Bước tới nội dung

Binh chủng Công binh, Quân đội nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Binh chủng Công binh
Quân đội Nhân dân Việt Nam
Quốc gia Việt Nam
Thành lập25 tháng 3 năm 1946; 79 năm trước (1946-03-25)
Quân chủng Lục quân
Phân cấpBinh chủng (Nhóm 4)
Nhiệm vụBinh chủng kỹ thuật
Quy mô12.000 người
Bộ phận củaBộ Quốc phòng
Bộ chỉ huyĐội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
Khẩu hiệuMở đường thắng lợi[1][2]
Thành tíchAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ×2
Huân chương Sao Vàng Huân chương Sao Vàng
Huân chương Hồ Chí Minh Huân chương Hồ Chí Minh ×2
Huân chương Độc lập Huân chương Độc lập hạng Nhất [1]
Chỉ huy
Tư lệnh
Chính ủy
Chỉ huy nổi bật




Binh chủng Công binh là một binh chủng chuyên môn kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam, thuộc Quân chủng Lục quân Bộ Quốc phòng Việt Nam, có chức năng bảo đảm các công trình trong tác chiến, xây dựng các công trình quốc phòng và đảm bảo cầu đường cho bộ đội vận động tác chiến.[2]

Lịch sử hình thành

[sửa | sửa mã nguồn]

Binh chủng Công binh hình thành tháng 9 năm 1945. Tiền thân của Binh chủng Công binh hiện nay là những tổ đánh phá đường sá, cầu cống,...nhằm ngăn chặn tối đa bước tiến của quân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam.[2]

Ngày truyền thống của Binh chủng Công binh là ngày 25 tháng 3 năm 1946, ngày Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34-SL về việc thành lập Công chính Giao thông Cục thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, tiền thân của lực lượng công binh. Điều 13 của Sắc lệnh ghi rõ: “Công chính Giao thông Cục có nhiệm vụ tổ chức thi hành việc vận tải, thông tin, vẽ bản đồ và tổ chức công binh dùng vào các việc chuyên môn như cầu cống, đường sá, máy móc…” Ngày 25/3/1946 đánh dấu sự ra đời của ngành công binh Quân đội nhân dân Việt Nam và trở thành ngày truyền thống của Bộ đội Công binh Việt Nam.[1][2]

Ngày 29/4/1946, Bộ Quốc phòng ban hành Thông tri số 300/TT, quy định nhiệm vụ của Công chính Giao thông Cục gồm: tổ chức vận tải, quản lý và sửa chữa phương tiện, mua sắm và bảo quản nhiên liệu, mở các xưởng sửa chữa, hỗ trợ công binh và vẽ bản đồ, thông tin liên lạc. Đến 2/12/1946, cơ quan này đổi tên thành Giao thông Công binh Cục. Cuối tháng 12/1946, ba tiểu đoàn đầu tiên được thành lập, đảm nhiệm công tác phá hoại và xây dựng công sự trên các tuyến phố Hà Nội.[1][2]

Ngày 5/2/1949, Giao thông Công binh Cục được đổi thành Cục Công binh. Tiếp đó, ngày 7/1/1951, Bộ Tổng Tư lệnh ra Quyết định số 44/QĐ thành lập trung đoàn công binh trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu với nhiệm vụ vượt sông, sửa đường, làm công sự, bộc phá và huấn luyện cán bộ. Thực hiện quyết định này, ngày 15/1/1951, Trung đoàn Công binh 151 chính thức ra đời tại khu rừng Khuôn Lâm (Phú Lương, Thái Nguyên).[1][2]

Bộ đội Công binh đã liên tục tham gia và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong nhiều chiến dịch lớn như:Biên Giới (1950),Trần Hưng Đạo (1951), Hoàng Hoa Thám (1951), Quang Trung – Hòa Bình (1951–1952), Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953) và Đông Xuân 1953–1954.

Đặc biệt, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), lực lượng Công binh đã xuất sắc thực hiện nhiệm vụ: sửa chữa, mở mới hàng trăm km đường và cầu phục vụ vận chuyển, xây dựng tuyến đường kéo pháo, đồng thời làm các trận địa pháo lựu, pháo phòng không, góp phần quan trọng vào phương châm tác chiến “đánh chắc, tiến chắc” của Bộ.[1][2][3]

Bộ Tư lệnh Công binh được thành lập ngày 28 tháng 6 năm 1965 theo Quyết định 102/QP của Bộ Quốc phòng.

Lãnh đạo Binh chủng Công binh

[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan trực thuộc

[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn vị trực thuộc

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Trường Đại học Ngô Quyền
  • Viện Kỹ thuật Công binh
  • Ban Quản lý dự án các công trình DKI (Nhà giàn trên biển)
  • Ban Quản lý dự án 756
  • Trung tâm Tư vấn khảo sát thiết kế công trình Quốc phòng (Giám đốc: Đại tá Nguyễn Thanh Quang).
  • Trung tâm Công nghệ Xử lý Bom mìn (BOMICEN). Thành lập tháng 9 năm 1996. Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2005).
  • Trường Trung cấp kỹ thuật Công binh
  • Lữ đoàn Công binh Công trình 229
  • Lữ đoàn Công binh Vượt sông 239
  • Lữ đoàn Công binh Vượt sông 249
  • Lữ đoàn Công binh Công trình 279
  • Lữ đoàn Công binh Công trình 72
  • Lữ đoàn Công binh Công trình 293
  • Công ty 756
  • Công ty 49
  • Công trường 101-79

Tư lệnh qua các thời kỳ

[sửa | sửa mã nguồn]
TT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Nguyễn Văn Tình 1946-29/5/1946 Cục trưởng đầu tiên (Công chính Giao thông Cục trưởng)[5]
2 Nguyễn Duy Thanh 29/5/1946-31/12/1946 Công chính Giao thông Cục trưởng[6]
3 Lê Sĩ Ngạc 1/1/1947- Công chính Giao thông Cục trưởng[7]
4 Hoàng Đạo Thúy 1948-1948 Đại tá (1958) Cục trưởng Cục Quân huấn
Cục trưởng Cục Thông tin Liên lạc
Cục trưởng
5 Lê Khắc 1948-1951 Đại tá (1950) Bộ trưởng Bộ Ngoại Thương (1980-1986) Cục trưởng
6 Trần Đình Xu
(1921-1969)
1956-1961 Đại tá (1961) Tư lệnh Quân khu Sài gòn-Gia định
7 Phạm Hoàng 1961-1965 Cục trưởng Cục Công binh
8 Phạm Hoàng 1965-1970 Tư lệnh Binh chủng Công binh đầu tiên
9 Trần Bá Đăng 1970-1987
10 Vũ Trọng Hà 1987-1989 Thiếu tướng
11 Nguyễn Hữu Yên 1989-1995 Thiếu tướng (1990)
12 Đặng Văn Phúc 1995-2000 Đại tá
13 Trương Quang Khánh
(1953-)
2000-2004 Thiếu tướng (2000)

Trung tướng (2006) Thượng tướng (2011)

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (2009-2016) Ủy viên Trung ương Đảng (2006-2016)
14 Hoàng Kiền 2004-2007 Thiếu tướng (2006) Trưởng Ban Quản lý Dự án 47, BTTM (2007-2014) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (2015), Giải thưởng Hồ Chí Minh (2017)
15 Dương Đức Hòa 2007-2010 Thiếu tướng (2007) Trung tướng (2011)
Tư lệnh Quân khu 2 (2011-2016)
Ủy viên Trung ương Đảng (2011-2016)
16 Phạm Quang Xuân 2010-2014 Thiếu tướng (2010)
Trung tướng (2015)
Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng (2014-2016)
17 Trần Hồng Minh 2014-2016 Thiếu tướng (2014)

Trung tướng (2018)

Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng (2021-2024)

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (2024-2025) Bộ trưởng Bộ Xây dựng (2025-nay)

Ủy viên Trung ương Đảng (2021-nay)
18 Phùng Ngọc Sơn 2016-6.2020 Thiếu tướng (2016) Phó chủ nhiệm kiêm TMT Tổng cục Kỹ thuật (2020-nay)
19 Trần Trung Hòa 6.2020- nay Thiếu tướng

Chính ủy qua các thời kỳ

[sửa | sửa mã nguồn]
TT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
Đặng Quốc Bảo
(1927-)
1962-1965 Thiếu tướng (1974) Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị (1955-1957)
Trưởng ban Khoa giáo Trung ương
Chu Thanh Hương 1965-1974 Thiếu tướng
Trần Thế Môn
(1915-2009)
1974-1977 Thiếu tướng (1974) Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương (1977-1979)
Nguyễn Huân
(1926-2017)
1977-1982 Trung tướng Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương (1981-1993)
Nguyễn Đình Ích 1982-1983 Thiếu tướng
Trần Bình 1983-1995 Thiếu tướng
Hoàng Khánh Hưng 1995-2002 Thiếu tướng Trung tướng (2008)
Chính ủy Học viện Kỹ thuật Quân sự
Mai Ngọc Linh 2002-2007 Thiếu tướng (2004)
Hoàng Sĩ Nam 2007-2013 Thiếu tướng (2008)
Trần Xuân Mạnh 2013-2017 Thiếu tướng (2013)
Lê Xuân Cát 2017-6/2022 Thiếu tướng (12/2017)
Đinh Ngọc Tường 6/2022- nay Thiếu tướng(11/2022)

Tham mưu trưởng qua các thời kỳ

[sửa | sửa mã nguồn]

Khen thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Trang bị phương tiện

[sửa | sửa mã nguồn]
Hình ảnh Phương tiện Chủng loại Số lượng Nguồn gốc Chi tiết
TMM-3M Cầu cơ giới tự hành hạng nặng  Nga
AM-50S Cầu cơ giới tự hành hạng nặng  Cộng hòa Séc
MS-20 Daglezja Cầu cơ giới tự hành hạng nặng 4 hệ thống[8][9]  Ba Lan
IMR-2 Xe kỹ thuật công binh bọc thép 2  Liên Xô Dựa trên khung gầm xe tăng T-72.[10]
EOV-4421 Máy xúc  Liên Xô
PZM-2 Máy đào hào  Liên Xô
TMK-2 Máy đào hào  Liên Xô
PTS-M Phương tiện lội nước  Liên Xô [11]
GSP-55 Phà tự hành ≥3  Liên Xô Có ít nhất 3 hệ thống được vận hành bởi Lữ đoàn Công binh 575.[12][13]
PMP Cầu phao di động ≥3  Liên Xô Có ít nhất 3 bộ cầu phao hiện đang trong biên chế.[11][14][15]
VSN-1500 Ca nô máy  Việt Nam Trang bị cho các đơn vị công binh như một phương tiện vượt sông hạng nhẹ.[16]
BMK-T Ca nô máy  Liên Xô Trang bị cho các đơn vị công binh vượt sông.[17]
BMK-150 Ca nô máy  Liên Xô Trang bị cho các đơn vị công binh vượt sông.[15]
BMK-130 Ca nô máy  Liên Xô Trang bị cho các đơn vị công binh vượt sông.[15]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c d e f Nguyễn Văn Tùng (tháng 12 năm 2024). "Binh chủng Công binh phát huy truyền thống "mở đường thắng lợi", hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ". Báo Nhân dân. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
  2. ^ a b c d e f g "Giới thiệu chung về Binh chủng Công binh". Bộ Quốc phòng. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
  3. ^ Đại tá-ThS TRẦN ĐÌNH QUANG (ngày 14 tháng 4 năm 2014). "Công tác vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ". Báo Quân đội Nhân dân. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
  4. ^ "Cục Chính trị Binh chủng Công binh: Đón nhận Huân chương BVTQ hạng Nhì". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2014.
  5. ^ "Sắc lệnh số 35 về việc cử các cán bộ lãnh đạo các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Chính phủ Việt Nam. ngày 25 tháng 3 năm 1946. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
  6. ^ "Sắc lệnh số 82 (82B) – Về việc cử ông Nguyễn Duy Thanh đi công cán sang Pháp". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Chính phủ Việt Nam. ngày 29 tháng 5 năm 1946. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
  7. ^ "Sắc lệnh số 213 – Về việc cử ông Lê Sĩ Ngạc giữ chức Cục trưởng Cục Giao thông Công chính thay ông Nguyễn Duy Thanh". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Chính phủ Việt Nam. ngày 20 tháng 11 năm 1946. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2025.
  8. ^ Vietnamese army gets Polish mechanized bridges MS-20 Daglezja Lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2021 tại Wayback Machine Army Recognition
  9. ^ Łukasz, Pacholski (ngày 6 tháng 5 năm 2021). "Những cây cầu MS-20S xuất khẩu đầu tiên đã được giao cho khách hàng". ZBIAM (bằng tiếng Ba Lan).
  10. ^ "Xe công binh IMR-2 đa năng của quân đội Việt Nam". VietQ. ngày 11 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2025.
  11. ^ a b "Những "cánh tay" công binh". Hà Nội Mới. ngày 5 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2025.
  12. ^ "Đoàn cán bộ, học viên Học viện Quốc phòng thăm và làm việc tại Lữ đoàn Công binh 575 (Quân khu 1)". Vietnam People's Army Newspaper. ngày 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2023.
  13. ^ "Phà tự hành GSP của Công binh Việt Nam tuyệt cỡ nào 2014".
  14. ^ "Lữ đoàn Công binh 414 (Quân khu 4): Coi trọng thực hành, gắn với thực tế". People's Army Newspaper (Vietnam). ngày 18 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2023.
  15. ^ a b c "Những bí mật vượt sóng của lính công binh". Công an Nhân dân. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2025.
  16. ^ "Giá liên kết máy đẩy với thuyền vượt sông nhẹ". Vietnam People's Army Newspaper. ngày 7 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2023.
  17. ^ "Ảnh: Báo Nga ngạc nhiên khi Việt Nam tự động hóa cả nó, sản xuất hàng loạt UAV". An ninh Thủ Đô. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2025.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]