Đền Hai Bà Trưng (Đồng Nhân)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đền Hai Bà Trưng
Di tích quốc gia đặc biệt
Đền Đồng Nhân.jpg
Thờ phụng
Trưng Nữ vương
Trưng Trắc
14 - 43
Công trạngthủ lĩnh khởi nghĩa

Trưng Nhị
14 - 43
Công trạngthủ lĩnh khởi nghĩa
Thông tin
Đối tượng thờnhân vật lịch sử
Địa chỉViệt Nam Việt Nam
Tọa độ21°00′44″B 105°51′24″Đ / 21,012349°B 105,856785°Đ / 21.012349; 105.856785
Di tích đặc biệt
Đền - Chùa - Đình Hai Bà Trưng
Phân loạiDi tích kiến trúc nghệ thuật
Ngày nhận danh hiệungày 31 tháng 12 năm 2019
Một phần củaĐền - Chùa - Đình Hai Bà Trưng
Văn bản quyết định1954/QĐ-TTg[1]
Di tích quốc gia
Đền Hai Bà
Phân loạiDi tích lịch sửvăn hóa
Ngày nhận danh hiệu28 tháng 4 năm 1962
Văn bản quyết định313-VH/VP[2]

Đền thờ Hai Bà Trưng, còn gọi là Đền Đồng Nhân vốn dựng từ năm 1160 đời vua Lý Anh Tông ở phường Bố Cái, tức là bãi Đồng Nhân, bên bờ sông Hồng. Năm 1819, vì bãi bị lở, dân dời đền vào khu vực trường Giảng Võ cũ của thời Lê, thuộc đất thôn Hương Viên, tổng Thanh Nhàn huyện Thọ Xương tức địa điểm hiện nay.

Thần tích thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đời Lý Anh Tông, niên hiệu Đại Định thứ ba (1142) có pho tượng đá nổi trên dòng Nhị Hà, tỏa sáng cả một đoạn sông, thuyền bè không dám đến gần. Vua Anh Tông biết chuyện, sai người ra đón rước nhưng không được. Theo ý của các bô lão, người ta lấy vải đỏ buộc vào tượng, làm lễ rồi rước vào. Đó là một pho thượng cao lớn, đầu đội mũ trụ, thân mặc áo giáp, hai tay chỉ lên trời, một chân quỳ, một chân ngả ra. Tương truyền, pho tượng đá ấy là do khí thiêng của Hai Bà Trưng hóa thành sau khi tự vẫn trên sông Hát.

Vua cho dựng đền thờ Hai Bà Trưng ở ngay khu đất bãi sông của làng Đồng Nhân. Đến năm Gia Long thứ 18 (1819), do đất bị xói lở, dân làng phải dời ngôi đền tới khu Cựu Võ Sở của triều Lê ở thôn Hương Viên, nhưng vẫn giữ tên đền cũ. Làng Đồng Nhân khi đó thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Từ ngày 17-7-1914, nơi đây chính thức được sáp nhập vào địa phận Hà Nội.

Từ nhiều thế kỷ qua, nơi đây đã trở thành ngôi đền thờ Hai Bà Trưng linh thiêng bậc nhất ở kinh đô Thăng Long.

Đền được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hoá từ năm 1962.

Vị trí và cảnh quan[sửa | sửa mã nguồn]

Đền thờ Hai Bà Trưng nằm ở số 12 phố Hương Viên, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Trước mặt đền có hồ bán nguyệt, đường vào qua bốn cột trụ gạch đồ sộ, cây cối sum sê, bên trái là khoảng sân rộng, dưới bóng đa cổ thụ có tấm bia đá đặt trên lưng rùa. Văn bia do Dương Duy Thanh (1804-1861), đốc học Hà Nội soạn năm 1848[3].

Trong đền có tượng Hai Bà, bà chị Trưng Trắc mặc áo vàng, bà em Trưng Nhị mặc áo đỏ, đầu đội mũ phù dung, tượng to hơn người thật, tay giơ cao trước mặt như đang hiệu triệu quần chúng. Hai bên là tượng 12 nữ tướng đã theo Hai Bà khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định, rửa nhục nước, trả thù chồng, thu lại 65 thành trì ở Lĩnh Nam vào mùa xuân năm 40.

Bên trái đền có ngôi chùa Viên Minh thờ Phật, cũng là ngôi chùa cổ.

Liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 4 tháng 4 năm 1926, nhân dân Hà Nội đã tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh, kích động tinh thần đoàn kết chống Pháp tại sân đền Đồng Nhân này.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Quyết định 1954/QĐ-TTg 2019 xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt”. Thư viện pháp luật.
  2. ^ “Quyết định 313-VH/VP xếp hạng những di tích, danh thắng cảnh toàn miền Bắc”. Thư viện pháp luật.
  3. ^ Chương Thâu. Dương Bá Trạc, con người và thơ văn. Hà Nội: nxb Phụ nữ, 2003. trang 12.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]