Nguyễn Văn Quyết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nguyễn Văn Quyết
Thông tin cá nhân
Tên khai sinh Nguyễn Văn Quyết
Ngày sinh 1 tháng 7, 1991 (31 tuổi)
Nơi sinh Thạch Thất, Hà Tây, Việt Nam
Chiều cao 1,72 m
Vị trí Tiền đạo
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Hà Nội
Số áo 10
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2005–2008 Thể Công
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2008–2010 Viettel 33 (8)
2011– Hà Nội 238 (91)
Đội tuyển quốc gia
2009–2010 U-19 Việt Nam 21 (5)
2011–2018 U-23 Việt Nam 19 (11)
2011– Việt Nam 53 (15)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến 2 tháng 9 năm 2022
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia chính xác tính đến 27 tháng 9 năm 2022

Nguyễn Văn Quyết (sinh ngày 1 tháng 7 năm 1991) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Việt Nam đang thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Hà Nộiđội tuyển quốc gia Việt Nam.

Trưởng thành từ lò đào tạo Thể Công, Nguyễn Văn Quyết đã dành phần lớn sự nghiệp của mình cống hiến cho câu lạc bộ Hà Nội, nơi anh đã cùng đội bóng giành 4 chức vô địch V.League 1, 2 Cúp quốc gia và 4 Siêu cúp quốc gia. Anh hiện là thủ quân đồng thời cũng là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội bóng Thủ đô.

Ở cấp độ quốc tế, Văn Quyết hiện đang đứng thứ 4 trong danh sách các cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển quốc gia Việt Nam với 15 bàn thắng.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Văn Quyết sinh năm 1991 tại Hữu Bằng, Thạch Thất, Hà Tây (nay là Hà Nội). Anh là con út trong một gia đình có 5 anh chị em. Từ nhỏ, anh đã có ước mơ trở thành một cầu thủ bóng đá. Gia đình anh làm nghề kinh doanh đồ gỗ nên kinh tế rất khá giả, con đường đến với bóng đá của Quyết cũng không quá trắc trở so với bạn bè đồng trang lứa.[1]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thể Công / Viettel[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2005, Nguyễn Văn Quyết đến tập luyện tại lò đào tạo trẻ Thể Công với mục tiêu trở thành cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. Dưới sự đào tạo của các chuyên gia lò Thể Công, anh nhanh chóng chứng minh được tài năng của mình.

Mùa giải 2009, Văn Quyết là đội trưởng của đội trẻ Viettel thi đấu tại giải hạng Nhì quốc gia. Mùa 2010, Thể Công giải thể, Quyết cùng đội Viettel tiếp tục thi đấu tại giải hạng Nhất quốc gia 2010. Anh là đội trưởng U-19 Việt Nam đánh bại U-21 Thái Lan để giành chức vô địch Giải U-21 Quốc tế Báo Thanh Niên năm 2010. Văn Quyết cũng được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu này.[2]

Kết thúc mùa giải 2010, Quyết là vua phá lưới nội tại giải hạng Nhất với 8 bàn thắng. Đội Viettel sau đó được chuyển giao cho Tập đoàn T&T của bầu Hiển và đổi tên thành "Câu lạc bộ Hà Nội" (tiền thân của câu lạc bộ Sài Gòn).[3]

Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Sau mùa giải 2010 với 8 bàn thắng ghi được, Văn Quyết được câu lạc bộ Hà Nội T&T để mắt tới và trở thành cầu thủ của đội bóng này từ đầu năm 2011.[4] Anh nhanh chóng khẳng định được giá trị của mình bằng lối chơi thông minh, tốc độ và kỹ thuật tốt.

Văn Quyết được khoác áo đội U-23 Việt Nam thi đấu tại SEA Games 26 với mục tiêu bước lên đỉnh cao nhất khu vực.[5] Anh thi đấu khá năng nổ và ghi được 5 bàn thắng cho U-23 Việt Nam, trong đó có một cú hat-trick vào lưới đội tuyển U-23 Brunei, được xếp vào top 10 hat-trick nhanh nhất thế giới.[6]

Mùa giải 2012, Văn Quyết giành giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất tháng 1 của V.League.[7] Kết thúc mùa giải, Văn Quyết là cầu thủ nội ghi được nhiều bàn thắng nhất với 12 pha lập công dù không đá tiền đạo nhưng anh đã phải nhận tới 10 thẻ vàng và một thẻ đỏ.[8]

Ngày 12 tháng 3 năm 2016, trong những phút cuối của trận đấu Hà Nội T&T gặp Khánh Hòa, Văn Quyết đã phải nhận thẻ đỏ sau tình huống xô ngã trọng tài.[9] Chiều ngày 14 tháng 3, anh chính thức nhận án phạt từ ban kỷ luật VFF là cấm thi đấu 5 trận và phạt 15 triệu đồng.[10] Trước đó, anh cũng bị loại khỏi danh sách tập trung đội tuyển Việt Nam chuẩn bị cho hai trận đấu gặp Đài Loan (ngày 24 tháng 3) và Iraq (ngày 29 tháng 3).[11]

Mùa 2020 là mùa giải Văn Quyết đã để lại dấu ấn đậm nét trong hành trình vô địch Cúp Quốc gia của câu lạc bộ Hà Nội với 5 bàn thắng và 2 đường kiến tạo. Chỉ tính riêng tại V.League, anh có 6 bàn thắng và 7 đường kiến tạo góp công giúp đội bóng Thủ đô về nhì tại V.League 2020. Tại lễ trao giải V.League Awards 2020, anh được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất.[12] Ngày 12 tháng 1 năm 2021, Văn Quyết có lần đầu tiên đoạt giải Quả bóng vàng Việt Nam.[13] Sau đó, anh tiếp tục được bầu chọn là Vận động viên tiêu biểu của năm 2020. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử giải thưởng này, một cầu thủ bóng đá đứng đầu danh sách 10 Vận động viên tiêu biểu của năm.[14]

Ngày 31 tháng 7 năm 2022, Văn Quyết vượt qua Hoàng Vũ Samson để trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho câu lạc bộ Hà Nội với 137 bàn thắng tính trên mọi đấu trường.[15] Cuối tháng 8, anh đã giành giải thưởng cầu thủ xuất sắc nhất tháng của V.League khi cùng Hà Nội giành 3 chiến thắng và 1 trận hòa.[16] Phong độ ổn định trong màu áo câu lạc bộ đã giúp anh được huấn luyện viên Park Hang-seo triệu tập trở lại đội tuyển quốc gia trong đợt tập trung tháng 9.[17] Tại giải giao hữu quốc tế Hưng Thịnh 2022, Văn Quyết đã thi đấu ấn tượng và ghi bàn trong cả 2 trận đấu của đội tuyển Việt Nam.[18]

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2015, Nguyễn Văn Quyết kết hôn với Nguyễn Huyền Mi (sinh năm 1990), con gái cả của cựu chủ tịch câu lạc bộ bóng đá Sài Gòn Nguyễn Giang Đông.[19] Cặp đôi đã có với nhau một cậu con trai tên là Nguyễn Văn Quân.[20][21]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 27 tháng 9 năm 2022[22]
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Việt Nam 2011 5 1
2012 9 2
2013 3 0
2014 11 4
2015 4 0
2016 10 4
2017 5 2
2018 4 0
2022 2 2
Tổng cộng 53 15

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng của đội tuyển Việt Nam được ghi trước.
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 29 tháng 6 năm 2011 Sân vận động Thống NhấtThành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  Ma Cao 6–0 6–0 Vòng loại World Cup 2014
2. 10 tháng 6 năm 2012 Sân vận động Vượng GiácVượng Giác, Hồng Kông  Hồng Kông 1–1 2–1 Giao hữu
3. 30 tháng 11 năm 2012 Sân vận động RajamangalaBăng Cốc, Thái Lan  Thái Lan 1–2 1–3 AFF Cup 2012
4. 2 tháng 7 năm 2014 Sân vận động Gò ĐậuThủ Dầu Một, Việt Nam  Myanmar 6–0 6–0 Giao hữu
29 tháng 10 năm 2014 Sân vận động Thống NhấtThành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Bahrain U-23 Baharain 2–0 3–0 Giao hữu không chính thức
5. 9 tháng 11 năm 2014 Sân vận động Quốc gia Mỹ ĐìnhHà Nội, Việt Nam  Palestine 1–3 1–3 Giao hữu
6. 16 tháng 11 năm 2014 Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Việt Nam  Malaysia 2–1 3–1 Giao hữu
7. 7 tháng 12 năm 2014 Sân vận động Shah AlamShah Alam, Malaysia  Malaysia 2–1 2–1 AFF Cup 2014
27 tháng 7 năm 2015 Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Việt Nam Anh Manchester City 1–8 1–8 Giao hữu không chính thức
8. 31 tháng 5 năm 2016 Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Việt Nam  Syria 2–0 2–0 Giao hữu
9. 6 tháng 6 năm 2016 Sân vận động ThuwunnaYangon, Myanmar  Singapore 2–0 3–0 (h. p.) AYA Bank Cup 2016
10. 20 tháng 11 năm 2016 Sân vận động Thuwunna, Yangon, Myanmar  Myanmar 1–0 2–1 AFF Cup 2016
11. 3 tháng 12 năm 2016 Sân vận động PakansariBogor, Indonesia  Indonesia 1–1 1–2 AFF Cup 2016
12. 5 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Olympic Phnôm PênhPhnôm Pênh, Campuchia  Campuchia 1–0 2–1 Vòng loại Asian Cup 2019
13. 10 tháng 10 năm 2017 Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Việt Nam  Campuchia 2–0 5–0 Vòng loại Asian Cup 2019
14. 21 tháng 9 năm 2022 Sân vận động Thống NhấtThành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  Singapore 1–0 4–0 Giải Hưng Thịnh 2022
15. 27 tháng 9 năm 2022 Sân vận động Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  Ấn Độ 3–0 3–0 Giải Hưng Thịnh 2022

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Nội

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

U-19 Việt Nam
U-23 / Olympic Việt Nam
Việt Nam

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Bất ngờ với gia thế "khủng" của một số cầu thủ Việt Nam”. Đời sống Pháp luật. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2022.
  2. ^ “Đánh bại Thái Lan, U19 Việt Nam giành chức vô địch”. Báo điện tử Dân trí. 31 tháng 10 năm 2010.
  3. ^ “Sài Gòn FC và kiếp chìm nổi giữa V.League”. Công an Nhân dân. 8 tháng 8 năm 2022.
  4. ^ “Đoàn thể thao Hà Nội T&T xuất quân mùa giải 2011”. VFF. 5 tháng 1 năm 2011.
  5. ^ “Các đội công bố danh sách tham dự SEA Games 26”. VFF. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  6. ^ “Văn Quyết đi vào lịch sử bóng đá thế giới”. hanoimoi.com.vn. Hà Nội Mới. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.
  7. ^ “Hà Nội T&T đoạt cúp đúp giải thưởng tháng 1 giải VĐQG Eximbank 2012”. VFF. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012.
  8. ^ “Văn Quyết xấu chơi nhất V-League 2012”. VnExpress. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  9. ^ “Văn Quyết nhận thẻ đỏ vì xô ngã trọng tài”. Bongdaplus. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019.
  10. ^ “Văn Quyết bị cấm thi đấu 5 trận, nộp phạt 15 triệu đồng”. Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2016.
  11. ^ “Văn Quyết bị loại khỏi ĐTVN vì đẩy ngã trọng tài”. Zing News. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2016.
  12. ^ “Lễ trao giải V.League Awards 2020: Vinh danh những cá nhân và tập thể xuất sắc nhất mùa giải”. VTV. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2020.
  13. ^ “Văn Quyết lần đầu đoạt quả bóng Vàng Việt Nam”. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2022.
  14. ^ “Văn Quyết được bầu chọn là vận động viên tiêu biểu của thể thao Việt Nam năm 2020”. Báo Quân đội nhân dân. 23 tháng 1 năm 2021.
  15. ^ “Tiền vệ Nguyễn Văn Quyết lập kỷ lục mới trong lịch sử đội bóng Thủ đô”. Website Hà Nội FC. 31 tháng 7 năm 2022.
  16. ^ An Nguyên (29 tháng 8 năm 2022). “Hà Nội FC thâu tóm danh hiệu tháng 8”. laodong.vn. Báo Lao động.
  17. ^ Hiếu Lương (12 tháng 9 năm 2022). “Văn Quyết trở lại tuyển Việt Nam sau hai năm”. VnExpress.
  18. ^ Anh Nguyễn (27 tháng 9 năm 2022). "Nổ súng" cả 2 trận, Văn Quyết được CĐV Việt Nam khen hết lời”. Báo Dân Việt.
  19. ^ “Gia thế nhà vợ của Văn Quyết - cầu thủ gỡ hòa cho U23 Việt Nam”. Vietnamnet. 1 tháng 9 năm 2018.
  20. ^ “Văn Quyết đưa con trai lên nhận giải Cầu thủ hay nhất V-League”. VnExpress. 21 tháng 11 năm 2020.
  21. ^ “Con trai Văn Quyết cùng U23 Việt Nam ra quân SEA Games 31”. VnExpress. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2022.
  22. ^ “Nguyễn Văn Quyết”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2018.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]