Ban Chỉ huy quân sự, Quân đội nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Ban Chỉ huy Quân sự cấp quận, huyện là một tổ chức thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam tương đương cấp Trung đoàn, trước kia được đọc tắt là Quận Đội / Huyện Đội, có chức năng tham mưu cho Quận ủy/Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quận/huyện lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp công tác quốc phòng, quân sự địa phương trên địa bàn và trực tiếp chỉ huy, chỉ đạo các lực lượng vũ trang địa phương trên các mặt xây dựng và hoạt động tác chiến.[1][2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh đạo chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bí thư Huyện ủy là Bí thư Đảng ủy quân sự huyện
  • Chỉ huy trưởng: 01 người, Thượng tá (nhóm 8), là Ủy viên Đảng ủy Quân sự huyện
  • Chính trị viên: 01 người, Thượng tá (nhóm 8), thường là Phó Bí thư Đảng ủy Ban CHQS quận/huyện
  • Phó Chỉ huy trưởng kiêm Tham mưu trưởng: 01 người, Trung tá (nhóm 9), thường là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Ban CHQS quận/huyện
  • Phó Chỉ huy trưởng Động viên: 01 người, Trung tá (nhóm 9), Ủy viên Đảng ủy Ban CHQS quận/huyện
  • Phó Chỉ huy trưởng Quân sự: 01 người, Trung tá (nhóm 9), Ủy viên Đảng ủy Ban CHQS quận/huyện
  • Chính trị viên phó kiêm Chủ nhiệm Chính trị: 01 người, Trung tá (nhóm 9), Ủy viên Đảng ủy Ban CHQS quận/huyện

Tổ chức chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ban Tham mưu
  • Ban Chính trị
  • Ban Hậu cần - Kỹ thuật
  • Ban Động viên
  • Tiểu đoàn khung Dự bị động viên
  • Các Phường đội/Xã đội trực thuộc.
  • Tổng quân số thời bình của Ban Chỉ huy quân sự huyện dao động từ 40-50 người, hầu hết là Sĩ quan và Quân nhân chuyên nghiệp. Trong thời chiến, tùy theo tình hình chiến sự, mỗi huyện có biên chế 2-3 tiểu đoàn bộ binh, thậm chí có thể biên chế 1 Trung đoàn bộ binh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]