Bước tới nội dung

Đội tuyển bóng đá quốc gia Sri Lanka

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Sri Lanka
Huy hiệu áo/huy hiệu Hiệp hội
Biệt danhරන් සිංහයා
Golden Lion
Sư tử vàng
Hiệp hộiLiên đoàn bóng đá Sri Lanka
Liên đoàn châu lụcAFC (Châu Á)
Liên đoàn khu vựcSAFF (Nam Á)
Huấn luyện viên trưởngAmir Alagić
Thi đấu nhiều nhấtEdiri Bandanage Channa (62)
Ghi bàn nhiều nhấtKasun Jayasuriya (27)[1]
Sân nhàSân vận động Sugathadasa
Trường đua Colombo
Mã FIFASRI
Áo màu chính
Áo màu phụ
Áo màu khác
Hạng FIFA
Hiện tại 194 Giữ nguyên (ngày 19 tháng 1 năm 2026)[2]
Cao nhất122 (8.1998)
Thấp nhất206 (2.2020)
Hạng Elo
Hiện tại 223 Giảm 1 (30 tháng 11 năm 2022)[3]
Cao nhất105 (23.3.1952)
Thấp nhất225 (9.2019)
Trận quốc tế đầu tiên
 Ấn Độ 2–0 Ceylon 
(Colombo, Ceylon; 1 tháng 1 năm 1952)
Trận thắng đậm nhất
 Sri Lanka 7–1 Pakistan 
(Đài Bắc, Trung Hoa Đài Bắc; 4 tháng 4 năm 2008)
 Sri Lanka 6–0 Bhutan 
(Dhaka, Bangladesh; 6 tháng 12 năm 2009)
Trận thua đậm nhất
 Ceylon 1–12 Đông Đức 
(Colombo, Ceylon; 12 tháng 1 năm 1964)
Sồ lần tham dự(Lần đầu vào năm -)
Kết quả tốt nhất-
Sồ lần tham dự(Lần đầu vào năm -)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Sri Lanka (tiếng Sinhala: ශ්‍රී ලංකා පාපන්දු කණ්ඩායම, tiếng Tamil: இலங்கை தேசிய கால்பந்து அணி) là đội tuyển đại diện cho Sri Lanka trong môn bóng đá và được Liên đoàn Bóng đá Sri Lanka (FSSL) quản lý, cơ quan điều hành bóng đá của quốc gia này. Họ trở thành thành viên của FIFA từ năm 1952 và là thành viên của AFC từ năm 1954. Sân nhà của đội tuyển Sri Lanka là Sân vận động SugathadasaColombo. Trước năm 1972, đội tuyển này được biết đến với tên gọi đội tuyển bóng đá quốc gia Ceylon, cho đến khi Ceylon chính thức đổi tên thành Sri Lanka.[4]

Là một thành viên của AFC, đội tuyển Sri Lanka vẫn chưa từng góp mặt tại vòng chung kết FIFA World Cup hay Asian Cup. Thành tích nổi bật nhất của họ là vô địch Nam Á vào năm 1995. Cũng giống như nhiều quốc gia khác ở tiểu lục địa, bóng đá chuyển nghiệp tại Sri Lanka phần nào bị lép vế bởi sự nổi tiếng của đội tuyển cricket quốc gia. Tuy nhiên, đội tuyển cũng từng lọt vào vòng loại thứ hai của World Cup 2006. Cũng trong năm đó, họ giành ngôi Á quân tại Giải Challenge Cup 2006. Ở vòng loại World Cup 2018, Sri Lanka để thua cả hai trận trước Bhutan và không thể vượt qua vòng loại. Tuy nhiên, đội tuyển quốc gia Sri Lanka đã lọt vào bán kết Giải vô địch SAFF 2015.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kì đầu (1890–2014)

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội Ceylon tham dự giải Aga Khan Gold Cup năm 1970.

Bóng đá được người Anh du nhập vào Sri Lanka (khi đó là Ceylon) từ cuối thế kỷ 19. Vào những năm 1890, các binh sĩ Anh đã chơi bóng tại Galle Face – bãi cát ven biển ở Colombo – cũng như tại Echelon Barracks và sân quân đội (nay là khách sạn Taj Samudra). Các binh sĩ thuộc Không quân, Hải quân và nhiều lực lượng Hoàng gia khác đã khởi xướng bóng đá cạnh tranh tại Ceylon. Trò chơi nhanh chóng lan tỏa nhờ giới hành chính và cộng đồng trồng trọt người Anh, đến các vùng Trung, Nam và miền cao, và được giới trẻ địa phương đón nhận đầu thế kỷ 20.

Từ đó, nhiều câu lạc bộ bóng đá được thành lập, như St. Michael's SC, Havelock's FC, Java Lane SC, Wekande SC, Moors FC, CH & FC, rồi đến Harlequins FC và Saunders SC. Những giải đấu đầu tiên tranh cúp De Mel Shield và Times of Ceylon Cup. Ở miền Nam, bóng đá cũng phát triển mạnh nhờ những nhà trồng trà và binh sĩ hải quân Anh.[5] Năm 1952, Ceylon gia nhập FIFA, mở ra cơ hội thi đấu quốc tế. Trận đầu tiên diễn ra cùng năm trước Ấn Độ tại Giải Tứ giác châu Á. Một năm sau, ngày 24 tháng 10 năm 1953, Tom Ossen ghi bàn quốc tế đầu tiên cho Ceylon trong trận gặp Miến Điện, trận đấu kết thúc với thất bại 2–3.[6]

Sri Lanka gặp Pakistan trong trận tranh hạng ba của giải vô địch Nam Á 1997

Sự hồi sinh của bóng đá Sri Lanka (2015–2019)

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2015, Sri Lanka lần đầu tiên tham dự Cúp Bangabandhu do Liên đoàn Bóng đá Bangladesh tổ chức. Giải có sự góp mặt của các đội U-23 Thái Lan, Bahrain, Malaysia, Singapore cùng tuyển quốc gia Bangladesh và Sri Lanka. Sri Lanka nằm chung bảng với Malaysia và Bangladesh. Ở trận mở màn gặp Malaysia, đội thua 0–2; sau đó tiếp tục thất bại 0–1 trước chủ nhà Bangladesh. Họ không ghi được bàn nào tại giải. Tuy nhiên, sau sáu năm thi đấu mờ nhạt, Sri Lanka đã kịp góp mặt ở vòng bán kết Giải vô địch SAFF 2015. Dù vậy, phong độ sa sút lại tiếp diễn ở Cúp bóng đá đoàn kết châu Á 2016, khi họ bất ngờ thua Mông Cổ – đội tuyển xếp hạng thấp nhất châu Á – và bị loại ngay từ vòng bảng.[7]

Tháng 7 năm 2018, Sri Lanka có trận giao hữu lịch sử khi lần đầu chạm trán một đội tuyển châu Âu – Litva. Họ cầm hòa 0–0 trong trận đầu, nhưng để thua 0–2 ở trận lượt về.[8] Tại vòng loại World Cup 2022, Sri Lanka tiếp tục gây thất vọng khi thua 0–1 trước Ma Cao tại Châu Hải. Tuy nhiên, do Ma Cao từ chối sang Sri Lanka thi đấu sau vụ đánh bom Lễ Phục Sinh 2019,[9] FIFA xử thắng 3–0 cho Sri Lanka, giúp họ lần đầu tiên giành vé vào vòng loại thứ hai kể từ 2006.[10]

Kỷ nguyên Amir Alagić (2020–2022)

[sửa | sửa mã nguồn]

vòng loại thứ hai World Cup 2022, Sri Lanka rơi vào bảng đấu rất khó với Hàn Quốc, Triều Tiên, LibanTurkmenistan – bốn đội đều dự Asian Cup 2019. Đúng như dự đoán, họ toàn thua và bị loại mà không ghi nổi bàn nào. Dù vậy, đầu năm 2020 Sri Lanka tiếp tục tham dự Cúp Bangabandhu, nhưng vẫn xếp cuối với hai thất bại và không bàn thắng. Tháng 2 năm 2020, Liên đoàn Bóng đá Sri Lanka bổ nhiệm HLV người Bosnia-Úc Amir Alagić.[11] Dưới sự dẫn dắt của ông, đội có màn trình diễn khởi sắc trước Liban, ghi được hai bàn đầu tiên trong lịch sử vòng loại World Cup, dù vẫn thua sát nút. Sau khi kết thúc chiến dịch, Alagić từ chức và được thay thế bởi HLV người Scotland Andy Morrison.

Án phát của FIFA và vòng loại World Cup 2026 (2023–2024)

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 1 năm 2023, FIFA ra quyết định đình chỉ Liên đoàn Bóng đá Sri Lanka do chính phủ can thiệp vào hoạt động bóng đá. Trong thời gian này, các CLB và đội tuyển đều không được dự giải quốc tế.[12] Sau khi vấn đề được giải quyết, án phạt được gỡ bỏ vào ngày 29 tháng 8 năm 2023, nhưng đi kèm điều kiện FFSL phải tổ chức bầu cử mới trước trận gặp Yemen.[13] Tháng 10 năm 2023, Sri Lanka gặp Yemen ở vòng loại đầu tiên World Cup 2026 và thua chung cuộc 1–4. Đến tháng 9 năm 2024, Sri Lanka chạm trán Campuchia tại vòng play-off Asian Cup 2027. Hai lượt trận hòa 2–2, buộc phải đá luân lưu sau khi Claudio Kammerknecht ghi bàn ở phút 120+2. Cuối cùng, Sri Lanka thắng trên chấm phạt đền và giành quyền vào vòng loại thứ ba.

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
Á quân: 2006
Vô địch: 1995
Á quân: 1993

Thành tích quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]
Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
Uruguay 1930 Một phần của  Anh Quốc Một phần của  Anh Quốc
Ý 1934
Pháp 1938
Brasil 1950 Không phải thành viên FIFA Không phải thành viên FIFA
Thụy Sĩ 1954 Không tham dự Không tham dự
Thụy Điển 1958
Chile 1962
Anh 1966
México 1970
Tây Đức 1974
Argentina 1978
Tây Ban Nha 1982
México 1986
Ý 1990
Hoa Kỳ 1994 Không vượt qua vòng loại 8 0 0 8 0 26
Pháp 1998 3 1 1 1 4 4
Hàn QuốcNhật Bản 2002 6 1 1 4 8 20
Đức 2006 8 1 3 4 7 11
Cộng hòa Nam Phi 2010 2 0 0 2 0 6
Brasil 2014 2 0 1 1 1 5
Nga 2018 2 0 0 2 1 3
Qatar 2022 8 1 0 7 5 24
CanadaMéxicoHoa Kỳ 2026 2 0 1 1 1 4
Maroc Bồ Đào Nha Tây Ban Nha 2030 Chưa xác định Chưa xác định
Ả Rập Xê Út 2034
Tổng 0/9 41 4 7 30 27 103

Cúp bóng đá châu Á

[sửa | sửa mã nguồn]
Vòng chung kết Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
Hồng Kông 1956 đến Iran 1968 Rút lui Rút lui
Thái Lan 1972 Không vượt qua vòng loại 3 0 0 3 1 10
Iran 1976 Rút lui Rút lui
Kuwait 1980 Không vượt qua vòng loại 4 1 0 3 5 12
Singapore 1984 4 1 1 2 6 11
Qatar 1988 đến Nhật Bản 1992 Không tham dự Không tham dự
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 1996 Không vượt qua vòng loại 6 2 0 4 5 25
Liban 2000 4 0 0 4 2 18
Trung Quốc 2004 8 2 0 6 6 26
Indonesia Malaysia Thái Lan Việt Nam 2007 Không tham dự Không tham dự
Qatar 2011 Không vượt qua vòng loại AFC Challenge Cup
Úc 2015
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 2019 2 0 0 2 1 3
Qatar 2023 11 1 0 10 5 30
Ả Rập Xê Út 2027
Tổng 0/19 42 7 1 34 31 136

Cúp Challenge AFC

[sửa | sửa mã nguồn]
AFC Challenge Cup Vòng loại
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB ST T H B BT BB
Bangladesh 2006 Á quân 2nd 6 4 1 2 7 2 Không có vòng loại
Ấn Độ 2008 Vòng bảng 7th 3 0 0 3 1 9 3 2 1 0 14 4
Sri Lanka 2010 Vòng bảng 5th 3 1 0 2 4 7 3 2 1 0 9 4
Nepal 2012 Không vượt qua vòng loại 3 0 1 2 0 5
Maldives 2014 3 1 0 2 5 5
Tổng 3/5 Á quân 12 5 1 7 12 18 12 5 3 4 28 18

Cúp bóng đá Đoàn kết AFC

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Thành tích Thứ hạng Trận Thắng Hòa Thua Bàn thắng Bàn thua
Malaysia 2016Vòng bảng6/7301225

Giải vô địch bóng đá Nam Á

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Kết quả Hạng ST T H B BT BB
Pakistan 1993 Á quân 2nd 3 1 1 1 4 2
Sri Lanka 1995 Vô địch 1st 3 2 1 0 5 3
Nepal 1997 Bán kết 4th 4 2 0 2 6 3
Ấn Độ 1999 Vòng bảng 5th 2 0 1 1 2 3
Bangladesh 2003 Vòng bảng 5th 3 1 1 1 3 3
Pakistan 2005 Vòng bảng 7th 3 0 0 3 1 5
Maldives Sri Lanka 2008 Bán kết 3rd 4 2 1 1 5 3
Bangladesh 2009 Bán kết 4th 4 2 0 2 9 7
Ấn Độ 2011 Vòng bảng 6th 3 1 0 2 4 6
Nepal 2013 Vòng bảng 7th 3 1 0 2 6 15
Ấn Độ 2015 Bán kết 4th 3 1 0 2 1 7
Bangladesh 2018 Vòng bảng 6th 2 0 1 1 0 2
Maldives 2021 Vòng bảng 5th 4 0 1 3 2 5
Tổng 13/13 1st 41 13 7 21 48 64

Đội hình

[sửa | sửa mã nguồn]

23 cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho trận giao hữu với Lào và trận đấu vòng loại Asian Cup 2027 gặp Thái Lan lần lượt vào ngày 20 và 25 tháng 3 năm 2025.[14]

Số lần ra sân và bàn thắng được cập nhật đến ngày 20 tháng 3 năm 2025, sau trận đấu với Lào.

Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
1 1TM Sujan Perera (captain) 18 tháng 7, 1992 (33 tuổi) 56 0 Bangladesh Fortis FC
20 1TM Mohamed Mursith 4 tháng 1, 2001 (25 tuổi) 0 0 Sri Lanka Blue Star
22 1TM Kaveesh Lakpriya Fernando 10 tháng 1, 1995 (31 tuổi) 1 0 Sri Lanka Blue Star

2 2HV Anujan Rajendram 11 tháng 5, 2000 (25 tuổi) 8 0 Na Uy Strindheim IL
3 2HV Harsha Fernando 21 tháng 11, 1992 (33 tuổi) 36 0 Sri Lanka Up Country Lions
4 2HV Chalana Chameera 1 tháng 10, 1993 (32 tuổi) 34 0 Sri Lanka Blue Star
15 2HV Claudio Kammerknecht 26 tháng 7, 1999 (26 tuổi) 6 1 Đức Dynamo Dresden
45 2HV Zahi Addis 11 tháng 9, 2003 (22 tuổi) 0 0 Úc Gold Coast United
36 2HV Steven Sacayaradjy 22 tháng 1, 1997 (29 tuổi) 6 0 Pháp Sud FC
18 2HV Barath Suresh 11 tháng 6, 2003 (22 tuổi) 13 0 Úc Langwarrin
19 2HV Jack Hingert 26 tháng 9, 1990 (35 tuổi) 8 1 Úc Brisbane Roar
23 2HV Jason Thayaparan 1 tháng 10, 1995 (30 tuổi) 7 0 Đức Eintracht Trier
20 2HV William Thomason 28 tháng 6, 2002 (23 tuổi) 1 0 Úc Altona Magic

8 3TV Aman Faizer 12 tháng 3, 1999 (27 tuổi) 19 0 Maldives Club Lagoons
18 3TV Dillon De Silva 18 tháng 4, 2002 (24 tuổi) 17 2 Anh Sutton United
10 3TV Sam Durrant 16 tháng 2, 2002 (24 tuổi) 8 0 Wales Connah's Quay Nomads
12 3TV Leon Perera 1 tháng 1, 1997 (29 tuổi) 12 0 Đức Lüneburger SK Hansa
21 3TV Adhavan Rajamohan 21 tháng 2, 1993 (33 tuổi) 13 1 Thụy Điển IFK Haninge
41 3TV Remiyan Muthuccumaru 9 tháng 4, 2007 (19 tuổi) 0 0 Hà Lan FC Emmen
24 3TV Mohamed Hasmeer 7 tháng 1, 1998 (28 tuổi) 5 0 Sri Lanka Navy Sea Hawks
3TV Garrett Kelly 14 tháng 4, 1996 (30 tuổi) 2 0 Anh Welling United

9 4 Oliver Kelaart 16 tháng 4, 1998 (28 tuổi) 12 2 Úc Hume City
11 4 Rifkhan Mohamed 25 tháng 10, 1999 (26 tuổi) 12 0 Sri Lanka Defenders
13 4 Mohammed Thilham 18 tháng 11, 2005 (20 tuổi) 2 0 Sri Lanka New Star SC
4 Ahmed Waseem Razeek 13 tháng 9, 1994 (31 tuổi) 22 9 Hồng Kông Eastern District
4 Wade Dekker 21 tháng 4, 1994 (32 tuổi) 8 1 Úc Dandenong Thunder
4 Rahul Suresh 4 tháng 6, 2004 (21 tuổi) 6 0 Úc Dandenong Thunder

Từng được triệu tập

[sửa | sửa mã nguồn]
Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Danushka Rajapaksha 17 tháng 5, 1993 (32 tuổi) 0 0 Sri Lanka New Youngs v.  Hàn Quốc; 9 June 2021

HV Duckson Puslas 4 tháng 4, 1990 (36 tuổi) 18 0 Maldives T.C. Sports v.  Seychelles, 19 November 2021
HV Sunil Roshan Appuhamy 6 tháng 7, 1993 (32 tuổi) 4 0 Sri Lanka Defenders 2021 SAFF Championship
HV Reef Peries 30 tháng 10, 2001 (24 tuổi) 0 0 Anh Woking FC v.  Hàn Quốc; 9 June 2021
HV Chikereuba Tochokwu Francis 24 tháng 4, 1993 (32 tuổi) 0 0 Sri Lanka Java Lane SC training camp, March 2022
HV Tiffan Anthonypillai 21 tháng 7, 2002 (23 tuổi) 0 0 Canada CS Saint-Laurent training camp, March 2022
HV Kaio Magno 13 tháng 8, 1999 (26 tuổi) 0 0 Brasil Vasco da Gama training camp, March 2022

TV Kavindu Ishan 17 tháng 10, 1992 (33 tuổi) 35 1 Sri Lanka Up Country Lions v.  Seychelles, 19 November 2021
TV Mohamed Rifnas 9 tháng 1, 1995 (31 tuổi) 14 2 Sri Lanka Renown v.  Seychelles, 19 November 2021
TV Ahmed Waseem Razeek 13 tháng 9, 1994 (31 tuổi) 13 9 Ấn Độ Gokulam Kerala v.  Seychelles, 19 November 2021
TV Marvin Hamilton 8 tháng 10, 1988 (37 tuổi) 10 2 Anh Sittingbourne v.  Seychelles, 19 November 2021
TV Daniel Magrath 0 0 Sri Lanka Blue Star v.  Seychelles, 19 November 2021
TV Edison Figurado 25 tháng 7, 1990 (35 tuổi) 10 1 Free agent 2021 SAFF Championship
TV Manimeldura Leon Perera 1 tháng 1, 1997 (29 tuổi) 0 0 Đức MTV Treubund Lüneburg training camp, March 2022
TV Kelly Garrett Christopher 13 tháng 4, 1996 (30 tuổi) 0 0 Hy Lạp Almyros Gaziou FC training camp, March 2022
TV Haneef Mohamed 23 tháng 8, 1993 (32 tuổi) 0 0 Thụy Sĩ FC Engstringen training camp, March 2022
TV Johar Mohamed Zarwan 23 tháng 4, 1996 (29 tuổi) 16 1 Sri Lanka Colombo FC v.  Hàn Quốc; 9 June 2021
TV Anthony Pereira Goan 0 0 Bồ Đào Nha Boavista F.C. training camp, March 2022

Mohamed Aakib 26 tháng 6, 2000 (25 tuổi) 18 3 Sri Lanka Colombo FC v.  Seychelles, 19 November 2021
Ahamed Shazny 15 tháng 1, 1993 (33 tuổi) 0 0 Sri Lanka Colombo FC v.  Seychelles, 19 November 2021
Rifkhan Mohamed 25 tháng 10, 1999 (26 tuổi) 2 0 Sri Lanka Defenders 2021 SAFF Championship
Mohamed Musthaq 16 tháng 12, 1998 (27 tuổi) 1 1 Sri Lanka Up Country Lions 2021 SAFF Championship
Supun Dananjaya 21 tháng 5, 1998 (27 tuổi) 0 0 Sri Lanka Red Star 2021 SAFF Championship
Nipuna Bandara 17 tháng 7, 1991 (34 tuổi) 20 2 Sri Lanka Air Force SC v.  Hàn Quốc; 9 June 2021
Mohammadu Fasal 30 tháng 4, 1990 (35 tuổi) 14 1 Sri Lanka Colombo FC v.  Hàn Quốc; 9 June 2021
Claudio Kammerknecht 7 tháng 7, 1999 (26 tuổi) 0 0 Đức SC Freiburg II training camp, March 2022
Poopathithasan Nilooshan 19 tháng 7, 2001 (24 tuổi) 0 0 Canada CS Saint-Laurent 2021 SAFF Championship
Canistan Regnize 0 0 Pháp FC Montceau training camp, March 2022
Nishan Velupillay 7 tháng 5, 2001 (24 tuổi) 0 0 Úc Melbourne Victory training camp, March 2022

INJ Rút lui vì chấn thương
PRE Đội hình sơ bộ
RET Đã chia tay đội tuyển quốc gia
SUS Vắng mặt ở trận tiếp theo
WD Rút lui vì lý do cá nhận
COVRút lui vì dương tính với COVID-19.

Thành tích đối đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 5 tháng 6 năm 2025.[15]

Đội tuyển ST T H B BT BB HS % thắng
 Afghanistan 8 1 1 6 6 17 −11 25.00
 Bahrain 2 0 0 2 0 4 −4 00.00
 Bangladesh 20 5 2 13 15 30 −15 25.00
 Bhutan 8 6 0 2 20 5 +15 75.00
 Brunei 5 3 0 2 7 3 +4 60.00
 Campuchia 5 2 1 2 4 12 −8 40.00
 Trung Quốc 2 0 0 2 2 4 −2 00.00
 Đông Đức 1 0 0 1 1 12 −11 00.00
 Guam 1 1 0 0 5 1 +4 100.00
 Hồng Kông 1 0 0 1 0 5 −5 00.00
 Ấn Độ 19 2 5 12 13 32 −19 11.11
 Indonesia 6 0 1 5 6 29 −23 33.33
 Iran 2 0 0 2 0 11 −11 00.00
 Nhật Bản 3 0 0 3 0 16 −16 00.00
 Jordan 1 0 0 1 1 2 −1 00.00
 Kyrgyzstan 1 0 0 1 1 4 −3 00.00
 Lào 8 3 2 3 13 11 +2 62.50
 Liban 5 1 0 4 6 18 −12 25.00
 Litva 2 0 1 1 0 2 −2 00.00
 Ma Cao 3 1 1 1 4 2 +2 66.66
 Malaysia 10 1 0 9 7 36 −29 10.00
 Maldives 20 2 9 9 16 38 −22 10.00
 Mông Cổ 2 1 0 1 3 2 +1 50.00
 Myanmar 9 2 1 6 10 20 −10 22.22
 CHDCND Triều Tiên 3 0 0 3 0 8 −8 00.00
 Nepal 17 6 7 4 25 19 +6 37.50
 Oman 3 0 1 2 1 14 −13 00.00
 Pakistan 19 8 4 7 31 25 +6 75.00
 Palestine 1 0 0 1 0 2 −2 00.00
 Philippines 4 1 1 2 5 9 −4 50.00
 Qatar 3 0 0 3 0 9 −9 00.00
 Ả Rập Xê Út 3 0 0 3 0 9 −9 00.00
 Singapore 5 1 0 4 6 15 −9 20.00
 Hàn Quốc 3 0 0 3 0 19 −19 00.00
 Seychelles 4 1 1 2 5 8 −3 25.00
 Sudan 1 0 0 1 0 1 −1 00.00
 Syria 3 0 0 3 0 17 −17 00.00
 Tajikistan 4 0 1 3 3 11 −8 00.00
 Thái Lan 8 0 0 8 2 23 −21 00.00
 Đông Timor 1 1 0 0 3 2 +1 100.00
 Turkmenistan 6 0 1 5 2 12 −10 00.00
 UAE 8 0 0 8 3 35 −32 00.00
 Uzbekistan 2 0 0 2 0 9 −9 00.00
 Việt Nam 4 0 3 1 6 7 −1 30.00
 Yemen 4 1 1 2 2 6 −4 40.00

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. László Földesi. "Kasun Nadika Jayasuriya Weerarathne – Goals in International Matches". RSSSF. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2018.
  2. "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 19 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
  3. Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
  4. "Sri Lanka's first international win at football". sundaytimes.lk. The Sundaytimes Sri Lanka. ngày 23 tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
  5. "Sri Lanka Sports News – Online edition of Daily News – Lakehouse Newspapers". dailynews.lk. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
  6. Morrison, Neil (1999). "Asian Quadrangular Tournament (Colombo Cup) 1952–1955: 1953 (Rangoon, Burma)". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2022.
  7. AFC (ngày 6 tháng 11 năm 2016). "Mongolian penalties down Sri Lanka". thepapare.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
  8. "Brave Sri Lanka B fall to Lithuania". ngày 11 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
  9. "World Cup qualifier in Sri Lanka canceled after Macau refuse to travel | SaltWire". Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
  10. "Sri Lanka welcomes FIFA ruling Macau out of WCup qualifying". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
  11. "Сборная Шри-Ланки по футболу назначила нового главного тренера". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2020.
  12. "Suspension of the Football Federation of Sri Lanka" (PDF). International Association Football Federation. ngày 22 tháng 1 năm 2023..
  13. "Sri Lanka Football ban : New update from FIFA". ngày 26 tháng 7 năm 2023.
  14. "The Football Federation of Sri Lanka (FFSL) has officially announced the squad for the upcoming international friendlies against Laos and Thailand in March". Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2025 qua Instagram.
  15. "Sri Lanka matches, ratings and points exchanged". eloratings.net. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]