ba tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà.
  • Những năm 1947 - 1952: chính uỷ kiêm tư lệnh Mặt trận Bình-Trị-Thiên.
  • Năm 1953 ông được bầu làm Tư lệnh Đại đoàn 325 kiêm chính ủy. Rồi được điều làm chính ủy mặt trận Trung Lào
Sau 1954[sửa | sửa mã nguồn]
  • Thủ lĩnh Trần Quý Hai theo sư đoàn 325 tập kết ra bắc.
Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1955-1978)[sửa | sửa mã nguồn]
  • Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (1961), Tổng thanh tra Quân đội (1963)
  • Tổng tư lệnh Mặt trận B5-Trị Thiên trong Chiến dịch Xuân Hè 1972
  • Những năm 1978-1985, Trưởng ban Cơ yếu Trung ương.
  • Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương khoá III.

Tặng thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng 1958, Trung tướng 1974. Ông được phong tặng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương quân sự khác. Nhiều năm sau khi ông mất, ngày 7 tháng 11 năm 2008, ông được truy tặng Huân chương Sao vàng, phần thưởng cao quý nhất của nhà nước XHCN Việt Nam.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là tác giả của hồi ký "Những ngày khói lửa". Đây là một tác phẩm tiểu thuyết tự truyện, viết về giai đoạn tác giả ở Chiến khu Hòa MỹChiến khu Dương Hòa của tỉnh Bình Trị Thiên trong cuộc thời kỳ Chiến tranh Đông Dương (1946-1954) và một phần được viết ở chiến khu Quảng Bình - Quảng Trị - Huế trong thời kỳ đầu Chiến tranh Việt Nam.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bên thắng cuộc, Phần 2-Quyền Bính, Chương XV: Tướng Giáp

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]