Tiếp quản Thủ đô Hà Nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Sự kiện Tiếp quản Thủ đô Hà Nội, với tên gọi chính thức là Giải phóng Thủ đô[1], là sự kiện xảy ra đúng 8h ngày 10 tháng 10 năm 1954, các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào từ các cửa ô, tiếp quản Thủ đô Hà Nội sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.[2]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng tháng tám, Việt Nam tuyên bố độc lập, tổ chức Tổng tuyển cử toàn quốc năm 1946,[3][4] người Pháp đã cố gắng tái thiết lập chế độ thuộc địa. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát động một cuộc chiến tranh du kích lâu dài và đẫm máu nhằm chống lại thực dân Pháp – đó chính là Chiến tranh Đông Dương. Cuối cùng, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người đã đánh bại quân Pháp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày 01/08/1954, Hiệp định Geneva kết thúc chiến tranh chính thức có hiệu lực. Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiến thắng, tiến vào Hà Nội, còn người Pháp thất trận, thì chuẩn bị rút quân.[5]

Theo Hiệp định Genève, 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành 2 khu tập kết quân sự, không phải 2 quốc gia riêng biệt để chờ Tổng tuyển cử năm 1956. Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ tập kết ở bắc vỹ tuyến 17, Quân đội Pháp và Quân đội Quốc gia Việt Nam tập trung ở nam vỹ tuyến 17. Tập kết dân sự và chính trị theo hình thức tự nguyện.[6]

Theo Hiệp định Genève, Hà Nội nằm trong khu vực tập kết 80 ngày của quân đội Pháp. Đề phòng âm mưu của Pháp lợi dụng thời gian này để phá hoại các cơ sở kinh tế, văn hóa, lôi kéo người di cư vào Nam, lực lượng Việt Minh ở Hà Nội khẩn trương chuẩn bị cho việc tiếp quản. Công việc này đòi hỏi phải chuẩn bị chu đáo, đề phòng, cảnh giác về quân sự, sự phối hợp giữa các lực lượng chính trị và vũ trang, giữa lực lượng kháng chiến ở ngoài và lực lượng kháng chiến trong thành phố, giữa Thủ đô với cả nước.

Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng cử Võ Nguyên Giáp, Lê Văn Lương, Xuân Thủy, Tố Hữu trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo công tác tiếp quản Thủ đô. Ngày 17/9/1954, Ủy ban Quân chính thành phố Hà Nội được thành lập để tiếp thu và quản lý thành phố.

Hội đồng Chính phủ công bố các chính sách đối với thành thị mới tiếp quản, chính sách đối với tôn giáo, các điều kỷ luật của bộ đội, cán bộ và nhân viên công tác khi vào thành phố mới tiếp quản; Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho các đơn vị bộ đội về tiếp quản Hà Nội phải giữ vững trật tự an ninh của thành phố, bảo vệ nhân dân, bảo vệ ngoại kiều, phải triệt để chấp hành các chính sách và kỷ luật mà Chính phủ đã đề ra, phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu khiêu khích của bọn phá hoại.

Pháp và Việt Nam đàm phán về các phương án tiếp quản Thủ đô tại Phủ Lỗ từ 15/9/1954 thì đến 20/9/1954.[7]

Ngày 30/9/1954, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp ký Hiệp định chuyển giao Hà Nội về quân sự; ngày 2/10, ký Hiệp định chuyển giao Hà Nội về hành chính. Theo đó, nguyên tắc chuyển giao là đảm bảo trật tự, an toàn, không được phá hoại và không làm gián đoạn các hoạt động của đời sống thành phố. Theo các văn bản đã được ký kết, từ ngày 2 đến 5/10/1954, các đội hành chính, trật tự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào thành phố, chuẩn bị tiếp quản các cơ quan, công sở, các công trình công cộng. 422 cán bộ, nhân viên đội hành chính và 158 công an có vũ trang của đội trật tự đã kiểm kê và giải quyết các công việc chuẩn bị nhận bàn giao từ phía Pháp và Quốc gia Việt Nam, lập xong các biên bản để bàn giao vào ngày 7/10/1954.[1]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6-10-1954, quân Pháp rút khỏi quận Văn Điển. Đây là quận đầu tiên ở ngoại thành được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản. Cùng ngày, quân Pháp rút khỏi thị xã Hà Đông và ở phía Bắc, Pháp rút về Dốc Lã, cách Yên Viên 3 km.

Ngày mồng 7 tháng 10, nhiều đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia tiếp quản Thủ đô, theo nhiều đường tiến về Hà Nội.

Chiều 8 tháng 10, một số đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam tiến sát vành đai Đê La Thành, Nhật Tân, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, Bạch Mai và Vĩnh Tuy. Trong khi đó, quân Pháp rút khỏi Yên Viên. Sáng 9-10-1954, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản 4 quận Quảng Bá, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở và Quỳnh Lôi, tiếp theo là Đại lý Hoàn Long. Quân đội nhân dân Việt Nam theo nhiều đường, từ ngoại thành tiến vào tiếp thu Hà Nội, chia làm nhiều cánh quân tiến vào năm cửa ô chính rồi tỏa ra các khu. Lần lượt, họ tiếp thu nhà ga Hà Nội, phủ Toàn quyền cũ, khu Đồn Thủy, khu Bờ Hồ, Bắc Bộ phủ.

16 giờ ngày 9/10/1954, những người lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Long Biên; quân dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoàn toàn kiểm soát thành phố. Sáng 10/10/1954, Ủy ban Quân chính thành phố và các đơn vị quân đội nhân dân gồm có bộ binh, pháo binh, cao xạ, cơ giới… chia làm nhiều cánh lớn mở cuộc hành quân tiến vào Hà Nội.

Nhân dân và chính quyền Hà Nội cùng Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp thu tuyệt đối an toàn và nhanh gọn toàn bộ các vị trí quân sự của Pháp ở Hà Nội: sân bay Bạch Mai, sân bay Gia Lâm, Đồn Thủy, khu Thành (Citadel), những vị trí có tầm quan trọng đặc biệt. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp thu 129 công sở, công trình lợi ích công cộng, xí nghiệp, bệnh viện, trường học…, trong đó có phủ Toàn quyền cũ, phủ Thủ hiến Bắc Việt (Bắc Bộ phủ cũ), Sở Mật thám Liên bang Đông Dương, những cơ quan đầu não, trọng yếu của Pháp.[1]

Ngày 10/10/1954[sửa | sửa mã nguồn]

8 giờ ngày 10/10/1954: Cánh quân phía Tây, xuất phát từ “Quần Ngựa” (nay là Cung thi đấu thể thao Quần Ngựa). Đó là những chiến sĩ bộ binh của Trung đoàn Thủ Đô”, dẫn đầu là Trung đoàn trưởng – Anh hùng Quân đội Nguyễn Quốc Trị. Đoàn đi qua các đường Kim Mã, Nguyễn Thái Học, Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang… đến 9 giờ 45 phút thì vào đóng trong “Thành cổ Hà Nội” bằng Cửa Đông.

8 giờ 45 phút: Cánh quân phía Nam, thuộc hai Trung đoàn 88 và 36 xuất phát từ “Việt Nam học xá” (khu vực Đại học Bách khoa bây giờ), tiến qua phố Bạch Mai, phố Huế… vòng quanh hồ Hoàn Kiếm, rồi trở lại, theo hai hướng đông và tây của phố Trần Hưng Đạo, vào đóng quân ở các khu vực “Đồn Thủy” (Bệnh viện 108, Bệnh viện Hữu Nghị) và “Đấu Xảo” (Cung văn hóa Hữu Nghị).

9 giờ 30 phút: Đoàn cơ giới và pháo binh, cùng chỉ huy “tiếp quản Hà Nội”, do Chủ tịch Ủy ban Quân quản Vương Thừa Vũ, và Phó chủ tịch Trần Duy Hưng dẫn đầu, xuất phát từ sân bay Bạch Mai, đi đến Ngã tư Vọng, sang Ngã tư Trung Hiền, theo đường Bạch Mai, phố Huế, qua Bờ Hồ, đi đường Hàng Đào, Hàng Ngang, qua chợ Đồng Xuân, lên Hàng Giấy, vườn hoa Hàng Đậu… vào “Thành cổ Hà Nội” bằng Cửa Bắc. Với hai đường tiến binh từ mạn Tây và mạn Nam, sáng 10-10-1954, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã vào tiếp quản Thủ đô, chỉ bằng và qua hai cửa ô, là: Ô Cầu Giấy (tức: Ô Thanh Bảo), và: Ô Cầu Dền (tức: Ô Yên Thọ, ô Thịnh Yên).[8]

15 giờ ngày 10/10/1954, hàng vạn nhân dân Thủ đô Hà Nội dự lễ chào cờ long trọng do Ủy ban Quân chính thành phố tổ chức. Sau 9 năm, lá cờ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức được kéo lên tại Cột cờ Hà Nội.[1] Còi Nhà hát Thành phố nổi lên, hàng chục vạn quân dân Hà Nội đã trang nghiêm dự lễ chào cờ do ủy ban quân chính tổ chức tại sân vận động Cột Cờ. Tại buổi lễ chào cờ này, Chủ tịch Ủy ban Quân chính Vương Thừa Vũ đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô nhân ngày giải phóng:

Năm cửa ô của Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Trên thực tế, Hà Nội có 16 cửa ô bao gồm:[8]

  1. Ô Yên Hoa (sau, kiêng chữ “Hoa” (là tên mẹ vua Thiệu Trị) nên đổi gọi là “ô Yên Phụ”) ở chỗ ngã ba đê Yên Phụ - đường Thanh Niên bây giờ
  2. Ô Yên Tĩnh (tức Yên Định, Yên Ninh về sau) ở chỗ ngã ba đê Yên Phụ - phố Cửa Bắc
  3. Ô Thụy Chương (Thụy Khuê) ở chỗ cổng Trường THPT Chu Văn An trông ra
  4. Ô Thạch Khối (tức: Nghĩa Lập về sau) ở chỗ đầu dốc Hàng Bún
  5. Ô Phúc Lâm (tức: Tiền Trung, nôm na gọi là “ô Hàng Đậu”) ở chỗ ngã ba Trần Nhật Duật – Hàng Đậu
  6. Ô Đông Hà (sau đổi là Thanh Hà, quen gọi là “ô Quan Chưởng”) ở chỗ ngã ba Trần Nhật Duật – Hàng Chiếu)
  7. Ô Trường Thanh (sau đổi gọi là “Ưu Nghĩa”, nôm na gọi là “ô Hàng Mắm”) ở chỗ đầu phố Hàng Chĩnh bây giờ
  8. Ô Mỹ Lộc, ở chỗ ngã tư Hàng Thùng – Hàng Tre
  9. Ô Đông Yên, ở chỗ ngã tư Lò Sũ - Nguyễn Hữu Huân
  10. Ô Tây Luông (Tây Long, sau đổi gọi là Trường Long - Cựu Lâu), ở khu vực Nhà hát Lớn
  11. Ô Nhân Hòa, ở gần Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (ngã tư Trần Hưng Đạo - Lê Thánh Tông)
  12. Ô Thanh Lãng (sau đổi gọi là Lãng Yên, Lương Yên, quen gọi là “ô Đống Mác”) ở đầu đường Trần Khát Chân
  13. Ô Yên Thọ, (sau đổi gọi là Thịnh Yên, quen gọi là “ô Cầu Dền”, ở chỗ cuối phố Huế - đầu phố Bạch Mai)
  14. Ô Kim Hoa (sau - vẫn vì kiêng chữ “Hoa” – đổi gọi là Kim Liên, tên dân gian là “ô Đồng Lầm”)
  15. Ô Thịnh Quang (sau đổi là Thịnh Hào, quen gọi là “ô Chợ Dừa”, hoặc “ô Cầu Dừa”), ở chỗ ngã năm phố Khâm Thiên - Xã Đàn, Tôn Đức Thắng - Nguyễn Lương Bằng - La Thành)
  16. Ô Thanh Bảo (quen gọi là “ô Cầu Giấy”) ở chỗ phố Kim Mã gặp phố Sơn Tây (trước bến xe Kim Mã).

Tuy nhiên, sau khi khảo sát những tác phẩm văn học nghệ thuật ra đời sau ngày Cách mạng Tháng Tám – trong đó có thơ Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Vũ Hoàng Địch… thì thấy: Hình tượng ngôi sao vàng 5 cánh trên lá quốc kỳ đỏ thắm, chính là niềm cảm hứng mãnh liệt để sáng tác văn nghệ của nhiều tác giả thời này. Và, con số 5 của những cánh sao vàng thì đã được chuyển hóa để thành con số tượng trưng (phiếm chỉ) của và cho nhiều thực thể khác, trong đó có các cửa ô Hà Nội. Cố nhạc sĩ Văn Cao, trong nhiều lần “đàm đạo” đã nói rõ rằng ông viết lời ca của bài “Tiến về Hà Nội” với cảm hứng về “5 cánh sao vàng” như vậy.

Tuy nhiên, vấn đề tiếp theo là: Dù chỉ có “năm cửa ô”, nhưng không phải là Quân đội Nhân dân Việt Nam đã sử dụng hết số cửa ô đó, để tiến về tiếp quản Thủ đô trong ngày 10-10-1954.[9]

Ý nghĩa lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10-10-1954 đã trở thành một cột mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển của thủ đô và đất nước, đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa to lớn, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử ngàn năm văn hiến của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Việc Thủ đô được tiếp quản đã giúp cho nhân dân Hà Nội nhanh chóng hồi phục lại các cơ sở kinh tế-xã hội đã bị tàn phá trong quá trình chiến tranh, tạo tiền đề để tái thiết miền Bắc, làm cơ sở để thống nhất đất nước năm 1975.[10]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]