Chia cắt Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Sự chia cắt Việt Nam được hiểu là sự cát cứ phân tranh của các lực lượng quân sự-xã hội tại Việt Nam. Trên thực tế, lãnh thổ Việt Nam chỉ bị chia cắt hai lần, bao gồm thời mạt Lê (lần thứ nhất) và Chiến tranh Việt Nam (lần thứ hai) nhưng Việt Nam chưa bao giờ bị chia cắt thành các quốc gia riêng biệt do trong lần thứ nhất, về mặt chính thức quyền lực tối cao vẫn thuộc về Hoàng đế nhà Lê, người có quyền cai trị toàn bộ Việt Nam. Tới lần thứ hai, giới tuyến quân sự tạm thời được quy định trong Hiệp định Genève không được hiểu là biên giới quốc gia.[1]

Lần chia cắt gần đây nhất được đánh dấu bởi việc thành lập khu phi quân sự vĩ tuyến 17 năm 1954, chia cắt Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự sau chiến tranh Đông Dương.

Triệu Việt Vương - Lý Phật Tử[sửa | sửa mã nguồn]

Thập nhị sứ quân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Loạn 12 sứ quân

Thực chất, loạn 12 sứ quân chỉ là sự cát cứ về mặt quân sự, không xảy ra chia cắt về chính trị-xã hội khi quyền kiểm soát đất nước về mặt chính thức vẫn thuộc về hoàng đế nhà Đinh.

Thời mạt Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Nam-Bắc triều[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh-Nguyễn phân tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Sơn đối đầu Trịnh-Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: nhà Tây Sơn

Nguyễn Huệ sau 4 lần Bắc tiến đã tạm thống nhất Đại Việt, mở đường cho công cuộc thống nhất mà vua Gia Long đã hoàn thành về sau. Lần ra Bắc cuối cùng vua Quang Trung đã đánh tan 29 vạn quân Thanh và lật đổ triều đình Lê Chiêu Thống, xóa bỏ tình trạng tồn tại Đàng Trong - Đàng Ngoài, Nam Hà - Bắc Hà.

Cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi[sửa | sửa mã nguồn]

Do bất hòa với nhà Nguyễn, thủ lĩnh Lê Văn Khôi đã nổi dậy đánh chiếm 6 tỉnh ròng rã 2 năm trời. Biến Nam Kỳ Lục tỉnh trở thành vùng cát cứ quân sự của mình và tách biệt với triều Nguyễn. Tuy nhiên về mặt kinh tế-chính trị-xã hội, vùng đất này vẫn thuộc quyền kiểm soát của Nhà Nguyễn.

Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Khi thực dân Pháp đánh Đại Nam, Đại Nam bị chia ra làm ba xứ riêng lẻ (Nam Kỳ - Cochinchine, Trung Kỳ - Annam, Bắc Kỳ - Tonkin) với 3 chế độ cai trị khác nhau nhưng vẫn nằm trong Liên bang Đông Dương, phục vụ cho chính sách được gọi là "chia để trị", "dùng người Việt trị người Việt".

Nam Kỳ là nơi mà người Pháp, về mặt pháp lý, xem là của họ từ hiệp ước nhượng ba tỉnh Nam Kỳ của Tự Đức và sau đó họ hành quân chiếm thêm 3 tỉnh với lý do nhà Nguyễn vi phạm hiệp định hòa bình. Bắc Kỳ và Trung Kỳ, về danh nghĩa pháp lý, được người Pháp xem là đất mà họ bảo hộ một triều đình "độc lập" của An Nam.

Trên thực tế cả ba vùng vẫn nằm trong một tổng thể thống nhất là Liên bang Đông Dương, các vùng đóng vai trò mỗi bang trong một liên bang thống nhất. Lúc này không có sự chia tách về kinh tế-xã hội khi người dân vẫn được tự do đi lại giữa các vùng, sử dụng chung một đồng tiền duy nhất. Toàn bộ Việt Nam vẫn nằm dưới quyền cai trị của Toàn quyền Đông Dương.

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Việt Nam

Hiệp định Genève đã kết thúc chiến tranh Đông Dương. Theo Tuyên bố cuối cùng ngày 21 tháng 7 năm 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai vùng tập trung quân sự, Việt Nam vẫn là một nước thống nhất cho đến khi đất nước được thống nhất về mặt Nhà nước sau cuộc Tổng tuyển cử tự do có sự giám sát của quốc tế vào năm 1956. Tuy nhiên, cuộc Tổng tuyển cử không bao giờ diễn ra do Chính quyền Ngô Đình Diệm cự tuyệt Tổng tuyển cử, quyết tâm chia Việt Nam thành hai quốc gia riêng biệt.[2] Năm 1956, Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi", chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Quốc gia Việt Nam kiên quyết từ chối tuyển cử thống nhất Việt Nam.[3] Cũng theo Điều 15 Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không phải là một ranh giới về chính trị hoặc về lãnh thổ, như quy định trong đoạn 6 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ ne vơ năm 1954.[1]

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc do chủ tịch Hồ Chí MinhViệt Minh lãnh đạo kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, được Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa công nhận, với thủ đô là Hà Nội. Nhà nước Quốc gia Việt Nam ở miền Nam do quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu được sự hậu thuẫn của PhápMỹ, được các nước phương Tây và một số nước thế giới thứ ba công nhận, có thủ đô là Sài Gòn. Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương đã được thành lập để giám sát việc ngừng bắn và thi hành Hiệp định Geneva, trong đó có cuộc Tổng tuyển cử chung trên cả nước.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa - hậu thân của Quốc gia Việt Nam - tuyên bố đầu hàng Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Theo báo Hà Nội Mới, ngày 30 tháng 4 được đa số nhân dân Việt Nam gọi là "Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước".[4]

Việt Nam được tái thống nhất thông qua cuộc Tổng tuyển cử toàn quốc năm 1976 được tổ chức bởi Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[5][6]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]