Cục Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Quốc phòng (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Cục Kế hoạch và Đầu tư
Quân đội nhân dân Việt Nam
Quốc gia Việt Nam
Thành lập20 tháng 3 năm 1975; 45 năm trước (1975-03-20)
Phân cấpCục chức năng (nhóm 3)
Nhiệm vụLà cơ quan bảo đảm trang bị vật tư cấp chiến lược
Quy mô700 người
Bộ phận củaFlag of the People's Army of Vietnam.svg Bộ Quốc phòng
Bộ chỉ huyHà Nội
Chỉ huy
Cục trưởng
Vietnam People's Army Major General.jpg

Cục Kế hoạch và Đầu tư trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam là cơ quan tham mưu và đảm bảo đầu ngành toàn quân về trang bị vật tư, chiến lược, nâng cao tiềm lực quốc phòng, đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện của quân đội, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

• Ngày 20/3/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định số 44/QĐ-TM thành lập Cục Vật tư thuộc Bộ Tổng Tham mưu với chức năng là cơ quan tham mưu đầu ngành toàn quân về trang bị vật tư cho Bộ Quốc phòng. Ra đời ngay trong thời khắc mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với tinh thần cách mạng tiến công, thần tốc, quyết thắng; Cục đã hoàn thành một khối lượng lớn công việc, bảo đảm đầy đủ, kịp thời vật tư, vũ khí, trang bị phục vụ chiến đấu; bảo đảm cho Quân ủy Trung ương luôn có được sự chủ động, chắc chắn về vật chất, vũ khí, trang thiết bị, giúp cho việc hoạch định kế hoạch chiến lược và các quyết sách trong lãnh đạo, chỉ đạo, góp phần bảo đảm cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.[1]

• Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Cục Vật tư đã giúp Bộ khai thác, đặt hàng, tiếp nhận, quản lý và phân phối nguồn viện trợ quân sự từ các nước bạn; bao gồm hàng triệu tấn hàng hóa, vật tư, trang bị, vũ khí, khí tài quân sự với hàng chục nghìn chủng loại, trang bị cho hầu hết các quân, binh chủng, ngành; góp phần quan trọng hình thành hệ thống vũ khí trang bị, kỹ thuật cho quân đội. Bên cạnh đó, Cục Vật tư đã tổ chức khai thác, cung ứng nguồn vật tư trong nước cho các đơn vị trong toàn quân, phục vụ cho nhiệm vụ SSCĐ và xây dựng quân đội chính quy.

• Giai đoạn 1991 - 1998, Cục Vật tư đã giúp Bộ thực hiện quản lý Nhà nước về lĩnh vực xuất nhập khẩu vật tư, trang thiết bị chuyên dùng phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; tham mưu đề xuất với Chính phủ bổ sung nhiệm vụ và tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác dự trữ quốc gia trong quốc phòng…[1]

• Ngày 26/7/1994, do tính chất và yêu cầu của nhiệm vụ, để bảo đảm sự lãnh đạo, quản lý của Bộ Quốc phòng đối với hoạt động xuất nhập khẩu quân sự, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký quyết định số 459/QĐ-QP chuyển Tổng công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp Vạn Xuân (VAXUCO) từ Cục Vật tư về trực thuộc Bộ Quốc phòng;

• Trước yêu cầu phát triển quân đội trong tình hình mới, ngày 24/12/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 249/1998/QĐ-TTg thành lập Cục Kế hoạch và Đầu tư thuộc Bộ Quốc phòng trên cơ sở sắp xếp lại Cục Vật tư; đánh dấu mốc quan trọng trong việc chuyển đổi và tăng cường chức năng, nhiệm vụ từ một cơ quan đảm bảo, cung ứng là chính sang cơ quan tham mưu chiến lược về cân đối, huy động nguồn lực cho xây dựng tiềm lực quốc phòng.

• Để tinh giản biên chế, tập trung vào nâng cao hiệu quả của bộ máy cơ quan chiến lược, Bộ Quốc phòng đã:

- Điều nguyên trạng bốn đoàn tiếp nhận cung ứng vật tư thuộc Cục Kế hoạch và Đầu tư về các đơn vị, cụ thể: ba đoàn 25, 35, 45 về Tổng công ty VAXUCO và Đoàn 15 vể Tổng cục Kỹ thuật (theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng số 17/2006/QĐ-BQP, ngày 18/01/2006).

- Đồng thời Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã điều chỉnh tên gọi và bổ sung biên chế thêm 2 phòng chức năng để phù hợp với chức năng nhiệm vụ của Cục Kế hoạch và Đầu tư.

Từ đó, đã giúp cho Cục chủ động nghiên cứu, tham mưu đề xuất giúp Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng định hướng, xây dựng và hoàn thiện cơ chế điều hành, quản lý và thực hiện hiệu quả công tác kế hoạch đầu tư trong Bộ, triển khai xây dựng kế hoạch bảo đảm nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và kế hoạch đầu tư phát triển trong từng thời kỳ có tính thực tiễn, khả thi cao; đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, góp phần quan trọng trong xây dựng tiềm lực của quân đội.[1]

Những năm đầu, nguồn lực đầu tư của Nhà nước cho quân đội chủ yếu từ nguồn vốn chi đầu tư phát triển, chiếm tỷ trọng thấp; đến nay đã mở rộng được cả về nội dung và quy mô với tỷ trọng ngày càng cao, huy động và đầu tư có hiệu quả nguồn lực từ ngân sách Nhà nước... Triển khai nhiều đề án, chương trình trọng điểm như: đẩy nhanh tiến độ trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại; đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng, xây dựng lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; Công trình quốc phòng trên biển đảo, hệ thống đường tuần tra biên giới, đồn, trạm biên phòng, khu kinh tế - quốc phòng…[1]

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cục trưởng: Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng
  • Phó Cục trưởng: Đại tá Trần Đình Trụ
  • Phó Cục trưởng: Đại tá Trần Ngọc Thắng
  • Phó Cục trưởng: Đại tá Trịnh Trần Minh

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng Kế hoạch Tổng hợp
  • Phòng Đầu tư hạ tầng, Xây dựng
  • Phòng Đầu tư tiềm lực Khoa học quân sự
  • Phòng Thẩm định
  • Phòng Quản lý dự trữ quốc gia
  • Phòng Thương mại Quân sự
  • Phòng Quản lý Đấu thầu
  • Phòng Giám sát, đánh giá đầu tư
  • Ban Chính trị
  • Ban Tài chính
  • Ban Hành chính

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Quân công hạng Nhì (3/2020)
  • Huân chương Bảo vệ Tổ quốc Hạng Ba
  • Huân chương Quân công hạng Ba (3/2015)[1]

Cục trưởng các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 20-3-1975:

  • Tống Thái, Đại tá
  • Nguyễn Đình Lộc, Thiếu tướng
  • Dương Ngọc Văn, Đại tá

Từ 24-12-1998:

  • 1998-2005: Nguyễn Thọ Long, Thiếu tướng (2000)
  • 2005-2008: Bùi Quang Vinh, Thiếu tướng (2006)
  • 2008-2013: Phạm Quang Vinh, Thiếu tướng (2009), Trung tướng (2013)
  • 2013-nay: Nguyễn Mạnh Hùng, Thiếu tướng[2]

Phó Cục trưởng các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 20-3-1975:

  • Cấn Văn Nụ
  • Vũ Văn Vận
  • Dương Ngọc Văn
  • Phạm Thanh Sơn
  • Lương Ngọc Thanh

Từ 24-12-1998:

  • Nguyễn Văn Hương
  • Bùi Quang Vinh
  • Đào Kim Long
  • Nguyễn Mạnh Hùng
  • Nguyễn Hữu Bắc
  • Trần Đình Trụ
  • Trần Ngọc Thắng
  • Trịnh Trần Minh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]