Quốc hội Việt Nam khóa I

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quốc hội Việt Nam
Nghị viện nhân dân
Quốc hội Việt Nam khóa I
Huy hiệu hoặc biểu trưng
Quốc huy
Dạng
Mô hình
Đơn viện
Các viện Nghị viện nhân dân
Thời gian nhiệm kỳ
14 năm
Lịch sử
Thành lập 6 tháng 1, 1946 (1946-01-06)
Trước Khóa đầu tiên
Kế tiếp Quốc hội khóa II
Kỳ họp mới bắt đầu
02 tháng 03 năm 1946:
Kỳ họp thứ nhất
Lãnh đạo
Nguyễn Văn Tố (1946), không đảng phái
Bùi Bằng Đoàn (1946-1955), không đảng phái
Tôn Đức Thắng (1955-1960), Việt Minh
Chủ tịch Chính phủ
Thủ tướng Nội các
Chính phủ
Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến (2 tháng 3 – 2 tháng 11 năm 1946)
Chính phủ Liên hiệp Quốc dân (3 tháng 11 năm 1946 – 21 tháng 9 năm 1955)
Chính phủ mở rộng (22 tháng 9 năm 1955 – 27 tháng 5 năm 1959)
Cơ cấu
Số ghế 403 (kỳ họp thứ nhất)
444 (kỳ họp thứ hai)
1st National Assembly of Vietnam - 1st session.svg
Chính đảng

                    Đại biểu qua bầu cử (333-83%), trong đó:

          Đại biểu "truy nhận" (70-17%), trong đó:

Nhiệm kỳ
2 tháng 3, 1946 (1946-03-02) - Tháng 5, 1960 (1960-05)
Bầu cử
Bầu cử vừa qua 06/01/1946
Bầu cử Quốc hội khóa I
Bầu cử tiếp theo 08/05/1960
Bầu cử Quốc hội khóa II
Trụ sở
Hanoi Opera House 1.jpg
Nhà hát lớn Hà Nội
Trang web
quochoi.vn

Quốc hội Việt Nam khóa I (nhiệm kì 1946-1960) (với tên gọi lúc đó là: Nghị viện nhân dân) là khóa Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhiệm kỳ hoạt động của Quốc hội khóa I kéo dài 14 năm qua 12 kỳ họp, từ tháng 1-1946 đến tháng 5-1960. Là nhiệm kỳ đầu tiên của cơ quan lập pháp tối cao, Quốc hội khóa I đã xem xét và thông qua hai bản Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959, 16 đạo luật, 50 nghị quyết và ba chính phủ liên hiệp do Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Quốc hội khóa I được bầu ngày 6 tháng 1 năm 1946, với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu là 89% và 333 người trúng cử. Mặc dù vậy, số đại biểu dự họp lên đến 403 và 444 người do đàm phán giữa Việt Minh cầm quyền và các nhóm đối lập. Các phiên họp quốc hội đều diễn ra tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

Bầu cử

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chính phủ lâm thờiChính phủ liên hiệp kháng chiến nhanh chóng tiến hành chuẩn bị tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội.[1] Việc tổ chức được sắp xếp từ đầu tháng 9 năm 1946 và gặp nhiều trở ngại do chiến sự ở nhiều vùng và do đấu đá, tranh giành giữa Việt Minh cầm quyền và các đảng phái đối lập. Cuối cùng, cuộc tổng tuyển cử diễn ra ngày 6 tháng 1 năm 1946 trên cả nước, và đi vào lịch sử như là cuộc vận động dân chủ đầu tiên ở nước Việt Nam hiện đại.

Thành phần

Cuộc bầu cử Quốc hội khóa I đã lựa chọn ra 333 người, trong đó Việt Minh chiếm 120 ghế, Đảng Dân chủ Việt Nam 46 ghế, Đảng Xã hội Việt Nam 24 ghế, và 143 ghế không đảng phái.

Trong 333 đại biểu được bầu có:

Hai đảng đối lập Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội và đại biểu thuộc Việt Nam Quốc dân Ðảng không tham gia tranh cử, nhưng đã đàm phán riêng với Việt Minh nên được đặc cách thêm 70 ghế trong quốc hội. Tại kỳ họp thứ nhất, có tổng cộng 403 đại biểu dự họp.

Các kỳ họp

Kỳ họp thứ nhất

Cơ cấu thành phần Quốc hội Việt Nam khóa I tại kỳ họp 1. Đại biểu được bầu (333), trong đó:
*      Việt Minh (120);      Dân chủ (46);      Xã hội (24);      Không đảng phái (143).
Đại biểu truy nhận (70), trong đó:
*      Việt Cách (20);      Việt Quốc (50)

Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I diễn ra vào ngày 2 tháng 3 năm 1946, công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; Kháng chiến ủy viên hội do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, Vĩnh Thụy làm Cố vấn tối cao và Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 thành viên. Quốc hội đã bầu Ban Thường trực Quốc hội do ông Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban và Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 11 người.

Tổng số đại biểu Quốc hội là 403, trong đó có 333 đại biểu được bầu bao gồm Việt Minh 120 ghế, Đảng Dân chủ Việt Nam 46 ghế, Đảng Xã hội Việt Nam 24 ghế, không đảng phái 143 ghế. Số đại biểu không qua bầu cử là 70 người gồm 20 đại biểu thuộc Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) và 50 đại biểu thuộc Việt Nam Quốc dân Ðảng (Việt Quốc). Việc có các đại biểu đặc cách không qua bầu cử này là theo thoả thuận trước cuộc bầu cử đạt được ngày 24 tháng 12 năm 1945 giữa Việt Minh với Việt Cách và Việt Quốc. Việc này thể hiện chủ trương của Việt Minh về hoà hợp dân tộc, tập trung lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp. Theo báo Độc lập, Hồ Chí Minh phát biểu trong phiên khai mạc Quốc hội: "Có những đồng chí cách mạng người Việt Nam ở hải ngoại vì không có thì giờ tham gia tổng tuyển cử của đảng phái, các dân tộc thiểu số và phụ nữ đều có đại biểu, và như thế không phải là các đại biểu thay mặt cho một đảng phái hay một dân tộc nào mà là đại biểu cho quốc dân Việt Nam"[2]

Giấy chứng nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là đại biểu Quốc hội khóa 1, năm 1946 do Chính phủ lâm thời cấp ngày 1/3/1946.

Trong 333 đại biểu được bầu có:

Theo Elections in Asia: A data handbook, Volume II trang 324, có 302 ghế, trong đó Việt Minh giành được 182 ghế, Đảng Dân chủ Việt Nam giành 45 ghế, Việt Quốc 26 ghế, Việt Cách 22 ghế, Đảng Xã hội Việt Nam 27 ghế, tuy nhiên có nhiều tài liệu cho biết phe Việt Quốc và Việt Cách dù không qua bầu cử, nhưng nhờ "mặc cả" với Việt Minh nên có 50 và 20 ghế trong Quốc hội. Một số chia thành cánh tả (Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, Việt Minh, Xã hội, Dân chủ), cánh hữu (Việt Quốc, Việt Cách), và không đảng phái. Một số thành viên Việt Quốc được xem là cánh tả, ngoài ra còn có cánh hữu, tôn giáo, và dân tộc chủ nghĩa.[cần dẫn nguồn]

Kỳ họp thứ hai

Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I (28/10/1946 – 09/11/1946) có 291 đại biểu tham gia (khi đó Quốc hội mở rộng 444 đại biểu) bao gồm: không đảng phái 90 ghế (do Hoàng Minh Châu lãnh đạo), Đảng Dân chủ Việt Nam có 45 ghế, Đảng Xã hội Việt Nam 24 ghế, Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương 15 ghế, Việt Minh 80 ghế, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội 17 ghế, Việt Nam Quốc dân Ðảng 20 ghế[3]. Như vậy, số đại biểu đối lập tại phiên họp này còn 37 trên 70 ghế, số đại biểu ủng hộ Chính phủ là 240. Phiên họp này biểu quyết thông qua Hiến pháp. Tuy nhiên Hiến pháp này chưa được Chủ tịch Hồ Chí Minh cho ban hành.

Kỳ họp thứ ba

Kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa I diễn ra từ ngày 1 tháng 12 năm 1953 – 4 tháng 12 năm 1953.

Kỳ họp thứ tư

Kỳ họp thứ tư diễn ra từ ngày 20 tháng 3 năm 1955 – 26 tháng 3 năm 1955.

Kỳ họp thứ năm

Kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa I diễn ra từ 15 tháng 9 năm 1955 – 20 tháng 9 năm 1955.

Kỳ họp thứ sáu

Kỳ họp thứ sáu Quốc hội khóa I diễn ra từ ngày 29 tháng 12 năm 1956 – 25 tháng 1 năm 1957.

Bộ máy lãnh đạo

Ban thường trực quốc hội

Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, thông qua ngày 3/11/1946 thành lập Chính phủ mới (3/11/1946) và bầu Ban Thường vụ Quốc hội mới do Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban, Tôn Đức ThắngTôn Quang Phiệt làm Phó Trưởng ban.

Các văn bản pháp quy đã thông qua

Hai bản Hiến pháp:

  1. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946 (Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946).
  2. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1959 (Quốc hội thông qua ngày 31-12-1959; Chủ tịch nước ký lệnh ban hành ngày 1-1-1960).

Mười sáu luật:

  1. Dự án luật Lao động (thông qua ngày 8-11-1946).
  2. Luật Cải cách ruộng đất (ban hành ngày 19-12-1953).
  3. Luật Ðảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân (ban hành ngày 20-5-1957).
  4. Luật Quy định quyền lập hội (ban hành ngày 20-5-1957).
  5. Luật Quy định quyền tự do hội họp (ban hành ngày 20-5-1957).
  6. Luật về Chế độ báo chí (ban hành ngày 20-5-1957).
  7. Luật Công đoàn (ban hành ngày 5-11-1957).
  8. Luật Quy định Chế độ xuất bản (thông qua ngày 14-9-1957).
  9. Luật Quy định Những trường hợp phạm pháp quả tang và Những trường hợp khẩn cấp (thông qua ngày 14-9-1957).
  10. Luật Cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế (thông qua ngày 14-9-1957).
  11. Luật Quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp (thông qua ngày 14-9-1957).
  12. Luật Tổ chức chính quyền địa phương (thông qua ngày 14-9-1957; ban hành ngày 31-5-1958).
  13. Luật Quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (ban hành ngày 31-5-1958).
  14. Luật bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ban hành ngày 13-1-1960).
  15. Luật hôn nhân và gia đình (ban hành ngày 13-1-1960).
  16. Luật Nghĩa vụ quân sự (ban hành ngày 28-4-1960).

Đánh giá

Ngay từ khi chuẩn bị tổ chức cuộc Tổng tuyển cử năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:

Trước ngày bầu cử một ngày, trong lời kêu gọi quốc dân đi bầu cử, Hồ Chí Minh hiệu triệu “Ngày mai mồng 6 tháng 1 năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ… Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng Việt Nam ta đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ. Kiên quyết chống bọn thực dân. Kiên quyết tranh quyền độc lập… Những người trúng cử, sẽ phải giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào."[4]

Trung tướng Phạm Hồng Cư, khi đó là Trung đội trưởng của Trung đội tự vệ Thủ đô, khi đi bầu cử cho biết:

"Tổng tuyển cử thực sự là không khí của toàn dân. Là thế hệ đã biết thế nào là nô lệ, đã trông thấy đồng bào chết đói, đã từng là vong quốc nô…, nên khi đi bỏ phiếu, chúng tôi cầm lá phiếu mà rất xúc động, vì biết đây là lá phiếu của tự do, lá phiếu giành được từ biết bao xương máu. Cảm tưởng được hít thở không khí tự do, đi bỏ phiếu với tâm trạng hết sức phấn chấn...".[5]

Đánh giá về Quốc hội khóa I, tại kỳ họp thứ 12, kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu:

"Quốc hội ta đã hết lòng vì dân vì nước, đã làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những người đại biểu của nhân dân"[6].

Nhà báo Nguyễn Quốc Thắng, Tổng biên tập Báo điện tử Đại biểu nhân dân khẳng định:

Tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội, đối ngoại. Cuộc bầu cử là căn cứ để khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có tính chất hợp pháp, dân chủ - nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế.[7]

Chú thích

  1. ^ Trần Văn Tám (5 tháng 1 năm 2011). “Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I và việc hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở nước ta”. Tạp chí Xây dựng Đảng. 
  2. ^ Báo Độc Lập, ngày 3 tháng 3 năm 1946
  3. ^ United States – Vietnam Relations, 1945–1967: A Study Prepared by the Department of Defense, 1967
  4. ^ a ă â Trần Văn Tám (Vụ trưởng Vụ Công tác đại biểu, VPQH - Đại biểu Nhân Dân) (15 tháng 12 năm 2010). “Tổng tuyển cử đầu tiên và sự hoàn thiện, phát triển các chế định bầu cử ở nước ta”. Chúng ta. 
  5. ^ Trần Việt (19 tháng 5 năm 2007). “Những chuyện ít biết về Tổng tuyển cử năm 1946”. Báo điện tử Dân trí. 
  6. ^ Quốc hội Việt Nam - Thời kỳ từ năm 1946 đến năm 1960
  7. ^ “Kết quả và ý nghĩa của cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946”. Báo Bắc Ninh Online. 28 tháng 12 năm 2015. 

Xem thêm

Tham khảo

Liên kết ngoài

Tiền nhiệm:
không có
Quốc hội khóa I
1946 - 1960
Kế nhiệm:
Quốc hội khóa II