Nguyễn Văn Quyết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nguyễn Văn Quyết
Thông tin cá nhân
Tên khai sinh Nguyễn Văn Quyết
Ngày sinh 27 tháng 6, 1991 (30 tuổi)
Nơi sinh Thạch Thất, Hà Tây, Việt Nam
Chiều cao 1,72 m
Vị trí Tiền đạo cánh/Hộ công
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Hà Nội
Số áo 10
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2005–2008 Thể Công
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2008–2010 Sài Gòn 33 (8)
2010– Hà Nội 253 (114)
Đội tuyển quốc gia
2009–2010 U-19 Việt Nam 21 (5)
2011–2018 U-23 Việt Nam 19 (11)
2011– Việt Nam 51 (14)
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến ngày 4 tháng 9 năm 2018
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia chính xác tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2018

Nguyễn Văn Quyết (sinh ngày 27 tháng 6 năm 1991) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Việt Nam đang thi đấu ở vị trí tiền đạo, hiện anh là đội trưởng của Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội và là thành viên của đội tuyển quốc gia Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Văn Quyết sinh tại Hữu Bằng, Thạch Thất, Hà Tây (nay là Hà Nội). Anh là con út trong một gia đình có 5 anh chị em. Từ nhỏ anh đã có ước mơ trở thành một cầu thủ bóng đá. Gia đình anh làm nghề kinh doanh đồ gỗ nên kinh tế rất khá giả, con đường đến với bóng đá của Quyết cũng không quá trắc trở so với nạn bè đồng trang lứa.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thể Công[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2005, anh đến tập luyện tại lò đào tạo trẻ Thể Công với mục tiêu trở thành cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. Dưới sự đào tạo của các chuyên gia lò Thể Công, Văn Quyết nhanh chóng chứng minh được tài năng của mình. Anh là đội trưởng của đội tuyển U-19 Việt Nam đánh bại U-21 Thái Lan để giành chức vô địch Giải U-21 Quốc tế Báo Thanh Niên năm 2010. Văn Quyết cũng được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất giải đấu này.[1]

Viettel[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc Thể Công không còn góp mặt ở V-League, Văn Quyết thi đấu cho đội trẻ Viettel trong vai trò đội trưởng. Sau đó, đội trẻ Viettel được chuyển giao cho bầu Hiển, đội đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội và tiếp tục thi đấu tại Giải hạng Nhất. Năm 2016, sau khi lên V.League, đội bóng này chuyển trụ sở vào Thành phố Hồ Chí Minh và lấy tên là Câu lạc bộ bóng đá Sài Gòn.

Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Thể Công giải thể và chuyển giao cho Viettel, không lâu sau đó được Hà Nội T&T mua lại. Anh được Hà Nội T&T cho thi đấu cho Câu lạc bộ Hà Nội tại giải Hạng Nhất năm 2010. Mùa này, anh ghi được 8 bàn.

Anh được CLB Hà Nội T&T để mắt tới và trở thành cầu thủ của đội bóng này từ đầu năm 2011. Anh nhanh chóng khẳng định được giá trị của mình bằng lối chơi thông minh, tốc độ và kỹ thuật tốt.

Văn Quyết được khoác áo đội U-23 Việt Nam thi đấu tại SEA Games 26 với mục tiêu bước lên đỉnh cao nhất khu vực. Anh thi đấu khá năng nổ và ghi được 5 bàn thắng cho đội tuyển Việt Nam, trong đó có một cú hat-trick vào lưới đội tuyển U-23 Brunei, được xếp vào top 10 hat-trick nhanh nhất thế giới.[2]

Mùa giải 2012, Nguyễn Văn Quyết giành giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất tháng 1 của V-League.[3] Anh cũng là cầu thủ nội ghi được nhiều bàn thắng nhất mùa giải với 12 pha lập công.

2020 là mùa giải Nguyễn Văn Quyết đã để lại dấu ấn đậm nét trong hành trình vô địch Cúp Quốc gia và đoạt ngôi á quân V.League 2020 của CLB Hà Nội. Chỉ tính riêng V.League, Văn Quyết đã có 6 bàn thắng và 7 đường kiến tạo, cùng với 5 bàn thắng và 2 kiến tạo cho CLB Hà Nội tại Cúp Quốc gia.

Quả bóng vàng 2020[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2021, anh đoạt giải Quả bóng vàng Việt Nam. Sau sự kiện này rất nhiều trang mạng xã hội đã có những ý kiến trái chiều, đa phần họ cho rằng anh không xứng đáng nhận giải thưởng này hơn các cầu thủ khác được nằm trong đề cử.

Vận động viên tiêu biểu thể thao Việt Nam 2020[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2021, Nguyễn Văn Quyết được bầu chọn Vận động viên tiêu biểu của năm 2020, Giải thưởng do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng cục Thể dục Thể thao và Ủy ban Olympic Việt Nam đứng ra tổ chức. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử giải thưởng này, một vận động viên bóng đá đứng đầu danh sách 10 Vận động viên tiêu biểu của năm.[4] Năm trước, Nguyễn Quang HảiĐỗ Hùng Dũng cũng lọt vào danh sách 10 vận động viên tiêu biểu năm 2019 nhưng đứng vị trí 4 và 5[5], trong khi Nguyễn Quang Hải, Nguyễn Anh ĐứcTrần Đình Trọng là các cầu thủ bóng đá lọt vào danh sách 10 vận động viên tiêu biểu năm 2018 nhưng cũng chỉ ở các vị trí 2, 9 và 10[6].

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 24 tháng 12 năm 2018.
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
 Việt Nam 2011 5 1
2012 8 2
2013 4 0
2014 11 3
2015 4 1
2016 10 4
2017 5 2
2018 4 0
Tổng cộng 51 13

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng của đội tuyển Việt Nam được ghi trước.
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 29 tháng 6 năm 2011 Sân vận động Thống NhấtThành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  Ma Cao 6–0 6–0 Vòng loại World Cup 2014
2. 10 tháng 6 năm 2012 Sân vận động Vượng GiácVượng Giác, Hồng Kông  Hồng Kông 1–1 2–1 Giao hữu
3. 30 tháng 11 năm 2012 Sân vận động RajamangalaBăng Cốc, Thái Lan  Thái Lan 1–2 1–3 AFF Cup 2012
4. 2 tháng 7 năm 2014 Sân vận động Gò ĐậuThủ Dầu Một, Việt Nam  Myanmar 6–0 6–0 Giao hữu
29 tháng 10 năm 2014 Sân vận động Thống NhấtThành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Bahrain U23 Baharain 2–0 3–0 Giao hữu không chính thức
5. 9 tháng 11 năm 2014 Sân vận động Quốc gia Mỹ ĐìnhHà Nội, Việt Nam  Palestine 1–3 1–3 Giao hữu
6. 16 tháng 11 năm 2014 Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Việt Nam  Malaysia 2–1 3–1 Giao hữu
7. 7 tháng 12 năm 2014 Sân vận động Shah AlamShah Alam, Malaysia  Malaysia 2–1 2–1 AFF Cup 2014
27 tháng 7 năm 2015 Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Việt Nam Anh Manchester City 1–8 1–8 Giao hữu không chính thức
8. 31 tháng 5 năm 2016 Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Việt Nam  Syria 2–0 2–0 Giao hữu
9. 6 tháng 6 năm 2016 Sân vận động ThuwunnaYangon, Myanmar  Singapore 2–0 3–0 (h. p.) AYA Bank Cup 2016
10. 20 tháng 11 năm 2016 Sân vận động Thuwunna, Yangon, Myanmar  Myanmar 1–0 2–1 AFF Cup 2016
11. 3 tháng 12 năm 2016 Sân vận động PakansariBogor, Indonesia  Indonesia 1–1 1–2 AFF Cup 2016
12. 5 tháng 9 năm 2017 Sân vận động Olympic Phnôm PênhPhnôm Pênh, Campuchia  Campuchia 1–0 2–1 Vòng loại Asian Cup 2019
13. 10 tháng 10 năm 2017 Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Việt Nam  Campuchia 2–0 5–0 Vòng loại Asian Cup 2019

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2015, Văn Quyết kết hôn với Nguyễn Huyền Mi (sinh năm 1990), con gái cả của cựu chủ tịch câu lạc bộ bóng đá Sài Gòn Nguyễn Giang Đông. Cặp đôi đã có với nhau một người con trai tên là Nguyễn Văn Quân.[7]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Nội

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

U-19 Việt Nam

U-23 / Olympic Việt Nam

Việt Nam

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Đánh bại Thái Lan, U19 Việt Nam giành chức vô địch”. Báo điện tử Dân trí. ngày 31 tháng 10 năm 2010.
  2. ^ VIDEO: Văn Quyết đi vào lịch sử bóng đá thế giới Lưu trữ 2013-04-27 tại Wayback Machine, ngày 14 tháng 11 năm 2011.
  3. ^ Hà Nội T&T đoạt cúp đúp giải thưởng tháng 1 giải VĐQG Eximbank 2012 Lưu trữ 2012-09-20 tại Wayback Machine, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam, ngày 10 tháng 2 năm 2012.
  4. ^ Bầu chọn vận động viên tiêu biểu 2020: Văn Quyết là “của hiếm”
  5. ^ 10 vận động viên tiêu biểu toàn quốc năm 2019
  6. ^ 10 vận động viên tiêu biểu toàn quốc năm 2018
  7. ^ “Gia thế nhà vợ của Văn Quyết - cầu thủ gỡ hòa cho U23 Việt Nam”. Vietnamnet. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2019.
  8. ^ “Văn Quyết lần đầu đoạt quả bóng Vàng Việt Nam”.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]