Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Huy hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là danh hiệu vinh dự cao nhất của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, phong tặng hoặc truy tặng cho các cá nhân "có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có đạo đức, phẩm chất cách mạng" và những tập thể "có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nội bộ đoàn kết tốt; tổ chức Đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh."[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Để động viên, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước, từ năm 1951, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Hội Liên Việt chủ trương tổ chức Đại hội liên hoan anh hùng và chiến sĩ thi đua để khích lệ và tuyên dương những tấm gương tiêu biểu trong chiến đấu và lao động sản xuất. Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức 19 tháng 5 năm 1952 tại căn cứ địa Việt Bắc. Tại Đại hội này, ông Trường Chinh, với tư cách là Tổng Thư ký Đảng Lao động Việt Nam đã có bài phát biểu "Thi đua ái quốc với chủ nghĩa anh hùng mới"[2] và ông Hồ Viết Thắng, thay mặt Chính phủ và Mặt trận báo cáo tình hình thi đua ái quốc trước Đại hội,[3] nêu khái niệm đầu tiên về danh hiệu anh hùng chiến đấu và anh hùng lao động. Một số gương tiêu biểu cũng được giới thiệu báo cáo trước Đại hội.

Sau kỳ Đại hội này, ngày 10 tháng 8 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 107/SL tặng danh hiệu Anh hùng thi đua ái quốc cho 7 chiến sĩ thi đua và Sắc lệnh 108/SL tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất cho 24 chiến sĩ thi đua.[4] Bảy cá nhân đầu tiên được tặng danh hiệu Anh hùng gồm 4 Anh hùng quân đội Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, La Văn CầuCù Chính Lan; 3 Anh hùng lao động Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh.[5]

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, diễn ra thêm 2 lần tuyên dương Anh hùng quân đội (31 tháng 8, 1955[6]7 tháng 5, 1956).[7] Sau khi kiểm soát hoàn toàn miền Bắc, tính đến năm 1970, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn tổ chức thêm 3 kỳ Đại hội liên hoan anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc, tổng cộng đã có 289 cá nhân và 85 tập thể được phong danh hiệu Anh hùng (cả Anh hùng quân đội và Anh hùng lao động).[8]

Tại miền Nam, từ ngày 2 đến ngày 6 tháng 5 năm 1965, Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ nhất được tổ chức với gần 150 chiến sĩ thi đua về dự. Tại Đại hội này, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đã quyết định tuyên dương 23 Anh hùng quân giải phóng, trong đó có 2 phụ nữ (Tạ Thị KiềuNguyễn Thị Út), 4 là dân tộc ít người (gồm Hồ Vai, Pi Năng Tăk, Puih Thu, ?). Hai năm sau, Đại hội lần thứ hai được tổ chức tháng 9 năm 1967, có thêm 47 cá nhân được phong tặng danh hiệu này.

Ngày 15 tháng 1 năm 1970, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Pháp lệnh đặt các danh hiệu vinh dự nhà nước, Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân,[9] cùng với Thông tư 34-TTg ngày 11/3/1970 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn. Theo đó các danh hiệu Anh hùng chính thức được pháp điển hóa. Cũng từ đây, danh hiệu Anh hùng quân đội được chuyển tên thành danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.[8]

Chịu ảnh hưởng của văn bản này, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng thay đổi danh hiệu Anh hùng quân giải phóng thành danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam tại Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ ba tổ chức vào năm 1973.

Sau khi Việt Nam thống nhất, 2 danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (miền Bắc) và Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam (miền Nam) thống nhất lại thành một danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Cấp đề nghị và quyết định phong tặng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Pháp lệnh đặt các danh hiệu vinh dự Nhà nước: Anh hùng lao độngAnh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1970 (không viết hoa), việc tặng danh hiệu Anh hùng lao động và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xét và quyết định, căn cứ vào đề nghị của Hội đồng Chính phủ.[9]

Theo quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng, Quyết định phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (viết hoa) do Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam ký theo đề nghị của Thủ tướng chính phủ.[10]

Hình thức phong tặng đối với cá nhân và tập thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân được cấp bằng và huy hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
  • Tập thể được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân được cấp bằng và huy hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và cờ "Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân".

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Lỗi chú thích: Mã <ref> sai; thẻ ref không có tên thì phải có nội dungANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN ÔNG PHAN KIM KỲ Ai đã từng công tác tại Sở Thủy lợi, nay sáp nhập vào Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Nghệ An) chắc hẳn còn nhớ một con người dáng hình dong dỏng cao, tính tình hiền lành đức độ, luôn gương mẫu trong tác phong, lối sống... Ông chính là kỹ sư thủy lợi Phan Kim Kỳ - Phó phòng Tổ chức cán bộ Sở những năm 1980- 1990 của thế kỷ trước. Ông Phan Kim Kỳ sinh vào ngày 20/2/1947 tại làng Đồng Hiền, xã Công Thành, huyện Yên Thành (Nghệ An) trong một gia đình yêu nước, giàu truyền thống hiếu học. Cha là ông Phan Chơng một thầy thuốc Đông y nổi tiếng. Gia đình ông có 5 anh, chị em, trong đó người anh đầu là kỹ sư giao thông Phan Kim Khuê từng tham gia kháng chiến ở Cục tiền phương thông tuyến, mở đường Trường Sơn những năm đánh Mỹ, ông Khuê là một trong những người con quê hương xứ Nghệ trực tiếp tham gia xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người em trai kế tiếp là liệt sĩ Phan Kim Quỳnh, bộ đội đặc công đã hy sinh anh dũng trên chiến trường miền Đông Nam Bộ năm 1970... Ông Phan Kim Kỳ nguyên là học sinh Trường cấp 3 Yên Thành 2, năm 1970 nghe tin em trai hy sinh, khi ông đang là sinh viên năm thứ 2 trường Đại học Thủy lợi, đã viết đơn tình nguyện gia nhập quân đội để lên đường vào Nam chiến đấu. Ông Kỳ được biên chế vào Đại đội 3, Tiểu đoàn 172, Trung đoàn tên lửa 64 thuộc Sư đoàn phòng không 361 - Quân chủng phòng không - không quân. Trong quá trình chiến đấu và trưởng thành, với những thành tích xuất sắc, Phan Kim Kỳ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngay tại chiến trường vào ngày 11/3/1973. Trong bảng vàng truyền thống bộ đội tên lửa Tiểu đoàn 172 còn ghi rõ: “Trên đường 13, khi tiểu đội thương vong gần hết, một mình một khẩu AK, một cơ cấu phóng tên lửa, đồng chí Kỳ đã bò sát hàng rào ngay đầu đường băng Tân Khai nhằm khi máy bay cất cánh để phóng hỏa”. Năm 1972, Phan Kim Kỳ được Sư đoàn 75 tuyên dương hành động anh hùng và phát động học tập tấm gương Phan Kim Kỳ cho toàn Sư đoàn. Do có nhiều thành tích chiến đấu dũng cảm sáng tạo bắn rơi 6 máy bay Mỹ gồm 1A37, 1C130, 2AĐ6, 2AHIG,... Phan Kim Kỳ được bầu là Chiến sĩ thi đua cấp Miền. Từ một Tiểu đội trưởng (năm 1972), Phan Kim Kỳ đã được đặc cách phong lên Đại đội phó với hàm Thượng sĩ (năm 1974). Năm 1976, Phan Kim Kỳ vinh dự được đại diện cho Đại đội 3 ra Hà Nội nhận danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho đại đội của mình tại Hội nghị Quyết thắng quân chủng Phòng không không quân. Theo hồ sơ của đơn vị và gia đình còn lưu giữ, ông Phan Kim Kỳ đã được tặng thưởng nhiều huân, huy chương chiến công, huy chương chiến sĩ giải phóng, Dũng sĩ, kỷ niệm chương tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử… Cuối năm 1976, ông Phan Kim Kỳ được phục viên và trở lại Trường Đại học Thủy lợi tiếp tục học tập. Tốt nghiệp ra trường năm 1979, ông Phan Kim Kỳ luôn phấn đấu trở thành một cán bộ gương mẫu trong mọi hoạt động công tác của Sở Thủy lợi Nghệ An. Thật vinh dự và tự hào cho gia đình, quê hương, đồng đội, các đơn vị nơi ông Phan Kim Kỳ từng công tác, ngày 17/7/2018, ông Phan Kim Kỳ được Nhà nước truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” vì đã có thành tích đặc biết xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo Quyết định số 622 QĐ-CTN ngày 26/4/2018