Đội tuyển bóng đá quốc gia Sri Lanka
| Huy hiệu áo/huy hiệu Hiệp hội | ||||
| Biệt danh | රන් සිංහයා Golden Lion Sư tử vàng | |||
|---|---|---|---|---|
| Hiệp hội | Liên đoàn bóng đá Sri Lanka | |||
| Liên đoàn châu lục | AFC (Châu Á) | |||
| Liên đoàn khu vực | SAFF (Nam Á) | |||
| Huấn luyện viên trưởng | Amir Alagić | |||
| Thi đấu nhiều nhất | Ediri Bandanage Channa (62) | |||
| Ghi bàn nhiều nhất | Kasun Jayasuriya (27)[1] | |||
| Sân nhà | Sân vận động Sugathadasa Trường đua Colombo | |||
| Mã FIFA | SRI | |||
| ||||
| Hạng FIFA | ||||
| Hiện tại | 194 | |||
| Cao nhất | 122 (8.1998) | |||
| Thấp nhất | 206 (2.2020) | |||
| Hạng Elo | ||||
| Hiện tại | 223 | |||
| Cao nhất | 105 (23.3.1952) | |||
| Thấp nhất | 225 (9.2019) | |||
| Trận quốc tế đầu tiên | ||||
(Colombo, Ceylon; 1 tháng 1 năm 1952) | ||||
| Trận thắng đậm nhất | ||||
(Đài Bắc, Trung Hoa Đài Bắc; 4 tháng 4 năm 2008) (Dhaka, Bangladesh; 6 tháng 12 năm 2009) | ||||
| Trận thua đậm nhất | ||||
(Colombo, Ceylon; 12 tháng 1 năm 1964) | ||||
| Sồ lần tham dự | (Lần đầu vào năm -) | |||
| Kết quả tốt nhất | - | |||
| Sồ lần tham dự | (Lần đầu vào năm -) | |||
Đội tuyển bóng đá quốc gia Sri Lanka (tiếng Sinhala: ශ්රී ලංකා පාපන්දු කණ්ඩායම, tiếng Tamil: இலங்கை தேசிய கால்பந்து அணி) là đội tuyển đại diện cho Sri Lanka trong môn bóng đá và được Liên đoàn Bóng đá Sri Lanka (FSSL) quản lý, cơ quan điều hành bóng đá của quốc gia này. Họ trở thành thành viên của FIFA từ năm 1952 và là thành viên của AFC từ năm 1954. Sân nhà của đội tuyển Sri Lanka là Sân vận động Sugathadasa ở Colombo. Trước năm 1972, đội tuyển này được biết đến với tên gọi đội tuyển bóng đá quốc gia Ceylon, cho đến khi Ceylon chính thức đổi tên thành Sri Lanka.[4]
Là một thành viên của AFC, đội tuyển Sri Lanka vẫn chưa từng góp mặt tại vòng chung kết FIFA World Cup hay Asian Cup. Thành tích nổi bật nhất của họ là vô địch Nam Á vào năm 1995. Cũng giống như nhiều quốc gia khác ở tiểu lục địa, bóng đá chuyển nghiệp tại Sri Lanka phần nào bị lép vế bởi sự nổi tiếng của đội tuyển cricket quốc gia. Tuy nhiên, đội tuyển cũng từng lọt vào vòng loại thứ hai của World Cup 2006. Cũng trong năm đó, họ giành ngôi Á quân tại Giải Challenge Cup 2006. Ở vòng loại World Cup 2018, Sri Lanka để thua cả hai trận trước Bhutan và không thể vượt qua vòng loại. Tuy nhiên, đội tuyển quốc gia Sri Lanka đã lọt vào bán kết Giải vô địch SAFF 2015.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Thời kì đầu (1890–2014)
[sửa | sửa mã nguồn]
Bóng đá được người Anh du nhập vào Sri Lanka (khi đó là Ceylon) từ cuối thế kỷ 19. Vào những năm 1890, các binh sĩ Anh đã chơi bóng tại Galle Face – bãi cát ven biển ở Colombo – cũng như tại Echelon Barracks và sân quân đội (nay là khách sạn Taj Samudra). Các binh sĩ thuộc Không quân, Hải quân và nhiều lực lượng Hoàng gia khác đã khởi xướng bóng đá cạnh tranh tại Ceylon. Trò chơi nhanh chóng lan tỏa nhờ giới hành chính và cộng đồng trồng trọt người Anh, đến các vùng Trung, Nam và miền cao, và được giới trẻ địa phương đón nhận đầu thế kỷ 20.
Từ đó, nhiều câu lạc bộ bóng đá được thành lập, như St. Michael's SC, Havelock's FC, Java Lane SC, Wekande SC, Moors FC, CH & FC, rồi đến Harlequins FC và Saunders SC. Những giải đấu đầu tiên tranh cúp De Mel Shield và Times of Ceylon Cup. Ở miền Nam, bóng đá cũng phát triển mạnh nhờ những nhà trồng trà và binh sĩ hải quân Anh.[5] Năm 1952, Ceylon gia nhập FIFA, mở ra cơ hội thi đấu quốc tế. Trận đầu tiên diễn ra cùng năm trước Ấn Độ tại Giải Tứ giác châu Á. Một năm sau, ngày 24 tháng 10 năm 1953, Tom Ossen ghi bàn quốc tế đầu tiên cho Ceylon trong trận gặp Miến Điện, trận đấu kết thúc với thất bại 2–3.[6]

Sự hồi sinh của bóng đá Sri Lanka (2015–2019)
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 2015, Sri Lanka lần đầu tiên tham dự Cúp Bangabandhu do Liên đoàn Bóng đá Bangladesh tổ chức. Giải có sự góp mặt của các đội U-23 Thái Lan, Bahrain, Malaysia, Singapore cùng tuyển quốc gia Bangladesh và Sri Lanka. Sri Lanka nằm chung bảng với Malaysia và Bangladesh. Ở trận mở màn gặp Malaysia, đội thua 0–2; sau đó tiếp tục thất bại 0–1 trước chủ nhà Bangladesh. Họ không ghi được bàn nào tại giải. Tuy nhiên, sau sáu năm thi đấu mờ nhạt, Sri Lanka đã kịp góp mặt ở vòng bán kết Giải vô địch SAFF 2015. Dù vậy, phong độ sa sút lại tiếp diễn ở Cúp bóng đá đoàn kết châu Á 2016, khi họ bất ngờ thua Mông Cổ – đội tuyển xếp hạng thấp nhất châu Á – và bị loại ngay từ vòng bảng.[7]
Tháng 7 năm 2018, Sri Lanka có trận giao hữu lịch sử khi lần đầu chạm trán một đội tuyển châu Âu – Litva. Họ cầm hòa 0–0 trong trận đầu, nhưng để thua 0–2 ở trận lượt về.[8] Tại vòng loại World Cup 2022, Sri Lanka tiếp tục gây thất vọng khi thua 0–1 trước Ma Cao tại Châu Hải. Tuy nhiên, do Ma Cao từ chối sang Sri Lanka thi đấu sau vụ đánh bom Lễ Phục Sinh 2019,[9] FIFA xử thắng 3–0 cho Sri Lanka, giúp họ lần đầu tiên giành vé vào vòng loại thứ hai kể từ 2006.[10]
Kỷ nguyên Amir Alagić (2020–2022)
[sửa | sửa mã nguồn]Ở vòng loại thứ hai World Cup 2022, Sri Lanka rơi vào bảng đấu rất khó với Hàn Quốc, Triều Tiên, Liban và Turkmenistan – bốn đội đều dự Asian Cup 2019. Đúng như dự đoán, họ toàn thua và bị loại mà không ghi nổi bàn nào. Dù vậy, đầu năm 2020 Sri Lanka tiếp tục tham dự Cúp Bangabandhu, nhưng vẫn xếp cuối với hai thất bại và không bàn thắng. Tháng 2 năm 2020, Liên đoàn Bóng đá Sri Lanka bổ nhiệm HLV người Bosnia-Úc Amir Alagić.[11] Dưới sự dẫn dắt của ông, đội có màn trình diễn khởi sắc trước Liban, ghi được hai bàn đầu tiên trong lịch sử vòng loại World Cup, dù vẫn thua sát nút. Sau khi kết thúc chiến dịch, Alagić từ chức và được thay thế bởi HLV người Scotland Andy Morrison.
Án phát của FIFA và vòng loại World Cup 2026 (2023–2024)
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 22 tháng 1 năm 2023, FIFA ra quyết định đình chỉ Liên đoàn Bóng đá Sri Lanka do chính phủ can thiệp vào hoạt động bóng đá. Trong thời gian này, các CLB và đội tuyển đều không được dự giải quốc tế.[12] Sau khi vấn đề được giải quyết, án phạt được gỡ bỏ vào ngày 29 tháng 8 năm 2023, nhưng đi kèm điều kiện FFSL phải tổ chức bầu cử mới trước trận gặp Yemen.[13] Tháng 10 năm 2023, Sri Lanka gặp Yemen ở vòng loại đầu tiên World Cup 2026 và thua chung cuộc 1–4. Đến tháng 9 năm 2024, Sri Lanka chạm trán Campuchia tại vòng play-off Asian Cup 2027. Hai lượt trận hòa 2–2, buộc phải đá luân lưu sau khi Claudio Kammerknecht ghi bàn ở phút 120+2. Cuối cùng, Sri Lanka thắng trên chấm phạt đền và giành quyền vào vòng loại thứ ba.
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]- Á quân: 2006
Thành tích quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]Giải vô địch bóng đá thế giới
[sửa | sửa mã nguồn]| Vòng chung kết | Vòng loại | ||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | Hạng | ST | T | H | B | BT | BB | ST | T | H | B | BT | BB | |
| Một phần của |
Một phần của | ||||||||||||||
| Không phải thành viên FIFA | Không phải thành viên FIFA | ||||||||||||||
| Không tham dự | Không tham dự | ||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 8 | 0 | 0 | 8 | 0 | 26 | |||||||||
| 3 | 1 | 1 | 1 | 4 | 4 | ||||||||||
| 6 | 1 | 1 | 4 | 8 | 20 | ||||||||||
| 8 | 1 | 3 | 4 | 7 | 11 | ||||||||||
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 6 | ||||||||||
| 2 | 0 | 1 | 1 | 1 | 5 | ||||||||||
| 2 | 0 | 0 | 2 | 1 | 3 | ||||||||||
| 8 | 1 | 0 | 7 | 5 | 24 | ||||||||||
| 2 | 0 | 1 | 1 | 1 | 4 | ||||||||||
| Chưa xác định | Chưa xác định | ||||||||||||||
| Tổng | 0/9 | — | 41 | 4 | 7 | 30 | 27 | 103 | |||||||
Cúp bóng đá châu Á
[sửa | sửa mã nguồn]| Vòng chung kết | Vòng loại | |||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | Hạng | ST | T | H | B | BT | BB | ST | T | H | B | BT | BB | ||
| Rút lui | Rút lui | |||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 3 | 0 | 0 | 3 | 1 | 10 | ||||||||||
| Rút lui | Rút lui | |||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 4 | 1 | 0 | 3 | 5 | 12 | ||||||||||
| 4 | 1 | 1 | 2 | 6 | 11 | |||||||||||
| Không tham dự | Không tham dự | |||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 6 | 2 | 0 | 4 | 5 | 25 | ||||||||||
| 4 | 0 | 0 | 4 | 2 | 18 | |||||||||||
| 8 | 2 | 0 | 6 | 6 | 26 | |||||||||||
| Không tham dự | Không tham dự | |||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | AFC Challenge Cup | |||||||||||||||
| 2 | 0 | 0 | 2 | 1 | 3 | |||||||||||
| 11 | 1 | 0 | 10 | 5 | 30 | |||||||||||
| Tổng | 0/19 | — | 42 | 7 | 1 | 34 | 31 | 136 | ||||||||
Cúp Challenge AFC
[sửa | sửa mã nguồn]| AFC Challenge Cup | Vòng loại | ||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | Hạng | ST | T | H | B | BT | BB | ST | T | H | B | BT | BB | |
| Á quân | 2nd | 6 | 4 | 1 | 2 | 7 | 2 | Không có vòng loại | |||||||
| Vòng bảng | 7th | 3 | 0 | 0 | 3 | 1 | 9 | 3 | 2 | 1 | 0 | 14 | 4 | ||
| Vòng bảng | 5th | 3 | 1 | 0 | 2 | 4 | 7 | 3 | 2 | 1 | 0 | 9 | 4 | ||
| Không vượt qua vòng loại | 3 | 0 | 1 | 2 | 0 | 5 | |||||||||
| 3 | 1 | 0 | 2 | 5 | 5 | ||||||||||
| Tổng | 3/5 | Á quân | 12 | 5 | 1 | 7 | 12 | 18 | 12 | 5 | 3 | 4 | 28 | 18 | |
Cúp bóng đá Đoàn kết AFC
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Thành tích | Thứ hạng | Trận | Thắng | Hòa | Thua | Bàn thắng | Bàn thua |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Vòng bảng | 6/7 | 3 | 0 | 1 | 2 | 2 | 5 | |
Giải vô địch bóng đá Nam Á
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Kết quả | Hạng | ST | T | H | B | BT | BB |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Á quân | 2nd | 3 | 1 | 1 | 1 | 4 | 2 | |
| Vô địch | 1st | 3 | 2 | 1 | 0 | 5 | 3 | |
| Bán kết | 4th | 4 | 2 | 0 | 2 | 6 | 3 | |
| Vòng bảng | 5th | 2 | 0 | 1 | 1 | 2 | 3 | |
| Vòng bảng | 5th | 3 | 1 | 1 | 1 | 3 | 3 | |
| Vòng bảng | 7th | 3 | 0 | 0 | 3 | 1 | 5 | |
| Bán kết | 3rd | 4 | 2 | 1 | 1 | 5 | 3 | |
| Bán kết | 4th | 4 | 2 | 0 | 2 | 9 | 7 | |
| Vòng bảng | 6th | 3 | 1 | 0 | 2 | 4 | 6 | |
| Vòng bảng | 7th | 3 | 1 | 0 | 2 | 6 | 15 | |
| Bán kết | 4th | 3 | 1 | 0 | 2 | 1 | 7 | |
| Vòng bảng | 6th | 2 | 0 | 1 | 1 | 0 | 2 | |
| Vòng bảng | 5th | 4 | 0 | 1 | 3 | 2 | 5 | |
| Tổng | 13/13 | 1st | 41 | 13 | 7 | 21 | 48 | 64 |
Đội hình
[sửa | sửa mã nguồn]23 cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho trận giao hữu với Lào và trận đấu vòng loại Asian Cup 2027 gặp Thái Lan lần lượt vào ngày 20 và 25 tháng 3 năm 2025.[14]
Số lần ra sân và bàn thắng được cập nhật đến ngày 20 tháng 3 năm 2025, sau trận đấu với Lào.
| Số | VT | Cầu thủ | Ngày sinh (tuổi) | Trận | Bàn | Câu lạc bộ |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | TM | Sujan Perera (captain) | 18 tháng 7, 1992 | 56 | 0 | |
| 20 | TM | Mohamed Mursith | 4 tháng 1, 2001 | 0 | 0 | |
| 22 | TM | Kaveesh Lakpriya Fernando | 10 tháng 1, 1995 | 1 | 0 | |
| 2 | HV | Anujan Rajendram | 11 tháng 5, 2000 | 8 | 0 | |
| 3 | HV | Harsha Fernando | 21 tháng 11, 1992 | 36 | 0 | |
| 4 | HV | Chalana Chameera | 1 tháng 10, 1993 | 34 | 0 | |
| 15 | HV | Claudio Kammerknecht | 26 tháng 7, 1999 | 6 | 1 | |
| 45 | HV | Zahi Addis | 11 tháng 9, 2003 | 0 | 0 | |
| 36 | HV | Steven Sacayaradjy | 22 tháng 1, 1997 | 6 | 0 | |
| 18 | HV | Barath Suresh | 11 tháng 6, 2003 | 13 | 0 | |
| 19 | HV | Jack Hingert | 26 tháng 9, 1990 | 8 | 1 | |
| 23 | HV | Jason Thayaparan | 1 tháng 10, 1995 | 7 | 0 | |
| 20 | HV | William Thomason | 28 tháng 6, 2002 | 1 | 0 | |
| 8 | TV | Aman Faizer | 12 tháng 3, 1999 | 19 | 0 | |
| 18 | TV | Dillon De Silva | 18 tháng 4, 2002 | 17 | 2 | |
| 10 | TV | Sam Durrant | 16 tháng 2, 2002 | 8 | 0 | |
| 12 | TV | Leon Perera | 1 tháng 1, 1997 | 12 | 0 | |
| 21 | TV | Adhavan Rajamohan | 21 tháng 2, 1993 | 13 | 1 | |
| 41 | TV | Remiyan Muthuccumaru | 9 tháng 4, 2007 | 0 | 0 | |
| 24 | TV | Mohamed Hasmeer | 7 tháng 1, 1998 | 5 | 0 | |
| TV | Garrett Kelly | 14 tháng 4, 1996 | 2 | 0 | ||
| 9 | TĐ | Oliver Kelaart | 16 tháng 4, 1998 | 12 | 2 | |
| 11 | TĐ | Rifkhan Mohamed | 25 tháng 10, 1999 | 12 | 0 | |
| 13 | TĐ | Mohammed Thilham | 18 tháng 11, 2005 | 2 | 0 | |
| TĐ | Ahmed Waseem Razeek | 13 tháng 9, 1994 | 22 | 9 | ||
| TĐ | Wade Dekker | 21 tháng 4, 1994 | 8 | 1 | ||
| TĐ | Rahul Suresh | 4 tháng 6, 2004 | 6 | 0 | ||
Từng được triệu tập
[sửa | sửa mã nguồn]| Vt | Cầu thủ | Ngày sinh (tuổi) | Số trận | Bt | Câu lạc bộ | Lần cuối triệu tập |
|---|---|---|---|---|---|---|
| TM | Danushka Rajapaksha | 17 tháng 5, 1993 | 0 | 0 | v. | |
| HV | Duckson Puslas | 4 tháng 4, 1990 | 18 | 0 | v. | |
| HV | Sunil Roshan Appuhamy | 6 tháng 7, 1993 | 4 | 0 | 2021 SAFF Championship | |
| HV | Reef Peries | 30 tháng 10, 2001 | 0 | 0 | v. | |
| HV | Chikereuba Tochokwu Francis | 24 tháng 4, 1993 | 0 | 0 | training camp, March 2022 | |
| HV | Tiffan Anthonypillai | 21 tháng 7, 2002 | 0 | 0 | training camp, March 2022 | |
| HV | Kaio Magno | 13 tháng 8, 1999 | 0 | 0 | training camp, March 2022 | |
| TV | Kavindu Ishan | 17 tháng 10, 1992 | 35 | 1 | v. | |
| TV | Mohamed Rifnas | 9 tháng 1, 1995 | 14 | 2 | v. | |
| TV | Ahmed Waseem Razeek | 13 tháng 9, 1994 | 13 | 9 | v. | |
| TV | Marvin Hamilton | 8 tháng 10, 1988 | 10 | 2 | v. | |
| TV | Daniel Magrath | 0 | 0 | v. | ||
| TV | Edison Figurado | 25 tháng 7, 1990 | 10 | 1 | Free agent | 2021 SAFF Championship |
| TV | Manimeldura Leon Perera | 1 tháng 1, 1997 | 0 | 0 | training camp, March 2022 | |
| TV | Kelly Garrett Christopher | 13 tháng 4, 1996 | 0 | 0 | training camp, March 2022 | |
| TV | Haneef Mohamed | 23 tháng 8, 1993 | 0 | 0 | training camp, March 2022 | |
| TV | Johar Mohamed Zarwan | 23 tháng 4, 1996 | 16 | 1 | v. | |
| TV | Anthony Pereira Goan | 0 | 0 | training camp, March 2022 | ||
| TĐ | Mohamed Aakib | 26 tháng 6, 2000 | 18 | 3 | v. | |
| TĐ | Ahamed Shazny | 15 tháng 1, 1993 | 0 | 0 | v. | |
| TĐ | Rifkhan Mohamed | 25 tháng 10, 1999 | 2 | 0 | 2021 SAFF Championship | |
| TĐ | Mohamed Musthaq | 16 tháng 12, 1998 | 1 | 1 | 2021 SAFF Championship | |
| TĐ | Supun Dananjaya | 21 tháng 5, 1998 | 0 | 0 | 2021 SAFF Championship | |
| TĐ | Nipuna Bandara | 17 tháng 7, 1991 | 20 | 2 | v. | |
| TĐ | Mohammadu Fasal | 30 tháng 4, 1990 | 14 | 1 | v. | |
| TĐ | Claudio Kammerknecht | 7 tháng 7, 1999 | 0 | 0 | training camp, March 2022 | |
| TĐ | Poopathithasan Nilooshan | 19 tháng 7, 2001 | 0 | 0 | 2021 SAFF Championship | |
| TĐ | Canistan Regnize | 0 | 0 | training camp, March 2022 | ||
| TĐ | Nishan Velupillay | 7 tháng 5, 2001 | 0 | 0 | training camp, March 2022 | |
INJ Rút lui vì chấn thương | ||||||
Thành tích đối đầu
[sửa | sửa mã nguồn]Tính đến 5 tháng 6 năm 2025.[15]
| Đội tuyển | ST | T | H | B | BT | BB | HS | % thắng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 8 | 1 | 1 | 6 | 6 | 17 | −11 | 25.00 | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 4 | −4 | 00.00 | |
| 20 | 5 | 2 | 13 | 15 | 30 | −15 | 25.00 | |
| 8 | 6 | 0 | 2 | 20 | 5 | +15 | 75.00 | |
| 5 | 3 | 0 | 2 | 7 | 3 | +4 | 60.00 | |
| 5 | 2 | 1 | 2 | 4 | 12 | −8 | 40.00 | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 2 | 4 | −2 | 00.00 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 1 | 12 | −11 | 00.00 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 5 | 1 | +4 | 100.00 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 5 | −5 | 00.00 | |
| 19 | 2 | 5 | 12 | 13 | 32 | −19 | 11.11 | |
| 6 | 0 | 1 | 5 | 6 | 29 | −23 | 33.33 | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 11 | −11 | 00.00 | |
| 3 | 0 | 0 | 3 | 0 | 16 | −16 | 00.00 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 1 | 2 | −1 | 00.00 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 1 | 4 | −3 | 00.00 | |
| 8 | 3 | 2 | 3 | 13 | 11 | +2 | 62.50 | |
| 5 | 1 | 0 | 4 | 6 | 18 | −12 | 25.00 | |
| 2 | 0 | 1 | 1 | 0 | 2 | −2 | 00.00 | |
| 3 | 1 | 1 | 1 | 4 | 2 | +2 | 66.66 | |
| 10 | 1 | 0 | 9 | 7 | 36 | −29 | 10.00 | |
| 20 | 2 | 9 | 9 | 16 | 38 | −22 | 10.00 | |
| 2 | 1 | 0 | 1 | 3 | 2 | +1 | 50.00 | |
| 9 | 2 | 1 | 6 | 10 | 20 | −10 | 22.22 | |
| 3 | 0 | 0 | 3 | 0 | 8 | −8 | 00.00 | |
| 17 | 6 | 7 | 4 | 25 | 19 | +6 | 37.50 | |
| 3 | 0 | 1 | 2 | 1 | 14 | −13 | 00.00 | |
| 19 | 8 | 4 | 7 | 31 | 25 | +6 | 75.00 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 2 | −2 | 00.00 | |
| 4 | 1 | 1 | 2 | 5 | 9 | −4 | 50.00 | |
| 3 | 0 | 0 | 3 | 0 | 9 | −9 | 00.00 | |
| 3 | 0 | 0 | 3 | 0 | 9 | −9 | 00.00 | |
| 5 | 1 | 0 | 4 | 6 | 15 | −9 | 20.00 | |
| 3 | 0 | 0 | 3 | 0 | 19 | −19 | 00.00 | |
| 4 | 1 | 1 | 2 | 5 | 8 | −3 | 25.00 | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 1 | −1 | 00.00 | |
| 3 | 0 | 0 | 3 | 0 | 17 | −17 | 00.00 | |
| 4 | 0 | 1 | 3 | 3 | 11 | −8 | 00.00 | |
| 8 | 0 | 0 | 8 | 2 | 23 | −21 | 00.00 | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 3 | 2 | +1 | 100.00 | |
| 6 | 0 | 1 | 5 | 2 | 12 | −10 | 00.00 | |
| 8 | 0 | 0 | 8 | 3 | 35 | −32 | 00.00 | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 9 | −9 | 00.00 | |
| 4 | 0 | 3 | 1 | 6 | 7 | −1 | 30.00 | |
| 4 | 1 | 1 | 2 | 2 | 6 | −4 | 40.00 | |
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ László Földesi. "Kasun Nadika Jayasuriya Weerarathne – Goals in International Matches". RSSSF. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2018.
- ↑ "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 19 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "Sri Lanka's first international win at football". sundaytimes.lk. The Sundaytimes Sri Lanka. ngày 23 tháng 6 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
- ↑ "Sri Lanka Sports News – Online edition of Daily News – Lakehouse Newspapers". dailynews.lk. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
- ↑ Morrison, Neil (1999). "Asian Quadrangular Tournament (Colombo Cup) 1952–1955: 1953 (Rangoon, Burma)". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2022.
- ↑ AFC (ngày 6 tháng 11 năm 2016). "Mongolian penalties down Sri Lanka". thepapare.com. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
- ↑ "Brave Sri Lanka B fall to Lithuania". ngày 11 tháng 7 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "World Cup qualifier in Sri Lanka canceled after Macau refuse to travel | SaltWire". Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "Sri Lanka welcomes FIFA ruling Macau out of WCup qualifying". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
- ↑ "Сборная Шри-Ланки по футболу назначила нового главного тренера". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2020.
- ↑ "Suspension of the Football Federation of Sri Lanka" (PDF). International Association Football Federation. ngày 22 tháng 1 năm 2023..
- ↑ "Sri Lanka Football ban : New update from FIFA". ngày 26 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "The Football Federation of Sri Lanka (FFSL) has officially announced the squad for the upcoming international friendlies against Laos and Thailand in March". Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2025 – qua Instagram.
- ↑ "Sri Lanka matches, ratings and points exchanged". eloratings.net. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2017.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Đội tuyển bóng đá quốc gia Sri Lanka Lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2013 tại Wayback Machine trên trang chủ của FIFA