Hoa quân nhập Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hoa quân nhập Việt
Một phần của Chiến tranh Đông Dương
.
Thời gian Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1945
Địa điểm Bắc Việt Nam
Nguyên nhân bùng nổ Hội nghị Potsdam
Kết quả Quân đội Tưởng Giới Thạch rút lui.
Việt Nam Quốc dân ĐảngViệt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội rút khỏi Chính phủ Liên hiệp
Tham chiến
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
 Trung Hoa Dân Quốc

Flag of VNQDD.svg Việt Nam Quốc dân Đảng
Flag of VNQDD.svg Đại Việt Quốc dân Đảng
Flag of Vietnam Revolutionary League.svg Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội

Chỉ huy
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Võ Nguyên Giáp

Flag of the Republic of China Army.svg Lư Hán

Flag of the Republic of China Army.svg Tiêu Văn
Flag of VNQDD.svg Vũ Hồng Khanh
Flag of VNQDD.svg Nguyễn Tường Tam
Flag of Vietnam Revolutionary League.svg Nguyễn Hải Thần

Thành phần tham chiến
4 quân đoàn (60,93,52,62) (sau quân đoàn 53 thay thế quân đoàn 52 và 62)

3 sư đoàn độc lập (19,23,93)
1 tiểu đoàn hiến binh[1]

Lực lượng
  20 vạn quân bộ binh [2]
Tổn thất
Không có Không đáng kể
.

Hoa quân nhập Việt là sự kiện 20 vạn quân đội Tưởng Giới Thạch tiến vào miền Bắc Việt Nam với mục đích giải giáp quân đội Nhật Bản từ vĩ tuyến 16 ra Bắc theo sự phân công của Đồng Minh. Cùng thời điểm đó, các tổ chức chính trị theo chủ nghĩa quốc gia, chống Pháp và chống Việt Minh như Việt Quốc, Việt Cách, cũng vào vượt biên giới Việt Trung vào Việt Nam thiết lập chính quyền tại một số tỉnh phía Bắc.

Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòaHiệp định sơ bộ Pháp - Việt (1946), đồng ý cho quân Pháp thay thế quân Tưởng giải giáp quân Nhật. Tháng 10 năm 1946, quân Tưởng Giới Thạch hoàn thành việc rút khỏi Việt Nam.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, quân Nhật Bản đầu hàng phe Đồng minh. Theo thỏa thuận Potsdam, quân Anh sẽ giải giáp cho quân Nhật tại Việt Nam từ vĩ tuyến 16 về phía Nam và quân Trung Quốc sẽ giải giáp cho quân Nhật từ vĩ tuyến 16 về phía Bắc.

Khi quân Đồng Minh chưa đến nơi, Việt Minh thực hiện cách mạng tháng Tám, lật đổ chính quyền Đế quốc Việt Nam, thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quân Trung Quốc có âm mưu "Diệt Cộng cầm Hồ" tức là "Diệt Cộng sản, bắt Hồ Chí Minh", lật đổ chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[3] Ở miền Nam, quân Anh có trách nhiệm giải giáp quân Nhật và duy trì trật tự công cộng. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, các lực lượng vũ trang Việt Nam đồng loạt tấn công quân Pháp vừa đổ bộ vào Sài Gòn. Quân Anh và Nhật hợp tác với quân Pháp đẩy lùi quân Việt Nam về vùng nông thôn và sau đó mở rộng chiếm đóng toàn miền Nam.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với vô vàn khó khăn:

  • Về quân sự: 20 vạn quân Tưởng chiếm đóng ở miền Bắc, 6 vạn quân Nhật được quân Anh sử dụng, quân Pháp tấn công trở lại.
  • Về kinh tế: Tài nguyên quốc gia cạn kiệt. Ngân hàng Đông Dương nằm trong tay tư bản nước ngoài. Trung Quốc dùng đồng tiền "quan kim" và "quốc tệ" để đổi lấy tiền Việt, làm lũng đoạn thị trường Việt Nam. Mùa màng thát bát, nạn đói tràn lan.
  • Về chính trị: Các lực lượng chính trị tham gia Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị chia rẽ nghiêm trọng. Việt Quốc, Việt Cách phát hành các báo Thiết thực, Đồng Tâm, rải truyền đơn tố cáo Việt Minh độc tài, cực đoan, đàn áp các đảng phái quốc gia và hợp tác với Pháp[4]. Sau đó Việt Minh mở chiến dịch trấn áp Việt Quốc, Việt Cách[5]. Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến tan rã do các lãnh tụ Việt Quốc, Việt Cách rời bỏ chính phủ lưu vong sang Trung Quốc[6][7].

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 8 năm 1945, 20 vạn quân Tưởng do Lư Hán làm tổng chỉ huy, Tiêu Văn làm phó tư lệnh vượt biên giới Việt-Trung tiến vào Việt Nam. Quân đoàn 62 và 53 tiến từ Quảng Tây, dưới sự chỉ huy của Tiêu Văn, đã chiếm Cao Bằng, Lạng Sơn, và những vị trí quan trọng dọc theo bờ biển tới Hải Phòng, còn quân đoàn 93 và 60 của Lư Hán từ Vân Nam tiến vào Lào Cai và dọc theo sông Hồng tới Hà Nội. Ngày 9 tháng 9, quân Tưởng tới Hà Nội. [8]

Quân Tưởng chiếm đóng Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt - Trung đến vĩ tuyến 16, hà hiếp nhân dân, cướp bóc khắp nơi.[9] Quân Tưởng đổi tiền với tỷ giá vô lý, gây nhiều bất bình cho người dân.

Việt Quốc, Việt Cách và Phục Quốc chia nhau kiểm soát các địa phương phía Bắc Hà Nội. Tại một số nơi các lực lượng này xung đột vũ trang với Việt Minh để giành quyền kiểm soát.

Ngày 14 tháng 9 năm 1945, Lư Hán đến Hà Nội. Lư Hán gặp Hồ Chí Minh, đòi Hồ Chí Minh phải "báo cáo quân số thực tế và tổ chức quân đội Việt Nam", đòi mỗi bộ của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải có một người "liên lạc viên" của Trung Quốc, thậm chí đòi Việt Nam lùi giờ lại một tiếng theo giờ Trung Quốc.[10]

Để tránh phải một lúc đối đầu với nhiều kẻ thù, Việt Minh thực hiện chính sách nhân nhượng với quân Tưởng để tập trung chống Pháp. Chính quyền chấp nhận cho quân Tưởng tiêu xài đồng "quan kim", đồng ý cung cấp lương thực cho họ. Chính quyền thực hiện chính sách nhẫn nhịn, tránh xung đột với quân Tưởng và Việt Quốc, Việt Cách.[11]

Ngày 28 tháng 9 năm 1945, lễ đầu hàng của quân Nhật được tổ chức bởi Trung Hoa Dân Quốc.

Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương mở rộng Chính phủ lâm thời thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời, để cho một số nhân vật của Việt Quốc, Việt Cách tham gia Chính phủ. Ngoài ra, Việt Quốc và Việt Cách được 50 và 20 ghế trong Quốc hội Việt Nam không bầu cử.Quốc hội khóa I, họp đầu tiên ngày 2 tháng 3 năm 1946 đã bầu ra Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến trong đó Việt Quốc nắm Bộ (trưởng) Kinh tế, bộ Ngoại giao, Việt Cách nắm chức Phó Chủ tịch, Bộ Xã hội, Y tế, Cứu tế và Lao động, Bộ Canh nông.

Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố tự giải tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật.

Ngày 28 tháng 2 năm 1946 tại Trùng Khánh, sau một thời gian đàm phán kéo dài, Pháp ký với Trung Hoa Dân Quốc hiệp ước Pháp - Hoa. Những điều khoản chính: Trung Hoa đồng ý để quân Pháp vào Bắc vĩ tuyến 16 trở lên thay Trung Hoa giải giáp quân Nhật, đổi lấy việc Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Hoa; Pháp bán lại đường sắt Côn Minh - Hồ Kiều và miễn thuế quá cảnh ở Hải Phòng cho Trung Hoa.[12]

Ngày 6 tháng 3 năm 1946 tại Hà Nội, Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt được ký kết, trong đó có các điều khoản quan trọng:

  • Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay quân Tưởng và sẽ rút hết sau 5 năm, mỗi năm rút 3000 quân.
  • Hai bên đình chỉ ngay xung đột để mở rộng đàm phán chính thức.

Với nước cờ này, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tránh được nhiều khó khăn: quân Tưởng rút về nước, quân Pháp tạm thời hòa hoãn, tuy nhiên Pháp được mang quân ra Bắc một cách dễ dàng.

Ngày 18 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử một phái đoàn sang Trùng Khánh để giữ quan hệ hoà hảo với Trung Hoa Dân Quốc.

Ngày 15 tháng 6 năm 1946, quân Tưởng hoàn toàn rút khỏi Việt Nam. Tháng 7 năm 1946, xảy ra Vụ án phố Ôn Như Hầu, Việt Quốc, Việt Cách suy yếu. [13]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Hoa quân nhập Việt”. daitudien.net. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2015. Dưới sự chỉ huy của Lư Hán, lực lượng quân Trung Hoa Dân Quốc đã tiến vào Việt Nam ngày 14.9.1945, với khoảng 20 vạn quân, trong đó: quân địa phương Vân Nam gồm quân đoàn 60 (các sư đoàn 21, 182, 183), quân đoàn 93 (các sư đoàn 18, 20, 22), 2 sư đoàn độc lập 19, 23; quân trung ương gồm quân đoàn 52, và 62, sư đoàn độc lập 93 và một tiểu đoàn hiến binh. Tháng 10.1945, thêm quân đoàn 53. 
  2. ^ Lê Mậu Hãn (chủ biên) (2009). “I. Xây dựng và bảo vệ chế độ Dân chủ Cộng hòa”. Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập III . Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. tr. 10. Ở miền Bắc, khoảng 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch, gồm 4 quân đoàn do tướng Lư Hán làm tổng chỉ huy, lũ lượt kéo vào đóng ở Hà Nội và... 
  3. ^ Archimedes L. A. Patti (1980). Why Viet Nam?. Đại học California. tr. 218. ISBN 978-0-52-004156-1. Truy cập 3 tháng 1 năm 2015. Giap told me that of his own personal knowledge these troops were the "most rapacious and undisciplined of the entire Chinese army." And he was concerned that these Chinese would try to overthrow the Provisional Government and install a pro-Chinese regime. 
  4. ^ Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 492 - 494
  5. ^ Chiến thắng bằng mọi giá, trang 196-197, Cecil B. Currey, Nhà xuất bản Thế giới, 2013
  6. ^ Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 290, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân
  7. ^ David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), page 422, California: University of California Press, 2013
  8. ^ Archimedes L. A. Patti. Why Viet Nam?. sđd. tr. 281. 
  9. ^ Trịnh Tố Long (tháng 12 năm 2011). “Bác Hồ trước họa “diệt cộng, cầm Hồ””. Báo QDND Online. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2015. Lúc bấy giờ, báo chí nước ngoài mô tả quân Tưởng: "Đội quân chân đất, bụng lép, quyết bám vào cuộc nhập Việt để mưu sống. Chúng vơ vét mọi thứ muốn lấy hay cần lấy dù thứ đó là của người Việt, người Pháp hay của ngoại kiều nào, bất kể giàu hay nghèo. Các tướng tá chỉ huy càng tham tàn, hà hiếp mọi người, ở mọi nơi làm gương cho binh sĩ...". 
  10. ^ Archimedes L. A. Patti. Why Viet Nam?. sđd. tr. 292-293. 
  11. ^ Đ. H. L (tháng 7 năm 2014). “Hoa quân nhập Việt và mưu đồ "Diệt cộng cầm Hồ". Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2015. Thời gian này, bọn Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh đang khiêu khích rất dữ, anh em ai cũng tức giận vì phải kiềm chế, một số người muốn đánh ngay lập tức. Một lần, Tiêu Văn gửi đến một bức công văn vỏn vẹn mấy chữ:” Kính gửi Cụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Yêu cầu Cụ cho mượn một cái nồi nấu cơm”. Anh em vô cùng phẫn nộ nhưng Bác vẫn ôn tồn, ung dung: Nền độc lập ta vừa mới giành được giống như một chiếc bình ngọc. Nay có những con kiến bò trên miệng bình, nếu ta dùng gậy đập kiến, chưa chắc kiến đã chết mà bình ngọc vỡ mất. Nếu ta lấy một cái que bắc cầu cho chúng xuống thì kiến sẽ đi hết, như vậy có hơn không? Còn họ mượn cái nồi nấu cơm thì ta cho họ mượn, việc gì các chú phải nổi nóng như vậy?! 
  12. ^ “Hiệp ước Pháp - Hoa 1946”. daitudien.net. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2015. 
  13. ^ Robert McNamara (1967). Vietnam and the U.S., 1940-1950. Pentagon Papers. Part I. National Archieves. tr. b-47 (hoặc 134). Truy cập 4 tháng 1 năm 2015.